Về tính khoa học công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

TS Đới Văn Tặng
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
17:06, ngày 02-04-2026

TCCS - Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là một lĩnh vực hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và thực hiện cơ chế tự kiểm soát quyền lực trong điều kiện Đảng cầm quyền. Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng cao, việc tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát của Đảng dưới góc độ khoa học (từ việc làm rõ sự cần thiết, nội dung, đặc thù, giới hạn và vấn đề đặt ra; đối tượng, phạm vi, phương pháp… đến định hướng xây dựng và phát triển môn khoa học này) trở nên quan trọng và cần thiết về lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay.

Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ngày 5-3-2026_Ảnh: Tư liệu

Nội dung tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát của Đảng dưới góc độ khoa học

Thực tế đến nay, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng chủ yếu vẫn được tiếp cận như một lĩnh vực hoạt động thực tiễn, một khâu nghiệp vụ trong công tác xây dựng Đảng, gắn với hệ thống các quy định, quy trình và tổ chức bộ máy cụ thể. Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ, nhưng cũng bộc lộ những giới hạn khi phải đối diện với những vấn đề đòi hỏi cao đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Xây dựng nền tảng lý luận mang tính hệ thống và khoa học làm cho công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phát huy đầy đủ vai trò, chức năng, nhiệm vụ; phát triển bền vững và góp phần hoàn thiện về lý luận công tác xây dựng Đảng.

Tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát của Đảng dưới góc độ khoa học có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn: Về lý luận, cách tiếp cận này góp phần chuẩn hóa học thuật; xây dựng hệ thống khái niệm và phương pháp nghiên cứu có tính thống nhất; tạo nền tảng tri thức cho việc xây dựng cơ chế, chính sách một cách chủ động và khoa học, tăng khả năng dự báo, phòng ngừa và xử lý vi phạm kỷ luật đảng; tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển một lĩnh vực khoa học chuyên ngành trong hệ thống các khoa học xây dựng Đảng. Về thực tiễn, cách tiếp cận này giúp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, giám sát; hạn chế tính chủ quan, cảm tính; tăng cường khả năng dự báo, phòng ngừa và định hướng cho công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; là cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong giai đoạn mới.

Trong thực tiễn nghiên cứu ở nước ta, công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói riêng thường được tiếp cận theo 2 hướng chủ yếu là tiếp cận thực tiễn - nghiệp vụ và tiếp cận chính trị - tổ chức. Các hướng tiếp cận này đều có giá trị thiết thực trong việc phục vụ trực tiếp cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Đảng. Lý luận và kết quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã và đang hội tụ những tiêu chí cơ bản để trở thành một khoa học:

Một là, về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là các tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng và pháp luật của Nhà nước; là ủy ban kiểm tra các cấp và cán bộ làm công tác kiểm tra của Đảng; các quan hệ kiểm soát quyền lực chính trị trong nội bộ Đảng cầm quyền.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng không chỉ là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra theo Điều lệ Đảng quy định, mà có đối tượng nghiên cứu cụ thể, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương của Đảng cầm quyền, cơ chế phòng ngừa - phát hiện - xử lý vi phạm quyền lực, quan hệ giữa lãnh đạo - kiểm soát - trách nhiệm - kỷ luật, tác động của kiểm tra, giám sát tới năng lực lãnh đạo của Đảng, niềm tin chính trị và hiệu quả lãnh đạo, quản trị quốc gia. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng hướng tới việc nhận diện, theo dõi, đánh giá và điều chỉnh các hành vi chính trị - tổ chức của tổ chức đảng và đảng viên trong quá trình thực thi quyền lực. Ở góc độ này, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có đối tượng nghiên cứu đặc thù, không trùng lặp với các khoa học chính trị khác.

Hai là, về hệ thống khái niệm và phạm trù: Thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã và đang hình thành một hệ thống khái niệm và phạm trù có tính đặc thù. Có thể thấy các khái niệm như kiểm tra; giám sát; kỷ luật đảng; giải quyết tố cáo, khiếu nại; kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên; kiểm soát quyền lực; phòng ngừa vi phạm, phát hiện dấu hiệu vi phạm, xử lý vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên… Các khái niệm này đã được sử dụng trong các văn bản quy định của Đảng. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra các cấp, và trong tổng kết công tác xây dựng Đảng các khái niệm trong thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng ngày càng rõ và hoàn thiện hơn, được vận dụng như những phạm trù lý luận trong nghiên cứu và giảng dạy. Quá trình chuẩn hóa và phát triển hệ thống khái niệm, phạm trù về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chính là biểu hiện quan trọng của sự hình thành tri thức khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Ba là, về phương pháp nghiên cứu: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp đặc thù của khoa học chính trị và khoa học xây dựng Đảng, bao gồm phương pháp phân tích chính trị, phương pháp tổ chức - cán bộ, phương pháp pháp lý, phương pháp tổng kết thực tiễn và khái quát lý luận. Sự kết hợp các phương pháp trên không mang tính ngẫu nhiên, mà phản ánh đúng tính chất đa chiều, phức hợp của đối tượng nghiên cứu, qua đó khẳng định khả năng tồn tại của một hệ phương pháp nghiên cứu tương đối ổn định cho khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Bốn là, về khả năng tích lũy và phát triển tri thức: Thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cho thấy lĩnh vực này đã hình thành qua một quá trình tích lũy tri thức tương đối rõ nét. Thông qua việc ban hành, bổ sung và hoàn thiện các quy định, quy trình, kết luận kiểm tra, cũng như tổng kết các vụ việc, điển hình và kinh nghiệm thực tiễn, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ngày càng tạo ra nền tảng dữ liệu phong phú cho nghiên cứu với tính cách một môn khoa học. Trong những năm gần đây, quá trình tổng kết thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao hàm lượng tri thức lý luận, từng bước hình thành nền tảng cho một khoa học chuyên ngành. Đặc biệt, khả năng tích lũy và phát triển tri thức ở nội dung kiểm soát quyền lực trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số, mối quan hệ giữa kiểm tra của Đảng và kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước ở nước ta.

Năm là, về quan hệ với các môn khoa học khác: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều khoa học khác như chính trị học, luật học, khoa học tổ chức - cán bộ và đạo đức học chính trị... Tuy nhiên, mối quan hệ này không làm mất đi tính độc lập tương đối của lĩnh vực nghiên cứu, mà cho thấy tính liên ngành và chiều sâu khoa học của nó. Việc tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với tính cách một khoa học cho phép xác lập rõ ranh giới tương đối giữa lĩnh vực này với các khoa học liên quan, đồng thời khai thác hiệu quả các thành tựu của các khoa học khác để làm phong phú thêm nội dung và phương pháp nghiên cứu của khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Đặc thù, giới hạn trong tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Về đặc thù: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng mang những đặc thù cơ bản, chi phối trực tiếp đến cách thức tiếp cận và nghiên cứu lĩnh vực này như một khoa học. Đây là lĩnh vực gắn chặt với quyền lực chính trị của Đảng cầm quyền. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng mang tính nguyên tắc cao. Hệ thống quy định, quy trình, thẩm quyền trong công tác kiểm tra, giám sát được xác lập chặt chẽ và có tính bắt buộc thi hành. Điều này tạo điều kiện cho việc chuẩn hóa hoạt động thực tiễn, nhưng đồng thời cũng đặt ra những giới hạn nhất định cho nghiên cứu khoa học, bởi không phải mọi vấn đề đều có thể được tiếp cận, phân tích và công bố một cách rộng rãi như trong các lĩnh vực khoa học thuần túy.

Đối tượng nghiên cứu của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có tính nhạy cảm chính trị cao, liên quan trực tiếp đến tổ chức, cán bộ, đảng viên và uy tín của Đảng. Đặc thù này đòi hỏi nghiên cứu khoa học phải bảo đảm sự thận trọng, chặt chẽ về phương pháp và chuẩn mực về lập luận, tránh xu hướng giản đơn hóa hoặc cực đoan hóa vấn đề nghiên cứu.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự lễ khai giảng lớp đào tạo trình độ đại học chương trình công tác kiểm tra của Đảng_Ảnh: hcma.vn

Về giới hạn: Việc tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với tính cách một khoa học hiện nay vẫn còn tồn tại những giới hạn hay hạn chế nhất định: Hệ thống lý thuyết chưa hoàn chỉnh - mặc dù đã hình thành một số khái niệm và cách tiếp cận tương đối ổn định, song tri thức về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở nước ta đến nay vẫn chủ yếu mang tính mô tả, tổng kết kinh nghiệm, chưa được khái quát thành các mô hình lý thuyết có tính giải thích và dự báo cao. Ranh giới giữa nghiên cứu khoa học và hướng dẫn nghiệp vụ chưa được phân định rõ - trong nhiều công trình nghiên cứu, nội dung khoa học còn đan xen với nội dung mang tính chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện, làm giảm mức độ khái quát và chiều sâu khoa học. Nguồn dữ liệu nghiên cứu còn hạn chế - do đặc thù nhạy cảm của lĩnh vực kiểm tra, giám sát nên việc tiếp cận thông tin, hồ sơ, kết luận cụ thể phục vụ nghiên cứu khoa học gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng kiểm nghiệm và phát triển lý luận. Đội ngũ nghiên cứu chuyên sâu còn mỏng, chủ yếu là cán bộ làm công tác thực tiễn kiêm nhiệm nghiên cứu, trong khi đội ngũ chuyên gia chuyên trách về khoa học luận trong lĩnh vực này chưa nhiều, ảnh hưởng đến tính liên tục và chiều sâu của nghiên cứu.

Về vấn đề đặt ra: Trong quá trình tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với tính cách một khoa học hiện nay, cần: (1) Làm rõ mối quan hệ giữa tính khoa học và tính chính trị trong nghiên cứu công tác kiểm tra, giám sát. Việc tiếp cận khoa học không được làm suy giảm tính nguyên tắc chính trị của công tác đảng, nhưng cũng không nên đồng nhất hoàn toàn nghiên cứu khoa học với tuyên truyền hay chỉ đạo nghiệp vụ. (2) Xác định rõ ranh giới tương đối giữa khoa học về công tác kiểm tra, giám sát với các khoa học liên quan, đặc biệt là khoa học pháp lý và khoa học tổ chức - cán bộ, nhằm tránh chồng chéo và trùng lặp đối tượng nghiên cứu. (3) Từng bước chuẩn hóa phương pháp nghiên cứu, kết hợp hài hòa giữa tổng kết thực tiễn và khái quát lý luận, giữa phân tích định tính, phân tích định lượng và các phương pháp nghiên cứu hiện đại phù hợp với điều kiện nước ta. (4) Xây dựng môi trường và thiết chế nghiên cứu phù hợp, tạo điều kiện cho việc tích lũy, trao đổi và phát triển tri thức khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong khuôn khổ cho phép, bảo đảm vừa khoa học, vừa chính trị, thực tiễn.

Định hướng phát triển khoa học về kiểm tra, giám sát của Đảng

Một là, nhận thức rõ tính tất yếu và khả năng hình thành môn khoa học về kiểm tra, giám sát của Đảng: Cần thống nhất nhận thức rằng việc xây dựng và phát triển môn khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng không chỉ là nhu cầu học thuật, mà còn là đòi hỏi khách quan của thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã tích lũy được một khối lượng lớn tri thức thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức và các quy định có tính ổn định tương đối. Đây là cơ sở để khái quát hóa thành tri thức khoa học. Do đó, cần chuyển từ cách tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát chủ yếu là hoạt động nghiệp vụ sang cách tiếp cận một lĩnh vực có đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu đặc thù, có khả năng phát triển thành một môn khoa học trong hệ thống các khoa học về Đảng và xây dựng Đảng. Đồng thời, cần tránh khuynh hướng lệch lạc là phủ nhận tính khoa học của công tác kiểm tra, giám sát hoặc tuyệt đối hóa và xem đây là một khoa học hoàn chỉnh khi các điều kiện vẫn đang trong quá trình hình thành.

Hai là, xác định đúng đối tượng, phạm vi và hệ thống khái niệm, phạm trù: Nhiệm vụ trung tâm trong quá trình xây dựng môn khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là xác định rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu và hệ thống khái niệm, phạm trù nghiên cứu. Theo đó, đối tượng nghiên cứu của môn khoa học này là các quy luật, nguyên tắc, nội dung, phương thức và cơ chế vận hành của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng... trong mối quan hệ với việc thực hiện quyền lãnh đạo và tự kiểm soát quyền lực trong Đảng. Phạm vi nghiên cứu cần được xác định rõ, tập trung vào công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ta, đồng thời có chọn lọc việc tham chiếu kinh nghiệm quốc tế và lý luận chung của khoa học chính trị, nhưng không làm mờ tính đặc thù của nước ta. Từng bước chuẩn hóa hệ thống khái niệm cơ bản phục vụ nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao tính thống nhất trong nhận thức và thực tiễn tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Ba là, lựa chọn hợp lý phương pháp nghiên cứu và tổng kết thực tiễn: Xây dựng môn khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở nước ta đòi hỏi hệ thống phương pháp nghiên cứu phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Theo đó, cần vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp chung của khoa học xã hội, khoa học chính trị (phân tích - tổng hợp, lịch sử - lô gíc, so sánh, khái quát hóa, mô hình hóa...). Chú trọng phương pháp tổng kết thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát và xem đây là nguồn tri thức chủ yếu để phát triển lý luận, khoa học. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành các luận điểm có giá trị lý luận và khả năng định hướng thực tiễn.

Bốn là, xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, thể chế và môi trường nghiên cứu: Sự phát triển của môn khoa học về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở nước ta cần gắn liền với việc xây dựng đội ngũ nghiên cứu, thể chế và môi trường khoa học phù hợp. Do đó, cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ vừa có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và kinh nghiệm thực tiễn trong công tác kiểm tra, giám sát, vừa có năng lực nghiên cứu khoa học, đặc biệt là năng lực tư duy khoa học. Đào tạo cán bộ kiểm tra cần một nền tảng chuẩn hóa tri thức, chương trình đào tạo, chất lượng giảng dạy nhằm hình thành tư duy khoa học cho cán bộ kiểm tra. Bên cạnh đó, từng bước hình thành và củng cố các thể chế, cơ chế, chính sách nghiên cứu chuyên sâu (trung tâm nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chuyên đề, chương trình khoa học cấp bộ, cấp quốc gia...) về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, tạo điều kiện cho việc tích lũy và phát triển tri thức khoa học một cách bền vững. Xây dựng môi trường học thuật phù hợp, lành mạnh, khuyến khích trao đổi khoa học, phản biện học thuật, bảo đảm vừa phát huy tính khoa học, vừa giữ vững tính chính trị và tính tổ chức của Đảng.

Năm là, gắn kết chặt chẽ việc nghiên cứu khoa học với đào tạo, bồi dưỡng và thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát: Tri thức khoa học về công tác kiểm tra, giám sát cần được từng bước đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra, giám sát, góp phần nâng cao trình độ lý luận, phương pháp và bản lĩnh nghề nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu khoa học phải phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát trong thực tiễn, tránh khuynh hướng hàn lâm hóa hoặc tách rời yêu cầu thực tiễn xây dựng Đảng. Bảo đảm việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra không chỉ dựa vào “truyền nghề” hay kinh nghiệm, mà còn dựa trên những tri thức khoa học được chuẩn hóa trong một khoa học thực sự.

Việc tiếp cận công tác kiểm tra, giám sát với tính cách một khoa học góp phần nâng cao trình độ lý luận, phương pháp và tư duy hệ thống của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát; đồng thời tạo cơ sở cho việc chuẩn hóa hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và tổng kết thực tiễn trong lĩnh vực này. Qua đó, tri thức khoa học không chỉ phục vụ nghiên cứu, mà còn trực tiếp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Đảng./.