Phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và những giải pháp trong thời gian tới - từ điểm nhìn tỉnh Quảng Ninh
TCCS - Tỉnh Quảng Ninh xác định ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) là động lực quan trọng trong tái cấu trúc nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực, ngành CBCT của tỉnh vẫn đối diện nhiều hạn chế về chất lượng tăng trưởng, khả năng cạnh tranh, công nghiệp hỗ trợ và hạ tầng phục vụ phát triển.
Vai trò của ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong nền kinh tế
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam. Đây là ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp lớn vào tăng trưởng xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển ngành CBCT theo hướng đổi mới công nghệ, tăng hàm lượng tri thức và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu là yêu cầu cấp thiết.
Một là, động lực tăng trưởng kinh tế: Ngành CBCT luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp, là lĩnh vực đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng GRDP của nhiều địa phương. CBCT quyết định mức độ hiện đại hoá sản xuất, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Hai là, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự phát triển của CBCT hỗ trợ quá trình giảm phụ thuộc vào khai khoáng, gia tăng hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng trong nền kinh tế, đồng thời góp phần tạo sự lan tỏa sang các lĩnh vực dịch vụ, logistics, công nghiệp hỗ trợ và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Ba là, tạo nguồn thu ngân sách và việc làm: Các doanh nghiệp CBCT hoạt động ổn định, quy mô lớn, đóng góp đáng kể vào thu ngân sách địa phương và tạo nhiều việc làm, nhất là trong các ngành như điện tử, may mặc, chế biến thực phẩm, sản xuất vật liệu. Ngành CBCT còn góp phần nâng cao năng suất và tạo môi trường thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Kết quả phát triển ngành công nghiệp chế biến chế tạo của tỉnh Quảng Ninh thời gian qua
Những năm qua, ngành CBCT của tỉnh Quảng Ninh đạt được một số kết quả nổi bật. Ngành CBCT có sự tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ổn định, đóng góp quan trọng vào GRDP của tỉnh. Thu ngân sách từ công nghiệp chế biến, chế tạo tăng, đặc biệt tại các khu công nghiệp và khu kinh tế ven biển.Thu hút đầu tư tăng mạnh, trong đó có nhiều dự án quy mô lớn về sản xuất thiết bị điện tử, vật liệu mới, năng lượng tái tạo. Giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động, góp phần chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ. Hạ tầng công nghiệp được mở rộng, nhiều khu công nghiệp mới được đầu tư hệ thống giao thông, điện, nước, viễn thông gắn với cải cách thủ tục hành chính.
Mặc dù có bước phát triển nhanh, song ngành CBCT tại Quảng Ninh còn đối diện nhiều thách thức, trong đó sự tăng trưởng của ngành chưa tương xứng với tiềm năng. Tỷ trọng CBCT trong cơ cấu GRDP còn thấp so với yêu cầu; một số lĩnh vực công nghiệp chủ lực phát triển chưa ổn định. Hoạt động sản xuất chủ yếu ở phân đoạn gia công, lắp ráp; công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, ít đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu - phát triển (R&D). Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là thiếu hụt nhân lực lao động kỹ thuật cao, chưa theo kịp nhu cầu phát triển công nghiệp thông minh. Hạ tầng công nghiệp và logistic chưa đồng bộ. Một số khu công nghiệp chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Thu hút đầu tư cho phát triển chưa thật sự bền vững. Nguồn vốn FDI mới chỉ tập trung vào một số ngành nhất định, thiếu các dự án đầu chuỗi hoặc công nghệ cao.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do chính sách hỗ trợ phát triển CBCT chưa đồng bộ và thiếu tính liên kết vùng. Quy hoạch phát triển công nghiệp thay đổi chậm, chưa gắn với chiến lược dài hạn. Năng lực doanh nghiệp nội địa yếu, chưa hình thành được các doanh nghiệp dẫn dắt. Cạnh tranh thu hút FDI giữa các địa phương ngày càng gay gắt. Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp chưa theo kịp nhu cầu mới.
Một số giải pháp trong thời gian tới
Trong thời gian tới, để thúc đẩy ngành công nghiệp CBCT của tỉnh Quảng Ninh phát triển bền vững, cần chú ý một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế và chính sách. Thể chế và chính sách là yếu tố nền tảng quyết định mức độ hấp dẫn đầu tư, năng lực cạnh tranh và định hướng phát triển dài hạn của ngành CBCT. Một hệ thống chính sách minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo giúp giảm chi phí giao dịch, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào R&D, công nghệ cao và mở rộng chuỗi giá trị. Ngược lại, sự thiếu nhất quán, thay đổi chính sách nhanh hoặc ưu đãi thiếu mục tiêu sẽ dẫn đến đầu tư chất lượng thấp, hạn chế lan tỏa công nghệ. Do đó, Quảng Ninh cần xây dựng chiến lược phát triển CBCT theo hướng công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp xanh. Bảo đảm tính ổn định, minh bạch của chính sách đất đai, thuế và môi trường kinh doanh. Thúc đẩy liên kết vùng và phối hợp giữa trung ương và địa phương trong quy hoạch phát triển công nghiệp.
Hai là, tăng cường thu hút đầu tư có chọn lọc. FDI có vai trò then chốt đối với ngành CBCT Việt Nam, nhưng trong nhiều năm, dòng vốn này thường tập trung vào khu vực lắp ráp với hàm lượng công nghệ chưa cao. Do thiếu cơ chế ràng buộc chuyển giao công nghệ, giá trị nội địa hóa tăng chậm và sự lan tỏa sang doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Do đó, chiến lược FDI cần chuyển từ “thu hút bằng mọi giá” sang “chọn lọc theo tiêu chí công nghệ”. Quảng Ninh cần ưu tiên thu hút đầu tư FDI vào lĩnh vực công nghệ cao, sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, thân thiện môi trường. Khuyến khích doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và sử dụng nhà cung cấp trong nước. Xây dựng cơ chế ưu đãi dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội, không chạy theo số lượng dự án.
Ba là, phát triển doanh nghiệp nội địa và công nghiệp hỗ trợ. Công nghiệp hỗ trợ là nền tảng để hình thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, giảm phụ thuộc nhập khẩu linh kiện và tăng giá trị gia tăng trong nước. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp nội địa hiện còn yếu về công nghệ, thiếu chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế và chưa đủ năng lực tài chính để đầu tư thiết bị. Quảng Ninh cần có nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tín dụng, đổi mới công nghệ và tư vấn quản trị. Hình thành các trung tâm hỗ trợ công nghiệp, vườn ươm công nghệ. Khuyến khích các dự án sản xuất linh kiện, vật liệu, phụ tùng trong nước nhằm giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới công nghệ. Chuyển đổi số là động lực nâng cao năng suất, giảm chi phí, kiểm soát chất lượng và tăng tính linh hoạt của sản xuất. Với xu hướng kinh tế số, dữ liệu trở thành tài sản chiến lược của doanh nghiệp. Việc ứng dụng ERP, MES, IoT, AI giúp tối ưu hóa quy trình, dự báo bảo trì và nâng cao hiệu quả vận hành. Cần tăng cường đầu tư vào tự động hoá, phân tích dữ liệu, IoT, AI trong sản xuất. Xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng quản trị số, sản xuất thông minh. Phát triển các nền tảng số trong quản lý chuỗi cung ứng, logistics và thương mại hóa sản phẩm.
Năm là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhân lực kỹ thuật cao là điều kiện tiên quyết cho sản xuất công nghệ cao và chuyển đổi số. Tuy nhiên, hiện nay khoảng cách giữa năng lực lao động và yêu cầu của doanh nghiệp còn lớn. Tỉnh Quảng Ninh cần tập trung đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp - nhà trường - cơ sở đào tạo để xây dựng chương trình sát với nhu cầu sản xuất - kinh doanh. Đào tạo lại lực lượng lao động chuyển dịch từ khai khoáng sang chế biến, chế tạo. Có chính sách ưu đãi nhằm thu hút chuyên gia, kỹ sư công nghệ cao làm việc tại Quảng Ninh.
Sáu là, hoàn thiện hạ tầng công nghiệp và logistics. Hạ tầng logistics và công nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí sản xuất và khả năng cạnh tranh. Đối với ngành CBCT, hệ sinh thái logistics tối ưu giúp giảm chi phí tồn kho và nâng cao chất lượng dịch vụ. Cần đầu tư nâng cấp hạ tầng khu công nghiệp, cảng biển, cảng cạn, kho bãi. Phát triển các khu công nghiệp sinh thái, khu công nghệ cao gắn với giao thông kết nối vùng. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý vận tải và chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, việc tăng cường năng lực cho ngành CBCT trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Phát triển ngành CBCT không thể dựa vào một yếu tố đơn lẻ mà cần sự kết hợp đồng bộ của nhiều nhóm giải pháp: hoàn thiện thể chế, thu hút FDI có chọn lọc, phát triển doanh nghiệp nội địa, thúc đẩy chuyển đổi số, đầu tư nguồn nhân lực và nâng cấp hạ tầng. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ giúp Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo, các viện trường là nguồn cung tri thức để tạo thành hệ sinh thái công nghiệp hiệu quả, thích ứng với bối cảnh kỷ nguyên số./.
Tập trung phát triển các đảo ven bờ tỉnh Quảng Ninh - Hướng tới xây dựng trung tâm kinh tế biển hiện đại và phát triển bền vững  (01/12/2025)
Quảng Ninh thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045  (01/12/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm