TCCS - Phát triển kinh tế biển là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Với vị trí địa lý của mình, đặc khu Cô Tô (Quảng Ninh) đã từng bước thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ nói trên, từ đó góp phần vào thành công chung trong nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và nhân dân đặc khu.

Quan điểm và nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế biển

Hiện nay, trước sự thay đổi của khí hậu, môi trường toàn cầu, phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển, ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể là, phát huy tiềm năng, lợi thế biển, đảo, ven biển; kết nối vùng biển với vùng ven biển, vùng nội địa; phát triển đồng bộ khai thác, chế biến, dịch vụ, du lịch biển. Phải bảo đảm tính bền vững: tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh, tập trung phát triển theo chiều sâu.

Các nghị quyết về phát triển kinh tế biển của Đảng gồm có: Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa X, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Sau 10 năm thực hiện nghị quyết này, Trung ương đánh giá: “Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước; hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện. Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. Hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả”(1).

Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 vẫn còn một số hạn chế nhất định, do đó, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả kinh tế biển, ngày 22-10-2018 Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết số 36-NQ/TW khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế biển trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển, từ đó nghị quyết chỉ rõ: “Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam”(2).

Nghị quyết số 36-NQ/TW nêu rõ tình hình, những tồn tại, thách thức, đồng thời đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế biển bền vững. Đưa kinh tế biển trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Nghị quyết số 36-NQ/TW yêu cầu kết hợp ba yếu tố: khai thác, bảo vệ, phát triển, cả về kinh tế, môi trường và quốc phòng - an ninh. Phân vùng biển - ven biển - đảo; quy hoạch khoa học, phát triển đồng bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế quản lý biển, đảo.

Nghị quyết và định hướng của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển kinh tế biển

Quan điểm, định hướng: Tỉnh Quảng Ninh nhấn mạnh chuyển đổi phương thức tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy lợi thế biển và vùng ven biển. Phát triển kinh tế - xã hội bền vững, gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh, đặc biệt vùng biển, đảo. Quản lý chặt chẽ đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường; phát triển đô thị bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Các nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Ninh về phát triển kinh tế biển: Ngay sau khi Nghị quyết số 36-NQ/TW được ban hành, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Chương trình hành động số 27-CTr/TU, ngày 27-3-2019 “Thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045””; Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 23-4-2019, “Về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Các văn bản trên của tỉnh Quảng Ninh nhằm xây dựng tỉnh Quảng Ninh thành một trong những trung tâm kinh tế biển mạnh của cả nước.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 20‑NQ/TU, ngày 27-11-2023, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, về phương hướng, nhiệm vụ năm 2024 nhấn mạnh: “tăng nhanh quy mô, tỷ trọng đóng góp vào GRDP và thu ngân sách của công nghiệp chế biến, chế tạo… du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn gắn với phát triển kinh tế biển”. Ngày 2-12-2024, Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 31‑NQ/TU, trong đó có mục tiêu: “Phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng cảng biển”. Gần đây nhất, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025 ‑ 2030 thẳng thắn nhìn nhận: “chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển…” như một hạn chế cần khắc phục và tiếp tục phấn đấu thực hiện hiệu quả trong thời gian tới.

Đặc khu Cô Tô phát triển kinh tế biển - nhiệm vụ chính trị trong nhiều nhiệm kỳ

Đặc khu Cô Tô được thành lập trên cơ sở 3 xã, thị trấn thuộc huyện Cô Tô trước đây, có diện tích phần đất nổi đạt 53,68km2, gồm 74 đảo lớn nhỏ, dân số gần 7.000 người, có tổng chiều dài biên giới biển tiếp giáp với Trung Quốc gần 192km, sở hữu ngư trường đánh bắt thủy - hải sản trên 300km2. Là địa phương có tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc, từ đó, phát triển kinh tế biển, đảo là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng bộ và nhân dân đặc khu.

Thời gian qua, Cô Tô đã xây dựng Đề án nuôi biển với 12 vùng nuôi có diện tích là 5.164,16ha để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị, tiềm năng của địa phương; đồng thời tạo công ăn việc làm ổn định, bền vững cho ngư dân kết hợp với phát triển du lịch trên địa bàn. Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 6.100 tấn/năm (vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 5.700 tấn trở lên). Tổng sản lượng hải sản hàng hóa đã qua chế biến sâu đạt 200 tấn (đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 200 tấn). Tổng sản lượng lương thực đạt 680 tấn/năm (vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 250 - 300 tấn). Tổ chức đánh giá, phân hạng đối với các sản phẩm OCOP trên địa bàn hằng năm.

Cô Tô tập trung quản lý quy hoạch vùng nuôi và quản lý khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản; thực hiện thí điểm mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững kết hợp du lịch có trách nhiệm. Quyết liệt chỉ đạo thực hiện nghiêm Chỉ thị số 18-CT/TU, ngày 1-9-2017, của Tỉnh ủy Quảng Ninh, về tăng cường công tác quản lý khai thác, bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản. Tổ chức trên 220 lượt tuần tra, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phát hiện 51 trường hợp vi phạm, xử phạt với số tiền 675,2 triệu đồng. Hoàn thành đăng ký và cấp phép cho 176/176 tàu cá thuộc thẩm quyền.

Cô Tô tiếp tục tập trung nguồn lực đầu tư phát triển và hoàn thành hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, đa dạng, trọng tâm ưu tiên là phát triển hạ tầng giao thông chiến lược; công nghệ thông tin, hạ tầng số hiện đại; các công trình phòng, chống thiên tai, biến đổi khí hậu... Chú trọng các dự án giao thông như: Nâng cấp, mở rộng Bến cập tàu khu 1, Bến cập tàu Thanh Lân, tuyến đường giao thông kết nối phía Đông - Tây đảo Cô Tô lớn (đoạn thôn Nam Đồng - thôn Nam Hà), cầu Thôn 2, Thanh Lân; các công trình cấp, thoát nước… Cải tạo, chỉnh trang đô thị, hạ tầng kỹ thuật, hạ ngầm hệ thống điện, cáp viễn thông tại một số tuyến phố chính.

Tuy nhiên, còn một số hạn chế trong thực hiện, đó là: Công tác giữ vệ sinh môi trường đã có nhiều thay đổi nhưng chưa thực sự trở thành ý thức tự giác của các cơ quan, đơn vị, nhân dân và du khách. Phát triển du lịch thiếu đồng bộ, tự phát, tiềm ẩn nguy cơ không bền vững; chưa thu hút được nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Kinh tế thủy sản chưa phát triển tương ứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Chưa thực hiện đầu tư xây dựng được tuyến đường phía Đông, tuyến đường phía Tây đảo Cô Tô lớn; hệ thống cảng bến phục vụ du lịch (cảng Cô Tô) đã xuống cấp và quá tải; nhiều tuyến đường bị xuống cấp, hư hỏng.

Quan điểm phát triển trong nhiệm kỳ tới của đặc khu Cô Tô được Ban Chấp hành Đảng bộ đặc khu đề ra là: Phát triển kinh tế biển, đảo xanh, hiện đại, bền vững. Tập trung phát triển du lịch sinh thái biển, du lịch văn hóa gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị từ biển. Khuyến khích mô hình kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và năng lượng sạch, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển. Thực hiện quy hoạch không gian biển hiệu quả, bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái và ứng phó biến đổi khí hậu. Xây dựng đặc khu Cô Tô thành trung tâm du lịch - dịch vụ gắn với kinh tế biển hiện đại, là hình mẫu về đặc khu biển, đảo trong chuyển đổi số; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, tạo nền tảng vững chắc cùng tỉnh Quảng Ninh bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Muốn vậy, đặc khu Cô Tô cần thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm có liên quan, gồm: Cơ cấu lại nền kinh tế, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính cho phát triển. Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số. Phát triển đột phá các ngành kinh tế biển; quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông, cảng biển.

Theo đó, đặc khu Cô Tô tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: phát triển 3 trụ cột kinh tế biển gồm (1) Du lịch biển, đảo sinh thái - văn hóa - trải nghiệm; (2) Thủy sản bền vững và nuôi biển công nghệ cao; (3) Hậu cần nghề cá - dịch vụ logistics ven bờ. Ưu tiên xây dựng đồng bộ và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế biển, nhất là hạ tầng cảng biển và dịch vụ cảng biển. Tổ chức lại và khai thác hiệu quả không gian phát triển kinh tế biển bảo đảm hợp lý, khoa học, hài hòa lợi ích và giảm xung đột để tạo không gian và động lực phát triển mới gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế ngư dân. Xây dựng khu bảo tồn biển.

Phát triển thủy sản tương ứng với tiềm năng, thế mạnh của đặc khu Cô Tô; kết hợp khai thác và nuôi trồng, chế biến hải sản công nghệ cao, hiệu quả, bền vững, bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Phát triển các vùng nuôi biển tập trung theo quy hoạch, tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại; gắn sản xuất với chế biến sâu và tiêu thụ sản phẩm; hoàn chỉnh hệ thống hậu cần nghề cá, nuôi biển, chế biến đồng bộ, hiện đại. Nâng cao giá trị ngành thủy sản thông qua ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng, bảo quản và chế biến; phát triển thương hiệu cho các sản phẩm đặc trưng như: mực khô, cá khô, tôm hùm, cầu gai Cô Tô… Phát triển lâm nghiệp bền vững để phục vụ cho du lịch, tập trung giữ vững diện tích rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn. Phát triển kinh tế dưới tán rừng, các mô hình sản xuất lâm nghiệp kết hợp với phát triển du lịch tạo sinh kế bền vững cho người dân. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh gắn với xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu bền vững, giàu bản sắc văn hóa. Triển khai dự án điện gió theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong phát triển kinh tế biển chính là cơ sở để tin rằng, nhất định Đảng bộ và nhân dân đặc khu Cô Tô sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đặc khu Cô Tô giàu mạnh, hạnh phúc, tạo nền tảng vững chắc cùng tỉnh Quảng Ninh bước vào kỷ nguyên mới./.

---------------------

(1) Nghị quyết số 36-NQ/TW Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-36-NQ-TW-2018-chien-luoc-phat-trien-ben-vung-kinh-te-bien-Viet-Nam-den-nam-2030-397978.aspx
(2) Nghị quyết số 36-NQ/TW Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-36-NQ-TW-2018-chien-luoc-phat-trien-ben-vung-kinh-te-bien-Viet-Nam-den-nam-2030-397978.aspx