Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan: Chung tầm nhìn, sẻ chia thịnh vượng vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững
TCCS - Năm 2026 đánh dấu mốc 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan (1976 - 2026), mở ra chặng đường phát triển mới trong quan hệ giữa hai quốc gia láng giềng quan trọng ở Đông Nam Á. Trên nền tảng hữu nghị được vun đắp qua nhiều thế hệ, đặc biệt sau khi hai nước nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2025, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đang bước vào giai đoạn phát triển sâu sắc, thực chất và toàn diện hơn, phản ánh sự hội tụ ngày càng rõ nét về lợi ích chiến lược giữa hai nước trong bối cảnh khu vực đang định hình.
Từ nền tảng hữu nghị truyền thống đến đối tác chiến lược toàn diện
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan được hình thành trên nền tảng gần gũi về địa lý, tương đồng văn hóa và sự gắn bó lâu đời giữa nhân dân hai nước. Trải qua nhiều biến động lịch sử của khu vực Đông Nam Á, nhân dân hai nước duy trì kết nối tự nhiên về kinh tế, văn hóa và giao lưu nhân dân, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển quan hệ song phương.
Một dấu ấn lịch sử có ý nghĩa đặc biệt trong quan hệ giữa hai nước là thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng tại Thái Lan trong giai đoạn 1928 - 1929. Trong gần hai năm sinh sống và hoạt động tại nhiều địa phương của Thái Lan, Người đã xây dựng cơ sở cách mạng, vận động tinh thần yêu nước trong cộng đồng người Việt và góp phần đặt những nền móng đầu tiên cho tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Tư tưởng đối ngoại hòa hiếu, “thêm bạn bớt thù”, đề cao hợp tác và tôn trọng lẫn nhau của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được kế thừa trong đường lối đối ngoại của Việt Nam hiện nay, đồng thời trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan.
Sau khi Việt Nam giành độc lập, Thái Lan đã có những hỗ trợ nhất định đối với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc thành lập Văn phòng đại diện Chính phủ Việt Nam tại Thủ đô Bangkok năm 1946 không chỉ mang ý nghĩa đối ngoại, mà còn góp phần tăng cường sự gắn kết giữa cộng đồng người Việt tại Thái Lan với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.
Ngày 6-8-1976, Việt Nam và Thái Lan chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra chương mới trong lịch sử quan hệ song phương. Tuy nhiên, do tác động của tình hình khu vực, quan hệ hai nước từng trải qua giai đoạn khó khăn trong thập niên 80 của thế kỷ XX. Dù vậy, với tinh thần đối thoại và mong muốn xây dựng môi trường hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á, hai nước từng bước vượt qua khác biệt để thúc đẩy bình thường hóa và mở rộng hợp tác từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX.
Bước ngoặt quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan diễn ra sau khi Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995. Việc cùng tham gia “mái nhà chung” ASEAN tạo điều kiện để hai nước tăng cường lòng tin chính trị, mở rộng hợp tác kinh tế và phối hợp chặt chẽ hơn trong các vấn đề khu vực. Từ quan hệ láng giềng hữu nghị, Việt Nam và Thái Lan từng bước trở thành đối tác quan trọng hàng đầu của nhau trong ASEAN.
Những năm gần đây, quan hệ hai nước phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược năm 2013 đánh dấu bước phát triển quan trọng về tin cậy chính trị và hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt, việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2025 phản ánh bước phát triển mới về tư duy chiến lược và mức độ gắn kết ngày càng sâu sắc trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều biến chuyển nhanh chóng.
Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 34-NQ/TW, ngày 9-1-2023, của Bộ Chính trị, “Về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII” tiếp tục khẳng định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Trong tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam, ASEAN giữ vị trí chiến lược, gắn với yêu cầu duy trì môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của đất nước. Việt Nam nhất quán coi trọng và mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á, trong đó Thái Lan là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu, có vai trò quan trọng đối với liên kết và đoàn kết nội khối ASEAN.
Chuyến thăm chính thức Vương quốc Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 27 đến ngày 29-5-2026 có ý nghĩa chính trị và đối ngoại đặc biệt quan trọng. Đây là chuyến thăm nước ASEAN đầu tiên của lãnh đạo chủ chốt Việt Nam sau Đại hội XIV của Đảng (tháng 1-2026) và cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI (tháng 3-2026), thể hiện sự coi trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với Thái Lan cũng như vai trò trung tâm của ASEAN trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước đang phát triển thuận lợi sau khi được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện, chuyến thăm cũng là dịp để lãnh đạo hai nước trao đổi các định hướng lớn nhằm thúc đẩy hợp tác trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kết nối chuỗi cung ứng và giao lưu nhân dân.
Việc lãnh đạo hai nước dự kiến thông qua Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan giai đoạn 2026 - 2031 có ý nghĩa định hướng quan trọng, tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác song phương đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới. Điều này cũng cho thấy quyết tâm chính trị của lãnh đạo hai nước trong việc tiếp tục củng cố lòng tin chiến lược, mở rộng hợp tác thực chất và phối hợp chặt chẽ hơn trong những vấn đề khu vực và quốc tế.
Có thể khẳng định, sau nửa thế kỷ đồng hành và phát triển, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã vượt ra ngoài khuôn khổ quan hệ song phương thông thường để trở thành một trong những mô hình hợp tác năng động và hiệu quả hàng đầu trong ASEAN. Đây không chỉ là kết quả của quá trình củng cố lòng tin chính trị bền bỉ, mà còn phản ánh sự hội tụ ngày càng sâu sắc về lợi ích chiến lược giữa hai quốc gia.
Gia tăng gắn kết và đan xen lợi ích
Trên nền tảng tin cậy chính trị ngày càng được củng cố, quan hệ Việt Nam - Thái Lan thời gian qua tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, quốc phòng - an ninh đến kinh tế, khoa học - công nghệ và giao lưu nhân dân…
Về chính trị - đối ngoại, trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao giữa hai nước được duy trì thường xuyên thông qua nhiều kênh khác nhau, góp phần củng cố tin cậy chính trị và tạo động lực thúc đẩy hợp tác song phương. Các cơ chế hợp tác hiện có tiếp tục phát huy hiệu quả, như họp Nội các chung, Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương, cơ chế tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao và các cơ chế đối thoại chiến lược khác.
Hai nước duy trì phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt trong khuôn khổ ASEAN, Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác tiểu vùng sông Mekong. Việt Nam và Thái Lan đều khẳng định tầm quan trọng của việc củng cố đoàn kết nội khối ASEAN, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực, đồng thời thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và thượng tôn pháp luật quốc tế.
Hai bên cũng chia sẻ nhiều quan điểm tương đồng về các vấn đề khu vực và quốc tế, nhất là việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Hợp tác quốc phòng - an ninh giữa hai nước được tăng cường thông qua các cơ chế đối thoại, trao đổi đoàn và phối hợp trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Hai bên duy trì hiệu quả các cơ chế song phương như Đối thoại cấp cao về phòng, chống tội phạm và hợp tác an ninh, Đối thoại chính sách quốc phòng; phối hợp phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, đào tạo, hợp tác không quân, hải quân; duy trì tuần tra chung trên biển…
Hợp tác giữa lực lượng hải quân, không quân và cảnh sát biển hai nước được thúc đẩy, đặc biệt thông qua hoạt động tuần tra chung trên biển, trao đổi thông tin và phối hợp xử lý các vấn đề an ninh hàng hải. Điều này không chỉ góp phần tăng cường lòng tin chiến lược, mà còn nâng cao khả năng phối hợp ứng phó với các thách thức an ninh đang nổi lên trong khu vực.
Trong lĩnh vực kinh tế, hiện nay, Thái Lan là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 22,1 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2024; trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 8,8 tỷ USD, tăng 12,7%, nhập khẩu đạt 13,3 tỷ USD, tăng 6,7%. Tính riêng 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 8,6 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó xuất khẩu đạt 3,76 tỷ USD, tăng 39%, nhập khẩu đạt gần 4,84 tỷ USD, tăng 15%(1).
Các mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn của Việt Nam bao gồm điện thoại, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và phụ tùng; sản phẩm hóa chất; sắt thép, dầu thô, hàng dệt may, rau quả, thủy sản… Trong khi đó, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Thái Lan gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; ô tô nguyên chiếc; hàng điện gia dụng và linh kiện; máy móc, thiết bị và phụ tùng; linh kiện, phụ tùng ô tô; chất dẻo nguyên liệu, kim loại và hóa chất.
Về đầu tư, Thái Lan hiện có 797 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký đạt 15,4 tỷ USD, đứng thứ 8/153 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và đứng thứ hai trong ASEAN sau Singapore. Nhà đầu tư Thái Lan đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất, điện gió, hóa dầu, kinh doanh bất động sản, bán buôn và bán lẻ. Trong khi đó, Việt Nam có hơn 20 dự án FDI còn hiệu lực tại Thái Lan với tổng số vốn đăng ký khoảng 40 triệu USD(2). Nhiều tập đoàn lớn của Thái Lan như CP Group, SCG và Central Retail đã mở rộng đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, bán lẻ, hóa dầu, năng lượng và logistics. Các dự án đầu tư của Thái Lan không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, mà còn hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất và khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực của Việt Nam.
Một điểm đáng chú ý trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan là sự chuyển dịch từ hợp tác mang tính bổ trợ sang hợp tác cùng kiến tạo không gian phát triển chung. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, xu hướng cấu trúc lại chuỗi cung ứng diễn ra mạnh mẽ và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, cả Việt Nam và Thái Lan đều nhận thức rõ yêu cầu phải nâng cao tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Điều này tạo ra nhu cầu khách quan về việc thúc đẩy liên kết kinh tế sâu rộng hơn giữa hai nước.
Chiến lược “Ba kết nối” bao gồm kết nối chuỗi cung ứng, kết nối doanh nghiệp và địa phương hai nước, kết nối các chiến lược tăng trưởng bền vững, đang trở thành động lực mới thúc đẩy liên kết kinh tế song phương theo hướng thực chất, bền vững hơn. Việc tăng cường kết nối sẽ góp phần hình thành các chuỗi giá trị khu vực có năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu cao hơn.
Hợp tác khoa học - công nghệ giữa Việt Nam và Thái Lan đang được thúc đẩy theo hướng gắn với đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Hai nước thiết lập quan hệ hợp tác khoa học - công nghệ từ năm 1997 và duy trì cơ chế họp định kỳ cấp bộ trưởng nhằm thúc đẩy triển khai các chương trình nghiên cứu chung, trao đổi chuyên gia và đào tạo nguồn nhân lực. Những lĩnh vực hợp tác như công nghệ sinh học, công nghệ nano, vật liệu mới, công nghệ sau thu hoạch và đổi mới sáng tạo đang mở ra nhiều dư địa liên kết mới giữa hai nước.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trở thành xu thế phát triển chủ đạo, hợp tác khoa học - công nghệ không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi nền kinh tế, mà còn tạo thêm động lực cho liên kết và phát triển của ASEAN. Đồng thời, yêu cầu đẩy nhanh chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế số, thương mại điện tử, đổi mới sáng tạo và phát triển hạ tầng số, qua đó góp phần thúc đẩy tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN số trong tương lai.
Bên cạnh hợp tác kinh tế, giao lưu nhân dân tiếp tục là “điểm sáng” trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan. Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam và người gốc Việt Nam tại Thái Lan có hơn 100.000 người, sống tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc Thái Lan(3). Trải qua nhiều thế hệ, cộng đồng cộng đồng người Việt Nam và người gốc Việt Nam tại Thái Lan không chỉ hòa nhập sâu rộng vào xã hội Thái Lan, mà còn tích cực gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy giao lưu văn hóa, thương mại và du lịch giữa hai nước.
Các địa danh như Vietnam Town, khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan hay nhiều công trình văn hóa gắn với cộng đồng người Việt Nam đã trở thành biểu tượng sinh động cho tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan. Trong những năm gần đây, số lượng khách du lịch, sinh viên và các chương trình giao lưu văn hóa giữa hai nước không ngừng gia tăng, góp phần củng cố hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nước.
Hợp tác du lịch phát triển tích cực. Năm 2024, có hơn 984.000 lượt khách du lịch Việt Nam thăm Thái Lan và hơn 418.000 lượt khách du lịch Thái Lan đến Việt Nam. Năm 2025, có hơn 660.300 lượt khách du lịch Việt Nam thăm Thái Lan và gần 458.000 lượt khách Thái Lan đến Việt Nam(4). Thái Lan đang thúc đẩy sáng kiến hợp tác du lịch “Sáu quốc gia, Một điểm đến”. Hiện nay, có khoảng 20 tỉnh, thành phố của Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác và kết nghĩa với các địa phương Thái Lan.
Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, Chính phủ Thái Lan hỗ trợ nhiều trường đại học của Việt Nam giảng dạy tiếng Thái, bao gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Đà Nẵng. Thái Lan cũng cung cấp nhiều học bổng ngắn hạn và dài hạn nhằm đào tạo tiếng Thái cho sinh viên và giảng viên Việt Nam tại Thái Lan. Số lượng lưu học sinh và sinh viên Việt Nam đang học tập, nghiên cứu tại Thái Lan dao động khoảng 2.000 - 3.000 người(5).
Triển vọng phát triển thời gian tới
Mặc dù quan hệ Việt Nam - Thái Lan đang phát triển tích cực, song trên thực tế vẫn còn không ít khó khăn.
Một là, quy mô hợp tác kinh tế, đầu tư và khoa học - công nghệ giữa hai nước gia tăng nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của hai nền kinh tế lớn trong ASEAN. Liên kết giữa doanh nghiệp hai nước ở một số lĩnh vực còn thiếu chiều sâu; kết nối hạ tầng, logistics và chuỗi cung ứng khu vực chưa thật sự đồng bộ. Trong khi đó, các yêu cầu mới của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững đặt ra sức ép ngày càng lớn đối với khả năng thích ứng của cả hai nền kinh tế.
Hai là, bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động phức tạp, xu hướng bảo hộ thương mại, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, phân mảnh kinh tế và đứt gãy chuỗi cung ứng tiếp tục tạo ra những rủi ro không nhỏ đối với hợp tác khu vực cũng như quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan.
Ba là, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh mạng, dịch bệnh và tội phạm xuyên quốc gia ngày càng tác động sâu rộng đến khu vực Đông Nam Á, đòi hỏi hai nước phải tăng cường phối hợp chặt chẽ và dài hạn hơn.
Bốn là, hợp tác trong các lĩnh vực mới như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuyển đổi năng lượng tuy có nhiều tiềm năng nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường khả năng kết nối giữa các cơ quan, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu của hai nước.
Bên cạnh những thách thức, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển mới.
Thứ nhất, việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện đã tạo ra khuôn khổ chính trị mới với mức độ tin cậy và gắn kết cao hơn, mở ra điều kiện thuận lợi để hai nước thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn trong giai đoạn tới.
Thứ hai, trong bối cảnh ASEAN tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực đang định hình, Việt Nam và Thái Lan có nhiều điều kiện để tăng cường phối hợp nhằm thúc đẩy liên kết nội khối, củng cố đoàn kết ASEAN và nâng cao năng lực thích ứng của khu vực trước các biến động của môi trường quốc tế.
Thứ ba, tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế tiếp tục là nền tảng quan trọng để mở rộng hợp tác cùng có lợi. Việt Nam có thị trường năng động, nhu cầu phát triển lớn và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực; trong khi Thái Lan có thế mạnh về công nghiệp chế biến, logistics, khoa học - công nghệ và phát triển các mô hình kinh tế xanh. Sự bổ trợ đó mở ra dư địa lớn cho hợp tác trong các lĩnh vực chuỗi cung ứng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn.
Thứ tư, Chiến lược “Ba kết nối” giữa hai nước đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy liên kết kinh tế song phương theo hướng thực chất và bền vững hơn. Việc tăng cường kết nối chuỗi cung ứng, kết nối doanh nghiệp và địa phương, cũng như kết nối các chiến lược phát triển bền vững sẽ góp phần hình thành các chuỗi giá trị khu vực có năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu cao hơn.
Thứ năm, những thách thức chung như biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, an ninh nguồn nước, kinh tế số và an ninh chuỗi cung ứng không chỉ đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ hơn, mà còn có thể trở thành động lực mới thúc đẩy hợp tác giữa hai nước theo hướng thực chất và hiệu quả hơn.
Để phát huy hiệu quả khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan, cần chú trọng một số định hướng chủ yếu sau:
Tiếp tục củng cố nền tảng tin cậy chính trị thông qua duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc cấp cao và phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có; đồng thời tăng cường phối hợp tại các diễn đàn khu vực và quốc tế nhằm phát huy vai trò trung tâm của ASEAN, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và thượng tôn pháp luật quốc tế.
Thúc đẩy hợp tác kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững hơn; ưu tiên các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và tăng trưởng xanh. Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, việc tăng cường kết nối giữa hai nền kinh tế sẽ góp phần nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu và năng lực cạnh tranh của cả Việt Nam và Thái Lan.
Tăng cường hợp tác trong quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tiểu vùng sông Mekong. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và sinh kế của hàng triệu người dân trong khu vực.
Tiếp tục coi hợp tác giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những hướng đột phá quan trọng nhằm tạo nền tảng lâu dài cho phát triển quan hệ song phương trong giai đoạn mới.
Đẩy mạnh giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân và hợp tác địa phương là một trong những hướng hợp tác có ý nghĩa lâu dài đối với quan hệ Việt Nam - Thái Lan. Việc tăng cường kết nối giữa các địa phương, mở rộng hợp tác giáo dục, du lịch, văn hóa và giao lưu thế hệ trẻ không chỉ góp phần củng cố hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, mà còn tạo nền tảng xã hội bền vững cho quan hệ song phương trước những biến động của tình hình khu vực và thế giới.
Tựu trung, những thành tựu đạt được trong 50 năm qua tạo nền tảng vững chắc để quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Thái Lan ngày càng phát triển tốt đẹp, trở thành một trong những mô hình hợp tác năng động và thực chất của ASEAN. Với sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, với nhu cầu hợp tác để cùng phát triển của hai quốc gia cũng như với tiềm năng phát triển của hai nước, quan hệ Việt Nam - Thái Lan sẽ có nhiều động lực mới để tiếp tục phát triển lên tầm cao mới, góp phần củng cố đoàn kết ASEAN, tăng cường năng lực tự cường khu vực và thúc đẩy hòa bình, ổn định, phát triển bền vững ở Đông Nam Á./.
-------------------------
(1), (2), (3), (4), (5) Xem: Tài liệu thông tin cơ bản về Vương quốc Thái Lan; Tình hình và quan hệ Việt Nam - Thái Lan”, Bộ Ngoại giao, tháng 5-2026
Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp: Bước phát triển mới, triển vọng và một số vấn đề đặt ra  (21/05/2026)
Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Australia: Hợp tác bền chặt, định hình tương lai  (04/04/2026)
Thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng đến phát triển bền vững ở Việt Nam  (02/04/2026)
Kinh nghiệm của Bhutan trong thực hiện mục tiêu hạnh phúc và một số gợi mở đối với Việt Nam  (01/03/2026)
Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc - Nga trên lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh mới  (23/02/2026)
Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc tại Hoa Kỳ  (20/02/2026)
- Hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam hiện nay
- Phát huy truyền thống hào hùng của phụ lão ái quốc
- Lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam: Phát huy truyền thống anh hùng trong kỷ nguyên mới
- "Sức mạnh mềm" văn hóa trong quan hệ Việt Nam - Philippines: Từ tương đồng giá trị đến tin cậy chiến lược
- Quan hệ Việt Nam - Philippines: Từ nền tảng đối tác chiến lược đến không gian hợp tác mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm