NATO: Chiến lược mới, mục tiêu cũ

Lê Thế Mẫu
21:45, ngày 20-11-2010

TCCSĐT - Ngày 19-11-2010, tại Li-xbon (Bồ Đào Nha), Hội nghị Thượng đỉnh Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (Summit NATO) với sự có mặt của Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma và nguyên thủ các nước thành viên. Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép có mặt với tư cách là khách mời của NATO để tham dự Diễn đàn Hội đồng Nga-NATO được tổ chức vào ngày 20-11-2010 bên lề Summit NATO. Chủ đề quan trọng nhất của Summit NATO lần này là thảo luận và thông qua Chiến lược mới của NATO để xác định nhiệm vụ, chức năng và cơ cấu tổ chức của liên minh quân sự lớn nhất thế giới này.

Một Summit mang dấu ấn lịch sử của NATO

Theo tuyên bố của ông An-đrê Phôc Ra-xmu-xen, Tổng thư ký NATO, Summit NATO tại Li-xbon lần này là một trong những hội nghị quan trọng nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của liên minh quân sự lớn nhất thế giới này, bởi nguyên thủ các quốc gia thành viên sẽ phải thông qua nhiều quyết định khó khăn còn có sự bất đồng ý kiến giữa các nước thành viên, trong đó các quyết định quan trọng nhất được thông qua là Chiến lược mới của NATO; tăng cường quan hệ hợp tác với Nga - đối thủ số 1 của NATO thời “chiến tranh lạnh”; kết thúc chiến dịch quân sự ở Áp-ga-ni-xtan và xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa thống nhất của Châu Âu có sự tham gia của Nga.

Thông thường, Chiến lược của NATO được thông qua 10 năm một lần. Hai lần gần đây nhất là vào năm 1991 và năm 1999 và cả 2 lần này đều diễn ra vào những thời điểm có tính bước ngoặt.
 
Lần thông qua năm 1991 diễn ra ngay sau khi Liên Xô tan rã và Khối quân sự Hiệp ước Vac-sa-va giải thể. Lần thông qua năm 1999 diễn ra vào thời điểm trước khi thế giới bước sang thế kỷ XXI, còn Mỹ bắt đầu ráo riết thực hiện chủ trương xây dựng trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo theo đề án “Thế kỷ mới của nước Mỹ” do một nhóm báo thủ mới soạn thảo.

Nếu Summit NATO gần đây nhất được tổ chức tại Oa-sinh-tơn (Mỹ) sau cuộc chiến tranh Cô-xô-vô năm 1999 nhân kỷ niệm 50 năm thành lập liên minh quân sự để thông qua chiến lược nhằm biến NATO thành công cụ để thực hiện tham vọng của Oa-sinh-tơn thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo sau “chiến tranh lạnh”, thì Summit NATO lần này diễn ra trong bối cảnh tham vọng đó của Mỹ đã không trở thành hiện thực. Mỹ và NATO sa lầy trong hai cuộc chiến tranh I-rắc và Áp-ga-ni-xtan và đang phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức an ninh mà bản thân họ không thể đơn phương hoá giải được trong điều kiện cả Mỹ và các nước NATO đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế nghiêm trọng nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ XX, cần có sự hợp tác với cộng đồng quốc tế, trong đó có những quốc gia có thể đóng vai trò không nhỏ như Nga, Trung Quốc và Ấn Độ.

Trong bối cảnh mới đó, Summit NATO ở Li-xbon có các nhiệm vụ chủ yếu:

Một là, thông qua Chiến lược mới của NATO cho 10 năm tới trong bối cảnh đang hình thành trật tự thế giới đa cực. Dấu ấn lịch sử của Summit NATO lần này là diễn ra trong thời điểm liên minh quân sự lớn nhất thế giới này đang hoàn toàn bế tắc về chiến lược, chưa thể tìm ra lý do chính đáng để tồn tại và phát triển. Đây sẽ là Chiến lược thứ ba được thông qua sau “chiến tranh lạnh”.

Hai là, thông qua “lộ trình” rút quân khỏi “vũng lầy” Áp-ga-ni-xtan từ năm 2011 đến năm 2014, trong đó phải đưa ra quyết định bắt đầu các thủ tục chuyển giao trách nhiệm cho bộ máy quyền lực ở Ca-bun mặc dù tình hình chính trị-quân sự và kinh tế - xã hội ở quốc gia này vẫn còn trong tình trạng rất phức tạp. Bộ chỉ huy NATO coi việc chuyển giao thành công quyền lực bảo đảm an ninh cho quân đội và cảnh sát địa phương là điều kiện tiên quyết để rút quân chiến đấu ra khỏi Áp-ga-ni-xtan. Trong khi đó, đại diện Bộ Quốc phòng Áp-ga-ni-xtan lại tuyên bố rằng, họ đang rất cần sự trợ giúp của quân đội nước ngoài vì các lực lượng an ninh của nước này chưa có đủ khả năng và cũng chưa sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm bảo đảm an ninh trong nước.

Ba là, quyết định vấn đề xây dựng Hệ thống phòng thủ tên lửa chung của châu Âu, trong đó liên kết hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia của Mỹ với hệ thống phòng thủ chiến trường và hệ thống phòng thủ của các nước thành viên, sẽ bao quát một không gian rộng lớn từ Van-cu-vơ (Ca-na-đa) đến Vla-đi-vô-xtôc (Nga). NATO mời Nga tham gia xây dựng hệ thống này.

Bốn là, tiến hành hội nghị Hội đồng NATO - Nga nhằm “cài đặt lại” quan hệ giữa liên minh quân sự đã từng một thời là “kẻ thù không đội trời chung” trước đây và hiện vẫn còn nhiều mâu thuẫn chưa thể hoá giải với Nga. Lần đầu tiên, Chiến lược mới của NATO ghi nhận, từ nay Liên minh quân sự này không còn là mối đe dọa đối với Nga. Điều 33 và Điều 34 trong Chiến lược mới ghi nhận tầm quan trọng chiến lược của việc hợp tác giữa NATO với Nga nhằm tạo ra không gian chung hoà bình, ổn định và được bảo đảm an ninh.

Chiến lược mới của NATO có gì mới?

Để phân tích vấn đề này, trước hết cần trở lại với văn kiện chiến lược của NATO gần đây nhất được thông qua tại Summit thượng đỉnh của Liên minh này ở Mỹ vào ngày 9-4-1999, trong đó khẳng định đường lối của Liên minh này chuyển từ phòng thủ sang tiến công trên phạm vi toàn cầu. Đường lối đó đã từng được thử nghiệm trước thềm Summit NATO năm 1999 trong cuộc chiến tranh tàn bạo, vô căn cứ xâm lược Nam Tư. Sau đó, đường lối này được tiếp tục thực hiện trong cuộc chiến tranh của Mỹ và NATO ở Áp-ga-ni-xtan (2001) và I-rắc (2003), trong các kế hoạch xúc tiến hiện đại hóa vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, triển khai xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa nhiều tầng ở châu Âu và ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cũng trong thời gian đó, NATO đã mở rộng số thành viên từ 19 lên tới 28 quốc gia.

Đặc điểm cơ bản của chiến lược NATO thông qua năm 1999 nhằm 3 nội dung then chốt. Một là, có thể sử dụng vũ khí hạt nhân thực hiện đòn tiến công đầu tiên chống lại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, trước hết là Nga. Hai là, sử dụng các lực lượng vũ trang quy mô lớn mà không cần được phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ) ở bất kỳ đâu trên thế giới. Bốn là, phổ biến các lợi ích quan trọng sống còn của Liên minh trên khắp hành tinh. Như vậy, chiến lược của NATO năm 1999 đã thể hiện rõ liên minh này là công cụ chiến lược toàn cầu của Mỹ trong một thế giới mà Oa-sinh-tơn đang rắp tâm nắm vai trò lãnh đạo, phớt lờ cả LHQ.

Những thay đổi căn bản trong bức tranh chính trị - quân sự của thế giới và sự bất lực của NATO trong việc kịp thời thích ứng với những thay đổi đó đã buộc ban lãnh đạo của Liên minh này phải xem xét lại chiến lược hiện hành. Lần đầu tiên ý tưởng này được cựu Tổng Thư ký NATO Y-ap Đe Hôp Hê-phê-rơ đề xuất vào tháng 12-2006. Nhưng do mâu thuẫn giữa chính quyền của Tổng thống Mỹ G.W.Bu-sơ với lãnh đạo một số nước chủ chốt ở châu Âu nên quá trình soạn thảo chiến lược mới bị kéo dài tới 3 năm. Đến giữa năm 2010, quá trình soạn thảo mới được hoàn thành.

Những nét mới trong chiến lược mới của NATO thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:

Một là, việc xác định nguy cơ an ninh đối với NATO. Chiến lược mới xác định NATO đang đứng trước nhiều nguy cơ mang tính toàn cầu. Đó là: sự gia tăng khả năng quân sự của các nước và các liên minh khác nhau, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, có thể thách thức vai trò và vị thế của Mỹ; các nước phương Tây đang ngày càng bị hạn chế trong việc tiếp cận tiềm năng tài nguyên, trước hết là dầu mỏ và khí đốt tại các vùng khác nhau của thế giới; hệ thống thông tin của liên minh có thể bị “tiến công ảo” làm rối loạn hoạt động và vô hiệu hoá ưu thế của liên minh về vũ khí thông thường; tác động tiêu cực từ các quá trình toàn cầu hoá của đối với lĩnh vực an ninh của NATO; tính bất định trong sự phát triển tình hình kinh tế - xã hội, chính trị và sự bất ổn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương cũng như các khu vực khác, mà trong một số điều kiện nhất định nguy cơ có thể xuất phát từ sự thất bại về cải cách kinh tế xã hội ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cũng như cái gói là sự “vi phạm quyền con người” ở một số nước; chủ nghĩa khủng bố, sự phổ biến vũ khí sát thương hàng loạt, nguy cơ ô nhiễm môi trường sinh thái; Nga có tiềm lực vũ khí hạt nhân mạnh vẫn là lực lượng có ảnh hưởng lớn trong không gian hậu xô-viết và vẫn tiếp tục sử dụng tài nguyên năng lượng nhưng một thứ “vũ khí chính trị” có thể gây bất ổn cho quá trình cung cấp khí đốt ở châu Âu.

Hai là, phát triển một bước mới chiến lược chiếm ưu thế quân sự và dựa vào sức mạnh. Chiến lược mới vẫn tái khẳng định sự gắn bó mật thiết giữa an ninh của Mỹ với an ninh của các nước châu Âu, thể hiện ở Điều 5 trong chiến lược của NATO được soạn thảo từ năm 1949 và đến nay vẫn không thay đổi. Đó là, NATO coi hành động tiến công vào bất kỳ quốc gia nào là thành viên của Liên minh cũng là tiến công vào tất cả các thành viên của NATO. Tuy nhiên, trong Chiến lược mới, nguyên tắc này đã được bổ sung thêm nhiều nội dung mới, theo đó, các nước NATO sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để đáp trả nguy cơ phổ biến vũ khí sát thương hàng loạt, nguy cơ khủng bố và tiến công vào mạng máy tính, nguy cơ các nước NATO bị hạn chế tiếp cận các mỏ dầu và khí đốt, nguy cơ thảm hoạ môi trường sinh thái.

Cũng như chiến lược thông qua năm 1999, Chiến lược mới vẫn không loại trừ khả năng sử dụng sức mạnh quân sự bên ngoài phạm vi lãnh thổ các quốc gia thành viên theo quyết định của NATO mà không cần được phép của Hội đồng Bảo an LHQ, đồng thời, không loại trừ khả năng NATO sẵn sàng can thiệp vào lãnh thổ các nước “không thành đạt” để thực hiện các “hoạt động nhân đạo” nếu ở đó xảy ra thảm họa môi trường sinh thái, xung đột sắc tộc hoặc có biểu hiện “vi phạm quyền con người”. Điều đáng nói ở đây là không ai trao cho NATO quyền quyết định một quốc gia nào đó thuộc loại “không thành đạt”.

Như vậy, Chiến lược mới đã mở rộng đáng kể danh mục các nguyên cớ để NATO sử dụng lực lượng quân sự bên ngoài lãnh thổ. Với những lập luận đó, NATO có quyền phô trương sức mạnh quân sự trên quy mô toàn cầu.

Ba là, không hướng tới thế giới phi hạt nhân. Chiếm vị trí đặc biệt trong Chiến lược mới là vai trò và vị trí của vũ khí hạt nhân trong nền chính trị quốc tế hiện đại, theo đó NATO vẫn tiếp tục duy trì lực lượng hạt nhân tin cậy và khả năng răn đe. Như vậy, Chiến lược mới không hướng tới việc xây dựng một “thế giới phi hạt nhân” mà Tổng thống Mỹ Ba-răc Ô-ba-ma đã từng đề xuất. Mặt khác, Chiến lược mới cũng bác bỏ yêu cầu của một số nước thành viên muốn đưa vũ khí hạt nhân chiến thuật của Mỹ ra khỏi châu Âu. Như vậy, Chiến lược mới chủ trương thực hiện chiến lược răn đe hạt nhân và sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân trong đòn tiến công đầu tiên.

Ngoài ra, cách xác định “nguy cơ an ninh” trong Chiến lược mới đã mở rộng nhiệm vụ của NATO có liên quan tới khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân. Do đó, NATO chủ trương tiếp tục duy trì số lượng vũ khí hạt nhân trên lục địa châu Âu, vào khoảng 500 đầu đạn hạt nhân chiến thuật. Đối với Nga, những vũ khí hạt nhân chiến thuật đó lại có tác dụng như vũ khí tiến công chiến lược vì được bố trí sát biên giới Nga. Trong khi đó, từ nửa đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Nga đã rút hết vũ khí hạt nhân chiến thuật từ 3 nước Cộng hoà thuộc Liên Xô cũ là U-crai-na, Bê-la-ru-xi-a và Ca-dăc-xtan về lãnh thổ của mình, còn Mỹ vẫn duy trì vũ khí hạt nhân chiến thuật ở châu Âu. Điều đó đặt Nga vào vị thế mất cân xứng trong các cuộc đàm phán sắp tới về cắt giảm các loại vũ khí này. Vì lẽ đó, Nga đã nhiều lần đề nghị Mỹ đàm phán về việc đưa vũ khí hạt nhân chiến thuật của Mỹ ra khỏi châu Âu trước khi chính thức thảo luận về chủ đề này. Với ý nghĩa đó, Chiến lược mới đã vi phạm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, theo đó cấm các quốc gia không có vũ khí hạt nhân bố trí loại vũ khí này trên lãnh thổ của họ.

Bốn là, xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa bao quát toàn bộ không gian châu Âu - Đại Tây Dương. Chiến lược mới chủ trương phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa, theo đó, liên kết hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ vào cơ cấu phòng thủ tên lửa của các nước châu Âu với sự tham gia của tất cả các nước thành viên NATO. Trên thực tế, quyết định có tính nguyên tắc này đã được NATO thông qua vào tháng 4-2007 mà không chờ đến khi xây dựng Chiến lược mới.

Như vậy, việc bố trí các tên lửa phòng không “Patriot” của Mỹ trên lãnh thổ Ba Lan chỉ là giai đoạn đầu của việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quy mô lớn của Mỹ và NATO ở châu Âu. Theo nhận xét của các hãng công nghiệp quân sự Mỹ, tên lửa “Patriot” có chức năng đánh chặn tên lửa đường đạn chứ không phải là vũ khí phòng không đơn giản. Tiếp sau loại tên lửa này sẽ là những hệ thống phòng chống tên lửa mạnh hơn và hoàn thiện hơn.

Với hệ thống phòng thủ tên lửa kết hợp đó, Mỹ đạt được ba mục đích then chốt. Một là, từ nay, Mỹ không cần phải xin phép các nước châu Âu bố trí lá chắn tên lửa trên lãnh thổ của họ. Hai là, hệ thống phòng thủ tên lửa kết hợp là “chất kết dính” các nước châu Âu phụ thuộc vào Oa-sinh-tơn, bởi công nghệ phòng thủ tên lửa là độc quyền của Mỹ. Ba là, bổ sung vào khả năng răn đe hạt nhân, khả năng tiến công hạt nhân phủ đầu của Mỹ và các quốc gia khác trong NATO có vũ khí hạt nhân như Pháp và Anh.

Năm là, chủ trương áp dụng nguyên tắc “cánh cửa để mở”. Trái ngược với quan điểm của Nga và một số nước NATO, Chiến lược mới vẫn khẳng định nguyên tắc “cánh cửa mở” để kết nạp với nước khác, không chỉ là U-crai-na và Gru-di-a mà còn nhiều nước khác, miễn là các ứng cử viên đáp ứng các tiêu chí do NATO đưa ra, trong đó có một số tiêu chí chủ yếu như ủng hộ các quan điểm chính trị của NATO; có khả năng đóng góp vào việc bảo đảm an ninh của liên minh và của khu vực châu Âu - Đại Tây Dương; tiến hành cải cách quân sự theo tiêu chuẩn của NATO; bảo đảm rằng dân chúng ở trong nước ủng hộ việc gia nhập NATO.

Sáu là, khả năng sử dụng sức mạnh quân sự. Để ngăn chặn hoặc vô hiệu hoá các nguy cơ an ninh đối với NATO, Chiến lược mới dự kiến các phương án sử dụng sức mạnh quân sự như sau:

- Sử dụng sức mạnh quân sự để đẩy lùi chiến tranh xâm lược nhằm vào các nước và các mục tiêu quân sự của NATO theo Điều 5 của Hiệp ước năm 1999, chống các hoạt động khủng bố đã xảy ra hoặc đang được chuẩn bị nhằm vào các công trình hoặc công dân các quốc gia thành viên; bảo vệ “các giá trị phương Tây”, tự do dân chủ ở các quốc gia đối tác không phải là thành viên NATO hoặc theo yêu cầu của các tổ chức quốc tế; tham gia vào các chiến lược nhân đạo nhằm khắc phục thảm hoạ thiên nhiên và sinh thái.

- Sử dụng lực lượng quân sự của Liên minh để vô hiệu hoá hoặc tiêu diệt tiềm lực quân sự của đối phương, tạm thời chiếm đóng một hoặc một số quốc gia. Sử dụng vũ khí hạt nhân như là một công cụ đáp trả phi đối xứng và để răn đe đối phương sử dụng vũ khí sát thương hàng loạt.

Bảy là, về xây dựng lực lượng quân sự. Để thực hiện các chức năng toàn cầu bằng sức mạnh quân sự, Chiến lược mới dự kiến nâng cao tiềm lực quân sự của Liên minh theo các hướng chủ yếu sau:

- Tiếp tục hoàn thành hệ thống các cơ quan lãnh đạo và chỉ huy của NATO, xây dựng cơ cấu và cơ chế để giải quyết vấn đề trinh sát và trao đổi thông tin giữa các nước thành viên; bảo đảm khả năng triển khai lực lượng để tiến hành đồng thời nhiều chiến dịch trong khuôn khổ giải quyết các nhiệm vụ phòng thủ tập thể và phản ứng khi có khủng hoảng.

- Phát triển hệ thống chỉ huy của NATO nhằm nâng cao hiệu quả các lực lượng của Liên minh khi tiến hành chiến dịch ở những khu vực khác nhau trên thế giới; xây dựng hệ thống hợp đồng chặt chẽ trong lĩnh vực xây dựng quân sự giữa NATO và EU.

- Làm sâu sắc thêm và mở rộng mối quan hệ với các nước đối tác, áp dụng các hình thức và cơ chế mới để duy trì sự hợp tác với các nước đó.

- Bảo đảm ưu thế thông tin của NATO, trong đó có việc bảo vệ tin cậy các hệ thống tự động hoá chỉ huy và truyền thông chống lại các cuộc tiến công máy tính.

- Phân bố lại tiềm năng tài chính, tăng cường đầu tư vào những đề án quan trọng nhất.

- Xây dựng các lực lượng vũ trang liên hợp của NATO để thực hiện các chiến dịch viễn chinh; tăng cường khả năng cơ động của các lực lượng liên minh; phát triển tiềm năng đối phó với chủ nghĩa khủng bố, bảo vệ các lực lượng vũ trang và hạ tầng cơ sở của NATO chống các hành đồng khủng bố.

- Nâng cao khả năng của các lực lượng NATO khi giải quyết các nhiệm vụ trong trường hợp có sử dụng vũ khí sát thương hàng loạt cũng như trong điều kiện khẩn cấp xảy ra thảm hoạ thiên nhiên và tại các thành phố lớn.

- Đảm bảo sự bảo vệ tin cậy cho các quân nhân của NATO; tăng cường khả năng phối hợp với các lực lượng vũ trang của các nước thành viên

Căn cứ vào những nội dung đó, Chiến lược mới dự kiến xây dựng chương trình tiếp tục chuyển hoá lực lượng quân sự và nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội các nước thành viên phù hợp với yêu cầu của NATO. Các nước thành viên cần chuẩn bị ít nhất là 50% tổng quân số của lục quân trong quân đội quốc gia sẵn sàng hành động trên các chiến trường xa. Trong đó, 8% lực lượng này sẵn sàng được điều động và thuộc quyền chỉ huy của các lực lượng vũ trang liên hợp NATO. Thành phần chủ yếu trong lực lượng vũ trang liên hợp của NATO có nhiệm vụ phản ứng nhanh trong các cuộc xung đột vũ trang và triển khai lực lượng trên quy mô lớn của liên minh.

Tám là, cải thiện quan hệ đối với Nga. Chiến lược mới ghi nhận tiếp tục thực hiện quan điểm xây dựng hợp tác với Nga trên cơ sở quan hệ được cải thiện hơn dựa trên các nguyên tắc tin cậy lẫn nhau, minh bạch và có thể dự báo trước. Trong số các biện pháp cụ thể để hợp tác giữa NATO và Nga là phối hợp chống khủng bố; Nga tham gia xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa phối hợp của NATO; tiến hành thảo luận về chiến lược hạt nhân.

Với những nội dung trên, Chiến lược của NATO tuy có những điểm mới nhưng mục tiêu của Chiến lược mới vẫn không hề thay đổi so với mục tiêu đã được đặt ra khi liên minh quân sự này được thành lập vào năm 1949 trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”./.