TCCS - Sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước ngày 28-1-1941 và lựa chọn Cao Bằng làm căn cứ địa đầu tiên là quyết định mang tầm chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Quyết định này mở ra giai đoạn phát triển mới, trực tiếp dẫn tới sự hình thành căn cứ địa Việt Bắc và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sự kiện này để lại bài học lịch sử vô giá trong phát huy các yếu tố “thiên thời”, “địa lợi”, “nhân hòa” để xây dựng “thế trận lòng dân”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tăng cường xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở các địa bàn chiến lược, đặc biệt là vùng biên giới, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quyết định lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941: Hội tụ các yếu tố “thiên thời - địa lợi - nhân hòa”

Cách đây 85 năm, ngày 28-1-1941, sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đặt chân lên cột mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng(1), trực tiếp về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, mà còn mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ chuẩn bị trực tiếp về mọi mặt để tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong tiến trình lịch sử đó, việc Người lựa chọn Cao Bằng làm điểm đặt chân đầu tiên và xây dựng căn cứ địa cách mạng là quyết định mang tầm chiến lược, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, sự am hiểu sâu sắc về thực tiễn trong nước và nghệ thuật vận dụng sáng tạo các điều kiện khách quan, chủ quan.

Quyết định lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình tìm hiểu, đánh giá, cân nhắc dựa trên một hệ thống các tiêu chí chiến lược khắt khe, gồm “thiên thời - địa lợi - nhân hòa”.

Yếu tố “thiên thời” là tổng thể bối cảnh quốc tế và trong nước vào cuối năm 1940 - đầu năm 1941, tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời là đòi hỏi bức thiết đối với cách mạng Việt Nam.

Thứ nhất, sự suy yếu và rối loạn của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ từ năm 1939 đã làm rung chuyển toàn bộ trật tự chính trị - kinh tế thế giới, đẩy mâu thuẫn giữa các nước đế quốc lên tới đỉnh cao. Đối với các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, chiến tranh vừa làm gia tăng sự áp bức, bóc lột, vừa tạo ra những khe hở và điều kiện thuận lợi cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển. Đến cuối năm 1940, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn ác liệt, bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương bị suy yếu, trong khi phong trào cách mạng trong nước đứng trước yêu cầu phải có sự chỉ đạo trực tiếp và thống nhất. Trong hoàn cảnh đó, việc lựa chọn địa điểm trở về và xây dựng căn cứ địa là một quyết định mang tính chiến lược, đòi hỏi sự cân nhắc toàn diện nhiều yếu tố. Tháng 6-1940, Pháp đầu hàng phát xít Đức, trở thành một nước bại trận. Uy tín và sức mạnh của thực dân Pháp ở Đông Dương bị suy giảm nghiêm trọng. Lợi dụng cơ hội đó, chính quyền phát xít Nhật tăng sức ép lên chính quyền Pháp tại Đông Dương nhằm thế chân Pháp. Ngày 18-6-1940, Nhật gửi cho Toàn quyền Catơru yêu cầu Pháp đóng cửa biên giới Việt Nam - Trung Quốc, đình chỉ việc vận chuyển xăng dầu, phương tiện chiến tranh cho Tưởng Giới Thạch theo đường Hải Phòng - Vân Nam. Tiếp đó, ngày 2-8-1940, Nhật yêu cầu Pháp cho Nhật vào Đông Dương, sử dụng các sân bay để tiến công miền Nam Trung Quốc, đặt nền kinh tế Đông Dương phục vụ cho guồng máy chiến tranh của Nhật. Ngày 30-8-1940, Pháp và Nhật ký Hiệp định chính trị Tokyo, trong đó Pháp chấp nhận hầu hết các yêu cầu của Nhật. Tiếp đó, ngày 22-9-1940, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương chấp nhận các điều khoản đã ký kết. Ngày 23-9-1940, quân Nhật vẫn vượt qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc đánh chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ lên Đồ Sơn. Sau khi vào Đông Dương, Nhật liên tục ép Pháp nhượng bộ, ký kết các hiệp ước có lợi cho Nhật trên tất cả các mặt kinh tế, quân sự, văn hóa, trên cơ sở đó từng bước chi phối Đông Dương.

Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(2). Đây chính là “thời cơ vàng” do tình thế biến chuyển tạo ra. Trong suốt quá trình từ ngày 20-6-1940 đến tháng 1-1941 là giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho sự trở về Tổ quốc của Người.

Thứ hai, yêu cầu cấp thiết về sự chỉ đạo trực tiếp và thống nhất của cách mạng trong nước. Sau cao trào cách mạng 1930 - 1931 và 1936 - 1939, phong trào cách mạng ở Việt Nam bị đàn áp dã man, nhiều tổ chức đảng bị phá vỡ, cán bộ trung ương phần bị bắt, phần phải rút vào hoạt động bí mật. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 khẳng định dứt khoát chủ trương “thay đổi chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu”(3). Tuy nhiên, việc thiếu một trung tâm lãnh đạo có uy tín tuyệt đối và tầm nhìn chiến lược để trực tiếp chỉ huy, thống nhất các lực lượng, củng cố tổ chức đảng là một hạn chế lớn. Việc Nguyễn Ái Quốc - người có uy tín quốc tế và trong nước rất lớn trở về Việt Nam vào thời điểm này đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử.

Thứ ba, sự điều chỉnh chiến lược linh hoạt trước biến cố bất ngờ. Kế hoạch ban đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh dự định về nước qua hướng Côn Minh - Lào Cai, con đường liên lạc truyền thống. Nhưng cầu Hồ Kiều - chiếc cầu lớn trên trên sông Nậm Thi, trên đó có tuyến đường sắt Việt - Điển nối hai nước, bị phá sập vào ngày 16-9-1940 đã chặn đứt lộ trình này(4). Sự kiện này cho thấy “thiên thời” không phải lúc nào cũng là thuận lợi tuyệt đối, mà bao hàm cả những rủi ro, trở ngại. Thành công nằm ở khả năng chuyển “nguy” thành “an”, biến bị động thành chủ động. Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và các đồng chí của mình đã tập trung phân tích kỹ lưỡng các phương án thay thế, trong đó Cao Bằng nổi lên với những ưu thế vượt trội so với các địa bàn biên giới khác.

"Bác Hồ làm việc tại Pác Bó'' (Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng)-Nguồn: laodong.vn

Yếu tố “địa lợi” là tổng hòa các điều kiện về vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tạo nên lợi thế không gian cho các hoạt động cách mạng. Nếu “thiên thời” tạo ra thời cơ, “địa lợi” là không gian vật chất để hiện thực hóa thời cơ đó. Cao Bằng sở hữu một tổ hợp lợi thế địa lý - tự nhiên độc đáo, đáp ứng các yêu cầu của một căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn khởi đầu đầy gian khó.

Thứ nhất, Cao Bằng có vị trí địa chính trị và địa quân sự đặc biệt. Cao Bằng nằm ở cực Bắc, có đường biên giới dài trên 333km tiếp giáp với Trung Quốc. Vị trí này mang lại ba lợi thế chiến lược then chốt: (i) Lợi thế an toàn và linh hoạt tác chiến, tạo thế “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể giữ). Khi bị uy hiếp, lực lượng cách mạng có thể nhanh chóng rút sang biên giới để bảo toàn, né tránh sự truy quét của địch. Ngược lại, khi có thời cơ, có thể từ đây bí mật tỏa về các vùng xuôi. Hàng trăm đường mòn, lối nhỏ mà nhân dân quen thuộc trở thành những “huyết mạch” linh hoạt. (ii) Lợi thế liên lạc với bên ngoài: Đây là cửa ngõ quan trọng để tiếp nhận sự chỉ đạo từ Quốc tế Cộng sản (thông qua Đảng Cộng sản Trung Quốc), vận chuyển vũ khí, tài liệu và đón các cán bộ từ nước ngoài trở về. Pác Bó chỉ cách biên giới vài trăm mét, tạo điều kiện liên lạc cực kỳ thuận tiện. (iii) Lợi thế mở rộng và kết nối: Từ Cao Bằng, thông qua quốc lộ 3 và các đường mòn, có thể dễ dàng nối xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên - trung tâm của vùng công nghiệp và nông nghiệp nhỏ, từ đó lan tỏa ảnh hưởng ra toàn quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thấy rõ vị trí chiến lược của Cao Bằng. Người cho biết: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ”(5).

Thứ hai, địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh, tạo thành “thành lũy thiên nhiên”. Hơn 90% diện tích Cao Bằng là đồi núi, chủ yếu là núi đá vôi và núi đất. Địa hình này tạo ra một không gian phòng thủ tự nhiên lý tưởng. Địa hình núi đá vôi tạo ra hệ thống hang động, hốc đá chằng chịt (như hang Cốc Bó, Ngườm Vừ, Slí Điếng) cung cấp nhiều địa điểm ẩn náu, hội họp, cất giấu tài liệu, in ấn bí mật mà kẻ địch khó lòng phát hiện. Hang Cốc Bó, nơi Bác ở, có cửa hang khuất sau khe đá, bên trong rộng rãi, khô ráo.

Với đặc điểm địa hình bị cắt xẻ lớn bởi núi non, sông suối và rừng rậm, tạo nên một cấu trúc không gian khó kiểm soát đối với các lực lượng hành chính và quân sự từ bên ngoài, tạo thành “thành lũy” tự nhiên. Cùng với đó, đầu những năm 40 của thế kỷ XX, điều kiện giao thông ở Cao Bằng hết sức khó khăn, các tuyến đường chủ yếu là đường mòn, lối rừng, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và tri thức bản địa. Thông qua đặc điểm địa hình và tình trạng giao thông hạn chế là trở ngại, gây khó khăn cho các hoạt động tuần tra, càn quét của thực dân Pháp. Nhiều vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp khiến cho bộ máy cai trị của Pháp không thể vươn tới, tạo điều kiện để xây dựng cơ sở, phát triển phong trào cách mạng. Ngoài ra, ở Cao Bằng lúc này có độ che phủ rừng lớn, tạo thành một “tấm màn xanh” khổng lồ, che chắn mọi hoạt động di chuyển, tập trung, liên lạc của lực lượng cách mạng. Rừng còn là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men tại chỗ.

Thứ ba, nguồn tài nguyên tại chỗ bảo đảm khả năng tự túc. Các thung lũng nhỏ hẹp (lòng chảo) như Hòa An, Nguyên Bình cho phép canh tác lúa, ngô, sắn. Nguồn lâm thổ sản phong phú từ rừng (măng, rau, thú, củi, thuốc nam) giúp bổ sung đáng kể nhu cầu sinh hoạt. Điều này cực kỳ quan trọng đối với một căn cứ bí mật, cần hạn chế tối đa việc tiếp tế từ bên ngoài dễ bị lộ.

Như vậy, “địa lợi” của Cao Bằng không đơn thuần là địa hình hiểm trở, mà là một hệ sinh thái chiến lược hoàn chỉnh, gồm cả biên giới, núi cao - hang động, rừng rậm, sông suối, thung lũng…, tạo ra một không gian vừa khép kín về mặt an ninh, vừa mở về mặt chiến lược.

Yếu tố “nhân hòa” là cơ sở chính trị, xã hội vững chắc và lòng dân hướng về cách mạng. Đây là yếu tố quan trọng nhất, là linh hồn của căn cứ địa.

Thứ nhất, nhân dân Cao Bằng có truyền thống yêu nước, cách mạng. Cao Bằng là một trong những cái nôi của cách mạng miền núi phía Bắc. Cư dân Cao Bằng chủ yếu là người Tày, Nùng, ngoài ra còn có đồng bào Mông, Dao sinh sống ở vùng núi đá cao; đồng bào Sán Chay (Sán Chỉ), Sán Dìu, Ngái, Lô Lô… Các dân tộc với truyền thống tương thân tương ái, gắn bó chặt chẽ, có tinh thần tự tôn dân tộc cao. Điều kiện sống khắc nghiệt rèn luyện cho đồng bào ý chí kiên cường và khả năng sinh tồn. Dưới sự thống trị của thực dân Pháp và bọn chúa đất phong kiến tay sai, nhân dân Cao Bằng phải chịu sưu cao thuế nặng, lao dịch khổ sai, cướp bóc của thổ phỉ. Đặc biệt, công nhân các mỏ thiếc, sắt bị bóc lột dã man. Mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ở đây vô cùng gay gắt, tạo nên lòng căm thù và khát vọng giải phóng mãnh liệt.

Người dân Cao Bằng sớm giác ngộ cách mạng, cùng với lòng yêu nước truyền thống nhanh chóng được chuyển hóa thành ý thức cách mạng. Nhân dân không chỉ ủng hộ bằng tinh thần, mà bằng cả hành động thiết thực như che giấu cán bộ, nuôi dưỡng, dẫn đường, liên lạc, giữ bí mật tuyệt đối… Từ năm 1927, tại Cao Bằng đã xuất hiện nhiều cơ sở của Hội đánh Tây ở các tổng Tượng Yên, Nhượng Bạn, Hà Đàm (thuộc châu Hòa An). Sau đó, tổ chức yêu nước này còn phát triển lên Hà Quảng, lan sang Quảng Uyên và các châu khác trong tỉnh, đặc biệt là các khu vực đầu mối giao thông quan trọng và đông dân(6). Nhiều thanh niên yêu nước Cao Bằng sớm tham gia hoạt động cách mạng, trong đó tiêu biểu có đồng chí Hoàng Đình Giong. Năm 1928 tại Bản Đáy (Quảng Tây) các hội viên Hoàng Đình Giong (Cao Bằng), Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri (Lạng Sơn) được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, trở thành lớp thanh niên dân tộc Tày đầu tiên đến với cách mạng .

Thứ hai, tổ chức đảng ra đời sớm, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng. Ngày 1-4-1930, chi bộ đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập tại Nặm Lìn, xã Hoàng Tung, châu Hòa An do đồng chí Hoàng Văn Nọn (Nõn) làm Bí thư Chi bộ, đây là một trong những chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời sớm tại miền núi biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc(7). Điều này chứng tỏ hạt giống cách mạng đã được gieo trồng và bén rễ từ rất sớm. Đến tháng 7-1933, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng được thành lập, do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm Bí thư(8).

Từ năm 1931 đến năm 1935, dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng, phong trào quần chúng và đấu tranh cách mạng của nhân dân liên tục phát triển và được giữ vững qua nhiều cuộc khủng bố khốc liệt. Trong giai đoạn này, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng xúc tiến thành lập các tổ chức cách mạng quần chúng như: Cộng sản Đoàn, Công hội đỏ, Nông Hội đỏ… vận động nhân dân châu Hòa An, Nguyên Bình, Hà Quảng, thị xã… nhận nhiệm vụ làm giao thông liên lạc giữa các cơ sở đảng và giữa các cấp bộ đảng, đấu tranh chống bắt phu, đòi giảm thuế, đòi quyền tự do dân chủ(9)… Phong trào đấu tranh cách mạng từng bước phát triển dưới sự chỉ đạo của các châu ủy, giành được nhiều thắng lợi, góp phần động viên tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân. Còn ở Quảng Uyên, Thạch An, Phục Hòa tuy chưa có phong trào cách mạng mạnh mẽ nhưng bắt đầu gây dựng cơ sở quần chúng cách mạng bí mật giúp Đảng đưa đường cho cán bộ ra nước ngoài và đón cán bộ về nước chỉ đạo phong trào cách mạng.

Đến năm 1940, Cao Bằng đã trở thành một trong những địa phương có phong trào cách mạng mạnh nhất toàn quốc. Một hệ thống cơ sở chính trị rộng khắp đã hình thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các đồng chí được giao nhiệm vụ: “Ta ở bí mật, nhưng không thể bí mật với quần chúng được, trái lại, phải lấy quần chúng làm bình phong che đậy cho mình, báo tin cho mình”(10), và nhấn mạnh: “Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Nói chính trị, quân sự đi đôi thì dễ, nhưng làm thì khó. Chúng ta trở về Tổ quốc, việc trước tiên là phải có chỗ đứng chân. Lúc đầu là một điểm nhỏ, sau mở rộng thành điểm to, rồi thành căn cứ. Chỗ đứng chân phải vững chắc. Vững chắc nhất là lòng dân”(11).

Rước nước qua suối Lê-nin tại Lễ hội về nguồn Pác Bó (Cao Bằng)_Ảnh: baocaobang.vn

Thứ ba, tri thức bản địa và khả năng thích nghi cao. Đồng bào các dân tộc có vốn hiểu biết sâu sắc về địa hình, tập quán sinh tồn, đường mòn, đặc tính rừng núi. Tri thức này trở thành “vũ khí đặc biệt” giúp các cán bộ cách mạng, vốn phần lớn là người xuôi, nhanh chóng thích nghi, hòa nhập và hoạt động hiệu quả. Họ biết nơi nào có suối nước uống được, nơi nào có hang kín đáo, mùa nào đường nào đi được, cách nào để sống hòa hợp với rừng mà không bị lộ.

Thứ tư, sự hòa nhập và phương pháp vận động quần chúng tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản thân Người chính là nhân tố then chốt hiện thực hóa và phát huy tối đa yếu tố “nhân hòa”, với lối sống giản dị, hòa mình với nhân dân, người mặc trang phục nâu chàm, nói tiếng địa phương, ăn ở sinh hoạt như một người dân bản xứ, leo núi, lội suối, đi thăm hỏi từng nhà. Từ cụ già đến em nhỏ đều yêu quý, tin tưởng và bảo vệ “ông Ké”, “già Thu”. Sự hòa nhập đó đã biến “lòng dân” thành “thành đồng vách sắt” bảo vệ an toàn tuyệt đối cho lãnh tụ và tổ chức cách mạng trong suốt thời gian hoạt động ở Pác Bó.

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn Cao Bằng năm 1941 là một điển hình mẫu mực của sự kết hợp nhuần nhuyễn và sáng tạo ba yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Trong mối quan hệ tương hỗ, “thiên thời” tạo ra thời cơ, “địa lợi” cung cấp không gian vật chất, còn “nhân hòa” chính là lực lượng chủ thể, là động lực để biến thời cơ và không gian đó thành hiện thực cách mạng sống động. Sự hội tụ đầy đủ và hoàn hảo của ba yếu tố đã góp phần làm nên thành công của căn cứ địa Cao Bằng, đặt nền móng vững chắc cho mọi thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam sau này. Quyết định này còn khẳng định vai trò đặc biệt của Cao Bằng trong lịch sử dân tộc, biến một địa phương miền núi biên giới trở thành “đầu nguồn” của phong trào cách mạng cả nước. Cao Bằng không chỉ là nơi che chở, bảo vệ lãnh tụ và cán bộ cách mạng, mà còn là nơi hun đúc, lan tỏa những giá trị cốt lõi của cách mạng giải phóng dân tộc

Bài học kinh nghiệm đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, bài học từ sự lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ nhất, xây dựng căn cứ và chiến lược phát triển các vùng biên giới, hải đảo. Phát huy tối đa lợi thế vị trí để xây dựng các tỉnh biên giới thành những vùng kinh tế - quốc phòng - an ninh tổng hợp, linh hoạt. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển kinh tế biên giới xanh, phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ hệ sinh thái rừng đầu nguồn, cảnh quan với phát triển du lịch sinh thái - lịch sử - văn hóa cộng đồng chất lượng cao. Cần đầu tư hạ tầng giao thông, viễn thông, logistics tại các cửa khẩu và vùng sâu theo hướng lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm khả năng cơ động, hiệp đồng chiến đấu khi cần. Chú trọng phát triển các tỉnh biên giới trở thành hành lang liên kết kinh tế, thu hút đầu tư, tạo việc làm, từ đó tăng cường sức mạnh nội tại của địa bàn.

Thứ hai, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc - yếu tố cốt lõi của “nhân hòa” trong thời đại mới. Bài học về sức mạnh của nhân dân từ thực tiễn Cao Bằng tiếp tục được khẳng định giá trị bền vững trong bối cảnh mới. “Lòng dân” chỉ được củng cố khi dựa trên đường lối, chính sách đúng đắn và sự nêu gương, liêm chính của đội ngũ cán bộ. Các chính sách dân tộc, an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững phải được triển khai thực chất, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; cán bộ cơ sở cần gần dân, kịp thời giải quyết những bức xúc nảy sinh từ đời sống. Bên cạnh đó, cần phát huy hiệu quả vốn xã hội và tri thức bản địa, tôn trọng vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch cộng đồng. Trên cơ sở đó, tiếp tục đổi mới công tác dân vận phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên số. Bên cạnh cách thức truyền thông truyền thống, cần sử dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông xã hội, truyền thông đa phương tiện để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách, kết nối và lắng nghe ý kiến nhân dân.

Thứ ba, nâng cao tư duy chiến lược và khả năng thích ứng với bối cảnh biến động và phức tạp. Bối cảnh hiện nay với những biến động địa chính trị nhanh, khó lường đòi hỏi phải nắm bắt thời cơ, nâng cao năng lực dự báo chiến lược và phân tích rủi ro. Cần xây dựng các trung tâm nghiên cứu chiến lược đủ mạnh để phân tích các xu thế dài hạn, nhận diện cả cơ hội, nguy cơ từ những biến động toàn cầu để chủ động ứng phó. Bài học về khả năng tự túc của căn cứ Cao Bằng nhắc nhở về tầm quan trọng của an ninh lương thực, năng lượng, chuỗi cung ứng thiết yếu. Chúng ta cần xây dựng nền kinh tế tự chủ, có sức chống chịu cao. Phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hóa thị trường, đối tác, nâng cao hàm lượng nội địa, giảm thiểu sự phụ thuộc đơn phương vào bất kỳ thị trường hay đối tác nào. Song song đó, cần chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong công tác đối ngoại, vừa kiên định nguyên tắc bảo vệ chủ quyền, vừa khéo léo, linh hoạt trong sách lược, biến những thách thức trong quan hệ quốc tế thành cơ hội để khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Thứ tư, về mô hình lãnh đạo, quản trị gắn bó với nhân dân. Tư tưởng gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học sâu sắc về đạo đức và phương pháp lãnh đạo. Hình ảnh Bác Hồ với lối sống giản dị, gắn bó, chia sẻ cùng nhân dân đã trở thành biểu tượng sinh động của “sức mạnh mềm” văn hóa, có sức thuyết phục lớn lao. Trong bối cảnh hiện nay, bài học đó đặt ra yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự phát huy vai trò nêu gương, nói đi đôi với làm, lấy đạo đức và lối sống trong sạch làm nền tảng xây dựng uy tín, tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quyết định lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 là kết quả của quá trình tư duy khoa học, toàn diện và biện chứng, nơi các yếu tố khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, thời cuộc và con người. Những bài học rút ra từ sự kiện lịch sử này vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự. Trong kỷ nguyên phát triển mới, việc vận dụng sáng tạo tinh thần cốt lõi của các bài học trên để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, vượt qua mọi thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc vẫn còn nguyên giá trị./.

------------------------

(1) Cột mốc số 108 được dựng theo Hiệp ước Pháp - Thanh cuối thế kỷ XIX. Theo Hiệp định biên giới Việt Nam - Trung Quốc năm 1999, tại sát vị trí cột mốc số 108 trước đây là cột mốc số 675, được xây dựng năm 2001
(2) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 24
(3) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quyển 1 (1930-1945) (xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 523
(4) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Sđd, tr. 25
(5) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr. 37
(6) Đảng bộ tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 41
(7) Đảng bộ tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2020), Sđd, tr. 44 - 45
(8) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quyển 1 (1930-1945), Sđd, tr. 226
(9) Trường Hà: Vì sao Bác chọn Cao Bằng là nơi trở về sau 30 năm đi tìm đường cứu nước?, Báo Quân đội nhân dân, ngày 4-6-2021, https://www.qdnd.vn/ky-niem-110-nam-ngay-bac-ho-ra-di-tim-duong-cuu-nuoc/chuyen-ve-nguoi/vi-sao-bac-chon-cao-bang-la-noi-tro-ve-sau-30-nam-di-tim-duong-cuu-nuoc-661504
(10) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Sđd, tr. 28
(11) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 255