Vai trò của hiến pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia
TCCS - Hiến pháp là văn bản chính trị - pháp lý giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, mỗi bản hiến pháp đều có đặc điểm và bối cảnh ra đời riêng. Mặc dù có sự khác biệt nhất định, song lịch sử lập hiến đã chứng minh, hiến pháp là văn bản chính trị - pháp lý có ý nghĩa, giá trị và vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền móng, thiết lập mô hình, nguyên tắc vận hành và nâng cao hiệu quả hoạt động của nền quản trị quốc gia.
Những vấn đề cơ bản về vai trò của hiến pháp đối với việc xây dựng nền quản trị quốc gia
Thiết lập thể chế và nền quản trị dân chủ
Với vai trò là một văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng, hiến pháp là “tuyên ngôn về dân chủ của một quốc gia độc lập”(1), thước đo trình độ văn minh, sự tiến bộ của nhà nước và xã hội. Từ Hiến pháp Mỹ năm 1787 - bản hiến pháp đầu tiên trên thế giới - cho đến Hiến pháp của Cộng hòa Kazakhstan năm 2026, lịch sử lập hiến cho thấy, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của hiến pháp là thiết lập cơ sở chính trị - pháp lý, xác lập hình thức, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Những vấn đề trọng đại nhất của một quốc gia như: bản chất dân chủ của nhà nước, hình thức chính thể, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền và nghĩa vụ công dân,… đều được thể hiện tập trung ở hiến pháp. Hiến pháp ghi nhận các quyền dân chủ của nhân dân như: quyền bầu cử, ứng cử, tham gia công việc nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước, bỏ phiếu trưng cầu ý dân...
Cùng với việc thiết lập thể chế chính trị - pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, hiến pháp là cơ sở pháp lý để xây dựng, thiếp lập nền quản trị quốc gia. Các yếu tố cấu thành nền quản trị quốc gia như: mô hình tổ chức, nguyên tắc vận hành, chủ thể tham gia,… được quy định trong Hiến pháp. Không chỉ là nền tảng chính trị - pháp lý cho tổ chức và hoạt động của nhà nước, hiến pháp còn đóng vai trò thiết lập mô hình, nguyên tắc hoạt động của nền quản trị quốc gia.
Thiết lập nguyên tắc pháp quyền
Với vị trí đặc biệt trong hệ thống pháp luật, hiến pháp là cơ sở pháp lý để khẳng định tính chính danh của quyền lực nhà nước. Cùng với việc thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi trên cơ sở những nguyên tắc hiến định, hiến pháp còn là cơ sở pháp lý tối cao cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân chủ, minh bạch, thống nhất, khả thi... Nhà nước, mọi pháp nhân công quyền, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều có nghĩa vụ tôn trọng, tuân thủ hiến pháp và pháp luật. Ở một số quốc gia, pháp quyền là nguyên tắc hiến định. Điều 2 Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan quy định: “Cộng hòa Ba Lan là một nhà nước dân chủ pháp quyền”(2). Đối với một số quốc gia, nguyên tắc pháp quyền không được thể hiện một cách minh thị trong hiến pháp, song nó được thể hiện thông qua những quy định có tính nguyên tắc, như: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước; độc lập tư pháp; bảo vệ quyền con người, quyền công dân...
Pháp quyền là nền tảng tinh thần và nguyên tắc hoạt động của nhà nước dân chủ, đồng thời là nguyên tắc hoạt động của nền quản trị quốc gia. Nhà nước, cũng như tất cả các chủ thể trong xã hội đều có nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc này. Thông qua quy định về phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm sự độc lập của cơ quan tư pháp, vị trí tối cao của hiến pháp trong hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân..., hiến pháp đã thiết lập một cơ chế bảo vệ hiến pháp, bảo đảm việc tuân thủ nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của nhà nước, cũng như nền quản trị quốc gia.
Thiết lập thể chế quản trị liêm chính, minh bạch
Kiểm soát quyền lực, phòng, chống sự lạm dụng quyền lực nhà nước là nhiệm vụ quan trọng nhất của các thể chế dân chủ. Bằng việc phân quyền, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ sự độc lập của cơ quan tư pháp…, hiến pháp thiết lập cơ chế bảo đảm sự liêm chính, minh bạch cho bộ máy nhà nước và nền quản trị quốc gia. Tuy nhiên, mô hình, cơ chế pháp lý bảo đảm sự liêm chính, minh bạch giữa các quốc gia có sự khác nhau. Do sự khác biệt về quan điểm, học thuyết chính trị - pháp lý nên phương thức, mô hình kiểm soát quyền lực nhà nước của các nước xã hội chủ nghĩa có sự khác biệt nhất định so với các nước tư bản chủ nghĩa. Song, tựu trung lại, hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong việc thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm sự liêm chính, minh bạch cho hoạt động của nhà nước và nền quản trị quốc gia.
Cùng với cơ chế kiểm soát bên trong, hoạt động của bộ máy nhà nước còn chịu sự kiểm soát từ các chủ thể ở bên ngoài xã hội. Thông qua việc bầu cử, nhân dân lựa chọn những người đại diện có đủ năng lực, phẩm chất tham gia quốc hội - cơ quan lập pháp và thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo hiến pháp. Ở các quốc gia theo hình thức chính thể cộng hòa tổng thống như: Argentina, Mỹ, Hàn Quốc, Indonesia..., cử tri còn có quyền bẩu cử tổng thống - người đứng đầu cơ quan hành pháp. Kiểm soát quyền lực nhà nước còn được thực hiện từ bên ngoài, thông qua việc bảo đảm thực hiện các quyền hiến định của công dân như: khiếu nại, tố cáo, tự do ngôn luận, đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật... Điều 45 Hiến pháp Đức quy định: Ủy ban Dân nguyện của Hạ viện Đức có trách nhiệm thụ lý yêu cầu và khiếu nại do người dân gửi đến...
Thiết lập cơ chế quản trị mở
Không dừng lại ở việc thiết lập mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, các bản hiến pháp hiện đại còn là cơ sở pháp lý cho việc thiết lập mô hình quản trị quốc gia, bảo đảm nguyên tắc nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Với việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hiến pháp tạo lập cơ sở pháp lý để các chủ thể phi nhà nước tham gia, phối hợp với nhà nước, thực hiện một số công việc thuộc chức năng chính yếu của nhà nước, như: hoạch định đường lối phát triển đất nước, giám sát quyền lực nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, tham gia giải quyết những vấn đề xã hội... Như vậy, quản trị quốc gia không còn là hoạt động đơn tuyến mang tính chất quyền lực nhà nước mà là quá trình tương tác giữa nhà nước, thị trường và xã hội.
Các quyền công dân, như: hội họp, lập hội được ghi nhận trong hiến pháp là cơ sở pháp lý để công dân tiến hành thủ tục đăng ký hoặc xin phép thành lập hội. Quyền sở hữu tài sản, tư liệu sản xuất, tự do kinh doanh,… là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh tư nhân thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh. Tổ chức xã hội và doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân có trách nhiệm tự quản trị và hoạt động theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hiến pháp không chỉ xác lập mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và các chủ thể phi nhà nước, mà còn thiết lập một cấu trúc quản trị quốc gia đa trung tâm, trong đó quyền lực và trách nhiệm được phân bổ, tương tác, kiểm soát lẫn nhau giữa nhà nước và các chủ thể phi nhà nước.
Nhìn lại gần 240 năm lịch sử lập hiến, có thể thấy, hiến pháp không tồn tại theo một khuôn mẫu chung, thống nhất. Bên cạnh những giá trị phổ quát, mỗi bản hiến pháp đều có tính lịch sử, phản ảnh những đặc điểm về kinh tế, chính trị và xã hội; thể hiện quyền dân tộc tự quyết và những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia. Vì vậy, hiến pháp của một quốc gia có thể có những nguyên tắc riêng mang tính đặc thù, chi phối hoạt động của nhà nước và xã hội; định hướng xu thế vận động và phát triển của đất nước, cũng như nền quản trị quốc gia.
Vai trò của Hiến pháp Việt Nam trong việc thiết lập mô hình, nguyên tắc vận hành nền quản trị quốc gia
Thiết lập thể chế quản trị dân chủ
Hiến pháp là văn kiện chính trị - pháp lý giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng nước Việt Nam dân chủ, văn minh và hiện đại. Điều 1 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa”. Với người đứng đầu Nhà nước do nhân dân bỏ phiếu bầu ra, cộng hòa là hình thức chính thể được đánh giá là dân chủ, tiến bộ, văn minh và hiện đại nhất. Để giữ vững nền dân chủ được Hiến pháp năm 1946 thiết lập, các bản hiến pháp được ban hành sau đó đều quy định rõ bản chất dân chủ của Nhà nước. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. Với vị trí là văn kiện chính trị - pháp lý tối cao, Hiến pháp không chỉ là cơ sở pháp lý để xây dựng một nhà nước dân chủ mà còn là nền móng để xây dựng, hoàn thiện nền quản trị quốc gia văn minh, hiện đại.
Thiết lập nền quản trị quốc gia tôn trọng, tuân thủ pháp quyền
Nước Việt Nam là nhà nước dân chủ, pháp quyền, hoạt động theo nguyên tắc tôn trọng, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Điều 4 Hiến pháp năm 1946 quy định công dân có nghĩa vụ: “Tôn trọng Hiến pháp; tuân theo pháp luật”. Trong khoa học pháp lý, nguyên tắc pháp quyền có thể được thể hiện thông qua những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và sau đó là Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013, như: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát; tòa án độc lập trong xét xử; hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, minh bạch, khả thi; quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ...
Hiến định về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Hiến pháp năm 2013 đã đặt nền móng cho việc “xây dựng và hoàn thiện các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước”(3). Cơ chế kiểm soát này có trách nhiệm bảo vệ giá trị tối cao của Hiến pháp, nguyên tắc pháp quyền, cũng như bảo đảm việc tôn trọng, thực hiện các quyền dân chủ của công dân trong nền quản trị quốc gia như: bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước và xã hội... Cùng với cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ, việc kiểm soát quyền lực nhà nước còn được thực hiện bởi “những tổ chức và cá nhân không phải là Nhà nước tiến hành kiểm soát quyền lực nhà nước”(4).
Như vậy, hiến định của Hiến pháp năm 2013 về bản chất pháp quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nguyên tắc pháp lý tối cao cho hoạt động của bộ máy nhà nước, cũng như nền quản trị quốc gia.
Hiến định nguyên tắc Đảng lãnh đạo nền quản trị quốc gia
Khác với thể chế chính trị phương Tây, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản là lực lượng giữ vai trò lãnh đạo đối với tất cả các chủ thể trong nền quản trị quốc gia. Ở Trung Quốc, vai trò này được thể hiện trong mô hình quản trị xã hội: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước phụ trách, xã hội hiệp đồng, quần chúng tham gia, luật pháp bảo đảm”(5). Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiến định: Đảng Cộng sản Trung Quốc là lực lượng lãnh đạo nền quản trị quốc gia(6).
Xuất phát từ vai trò và sứ mệnh lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, Hiến pháp năm 2013 quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Từ quy định mang tính nguyên tắc này, mở rộng ra, trong nền quản trị quốc gia, Đảng là chủ thể giữ vị trí, vai trò quan trọng nhất. Vì vậy, Đảng lãnh đạo đồng thời là nguyên tắc cơ bản của nền quản trị quốc gia.
Với vai trò là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, có trọng trách đưa ra định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước, đồng thời cũng là chủ thể thực hiện chức năng hoạch định đường lối, chính sách trong quản trị quốc gia. Đây là hai chức năng, nhiệm vụ song trùng, được thực hiện bởi cùng một chủ thể”(7). Như vậy, theo lý thuyết quản trị học, Đảng là chủ thể thực hiện chức năng hoạch định đường lối, mục tiêu của nền quản trị quốc gia.
Trong thực tiễn, tất cả các chủ trương, quyết sách của Đảng đưa ra đều được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nền quản trị quốc gia được thể hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, trong đó có việc mở rộng đối tượng tham gia, đóng góp ý kiến, dân chủ hóa quy trình xây dựng văn kiện, nghị quyết. Trong quá trình xây dựng, soạn thảo những văn kiện, nghị quyết về vấn đề hoạch định đường hướng, mục tiêu phát triển đất nước, Đảng xây dựng kế hoạch, xác định thời gian, tổ chức tiếp nhận, tham khảo và tiếp thu cầu thị ý kiến góp ý của các cá nhân, tổ chức. Đại hội XIV của Đảng vừa qua, theo phương thức này, nhân dân đã đóng góp “hơn 2,5 triệu ý kiến góp ý”(8) vào dự thảo các văn kiện Đại hội.
Hiến định, bảo đảm quyền quản trị quốc gia của công dân
Hiến định, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ trọng tâm của Hiến pháp Việt Nam. Với việc không ngừng cập nhật, bổ sung quy phạm pháp luật, chế định quyền công dân trong Hiến pháp từng bước có sự phát triển và hoàn thiện. Đây là minh chứng thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước và chế độ. Hiến pháp, pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội...
Hiến pháp năm 2013 là một văn bản pháp lý đầy đủ, hoàn thiện về vấn đề bảo vệ, bảo đảm quyền công dân. Theo đó, công dân Việt Nam có các quyền, như: bầu cử, ứng cử, tự do báo chí, lập hội, sở hữu, tự do kinh doanh, tham gia quản lý nhà nước và xã hội, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân... Dân chủ được thực hiện theo hình thức dân chủ trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện, như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội... Cơ sở chính trị và chức năng đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được hiến định tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013.
Như vậy, với vai trò là văn kiện chính trị - pháp lý có giá trị tối cao, Hiếp pháp Việt Nam đã thiết lập nền móng cho việc xây dựng một mô hình quản trị quốc gia vừa văn minh, hiện đại, vừa có tính đặc thù. Theo đó, có thể khái quát mô hình quản trị quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do nhân dân làm chủ”. Mô hình này có sự tương đồng với mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị của nước ta: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Chủ nghĩa xã hội là định hướng, mục tiêu phát triển của nền quản trị quốc gia.
Một số hạn chế, bất cập và giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật quản trị quốc gia
Hạn chế, bất cập
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật, song quá trình đổi mới, hoàn thiện nền quản trị quốc gia theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và chủ trương Đại hội XIII của Đảng còn một số hạn chế, bất cập nhất định.
Một là, Hiến pháp năm 2013 hiến định các nguyên tắc cơ bản, thiết lập tiền đề, cơ sở pháp lý cho việc xây dựng mô hình quản trị quốc gia vừa có tính hiện đại, vừa có tính đặc thù. Tuy nhiên, quản trị quốc gia là vấn đề còn mới ở Việt Nam, nên vấn đề này chưa được tiếp cận một cách có hệ thống, trực diện dưới góc độ khoa học pháp lý và quản trị học. Những vấn đề cơ bản nhất của nền quản trị quốc gia, như: mô hình, chủ thể, nguyên tắc vận hành, mục tiêu, định hướng phát triển,... chưa trở thành vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu, làm rõ, phục vụ hoạt động chức năng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đặc biệt là công tác lập pháp.
Hai là, theo Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”. Đảng có vai trò và sứ mệnh lịch sử: lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, Đảng lãnh đạo trở thành nguyên tắc tối thượng cho hoạt động của hệ thống chính trị, Nhà nước, xã hội và nền quản trị quốc gia. Vì vậy, Đảng và nhân dân có mối quan hệ mật thiết, máu thịt. Tuy nhiên, trong nền quản trị quốc gia, mối quan hệ đó chưa được thể chế hóa đầy đủ bằng luật pháp với những quy định pháp lý cụ thể.
Ba là, kiểm soát quyền lực nhà nước, xây dựng một nền quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước hiện nay. Tuy nhiên, “cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các quyền chưa hình thành đầy đủ theo đúng quy định của Hiến pháp năm 2013”(9), đồng thời cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài còn thiếu chặt chẽ, chưa phát huy hết sức mạnh, hiệu quả khiến việc triển khai thực hiện quyền giám sát hoạt động nhà nước của nhân dân bị hạn chế đáng kể, gây trở ngại đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng nền quản trị quốc gia liêm chính, bảo đảm sự trong sạch của bộ máy nhà nước.
Bốn là, Hiến pháp năm 2013 đã hiến định những vấn đề quan trọng nhất của nền quản trị quốc gia. Tuy nhiên, vai trò, giá trị và ý nghĩa của hoạt động quản trị quốc gia chưa được các cơ quan nhà nước nhận thức sâu sắc, đầy đủ. Những vấn đề lý thuyết và pháp lý về quản trị quốc gia chưa được tiếp cận một cách khoa học, có tính hệ thống, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật thời kỳ đổi mới. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản trị quốc gia chưa trở thành nhiệm vụ cấp thiết theo chủ trương đổi mới nền quản trị quốc gia, mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.
Năm là, Hiến pháp năm 2013 đã hiến định, bảo vệ các quyền cơ bản, quan trọng nhất của công dân, tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc để công dân có thể tham gia thực hiện công việc của Nhà nước với tư cách là một chủ thể của nền quản trị quốc gia. Tuy nhiên, ở một số nơi, trong một số lĩnh vực “chưa phát huy đầy đủ quyền làm chủ của người dân”(10), việc bảo vệ quyền công dân vẫn còn biểu hiện mang tính hình thức, cũng như chưa trở thành nhiệm vụ ưu tiên của các cơ quan hữu quan. Mặt khác, quy định pháp luật về vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân chưa hoàn thiện, đầy đủ theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.
Một số giải pháp cơ bản
Thứ nhất, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, minh bạch… Trên cơ sở mô hình, nguyên tắc quản trị quốc gia được Hiến pháp năm 1946 thiết lập và được hoàn thiện theo Hiến pháp năm 2013, cần nhận diện các yếu tố chủ quan và khách quan gây trở ngại đến quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của nền quản trị quốc gia.
Thứ hai, xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo hiến, bảo đảm hiệu lực pháp lý của nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước, xã hội và nền quản trị quốc gia theo quy định của Hiến pháp năm 2013; hoàn thiện thể chế quản trị quốc gia, xây dựng, thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể quản trị quốc gia, đặc biệt là xây dựng, thiết lập mối quan hệ giữa Đảng - chủ thể giữ vai trò lãnh đạo nền quản trị quốc gia - với các chủ thể Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân, tổ chức xã hội và các khu vực kinh tế…; thể chế hóa, bảo đảm mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội đều được điều chỉnh bằng pháp luật.
Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, dân chủ, minh bạch, thống nhất, ổn định, khả thi; cụ thể hóa tinh thần, nội dung các nguyên tắc được Hiến pháp năm 2013 hiến định, như: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Đảng lãnh đạo; pháp quyền; tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm sự phù hợp giữa quy định của pháp luật với những đặc điểm, yêu cầu của nền quản trị quốc gia hiện đại, như: đồng thuận xã hội, trách nhiệm giải trình, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả...
Thứ tư, xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống sự lạm dụng, tha hóa của quyền lực nhà nước; “ngăn chặn và loại trừ các hành vi sử dụng quyền lực đi ngược lại lợi ích của nhân dân”(11); hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng đối với Nhà nước, duy trì, bảo đảm và phát huy bản chất dân chủ của Nhà nước; đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, bảo đảm sự liêm chính, minh bạch của bộ máy nhà nước; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động, tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.
Thứ năm, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người; bảo đảm tính thứ bậc, trật tự cấu trúc hệ thống pháp luật và giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp; sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật công và tư, hoàn thiện cơ chế, thủ tục, quy trình, bảo đảm sự tham gia đầy đủ, thực chất của công dân vào hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện thiết chế bảo hiến, bảo đảm việc thực hiện các quyền công dân như: bầu cử, ứng cử, tự do kinh doanh, khiếu nại, tố cáo, tiếp cận thông tin, lập hội, tham gia quản lý nhà nước và xã hội,... được Hiến pháp năm 2013 hiến định và bảo vệ./.
------------------------
(1) Nguyễn Hữu Khiển: Mấy suy nghĩ và góp ý về việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 26-6-2013, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-sua-oi-hien-phap-nam-1992/-/2018/22201/may-suy-nghi-va-gop-y-ve-viec-sua-doi-hien-phap-nam-1992.aspx
(2) Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao: Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2012, tr. 442
(3) Trần Ngọc Đường: Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong bộ máy nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề số 10-2024, tr. 24
(4) Trần Ngọc Đường: Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong bộ máy nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tlđd, tr. 24
(5) Hoàng Huệ Anh, Phùng Thị Huệ: Trung Quốc hoàn thiện mô hình quản trị xã hội trong thời kỳ cải cách mở cửa, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 6-6-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/929802/trung-quoc-hoan-thien-mo-hinh-quan-tri-xa-hoi-trong-thoi-ky-cai-cach-mo-cua.aspx
(6) Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao: Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, Sđd, tr. 77
(7) Xem: Nguyễn Văn Thôi: Những vấn đề cơ bản về đổi mới quản trị quốc gia ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 15-12-2021, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/824506/nhung-van-de-co-ban-ve-doi-moi-quan-tri-quoc-gia-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx
(8) TC: Hơn 2,5 triệu ý kiến góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Báo điện tử Chính phủ, ngày 8-11-2025, https://baochinhphu.vn/hon-25-trieu-y-kien-gop-y-vao-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-102251108111434119.htm
(9) Trần Ngọc Đường: Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong bộ máy nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tlđd, tr. 28
(10) Nguyễn Văn Cương: Kiểm soát quyền lực nhà nước - nhìn từ phương diện xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề số 10-2024, tr. 71
(11) Nguyễn Văn Cương: Kiểm soát quyền lực nhà nước - nhìn từ phương diện xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Tlđd, tr. 64
Thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả để đất nước vươn mình bước vào kỷ nguyên mới  (02/03/2025)
Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc  (05/12/2024)
Hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của chính quyền đô thị, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam  (25/11/2024)
- Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan: Chung tầm nhìn, sẻ chia thịnh vượng vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững
- Vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp công nghệ trong mô hình phát triển mới của đất nước
- Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia - Yếu tố then chốt trong đổi mới mô hình phát triển đất nước hiện nay
- Chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Góc nhìn từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công trên thế giới
- Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp: Bước phát triển mới, triển vọng và một số vấn đề đặt ra
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm