TCCSĐT - Quán triệt sâu sắc quan điểm bình đẳng giới; giới thiệu, lựa chọn một số lượng tương đối lớn người ứng cử là nữ có đủ tiêu chuẩn, trình độ, phẩm chất và chỉ đạo thật sát sao, chặt chẽ, khách quan, công bằng việc bố trí họ vào danh sách chính thức những người ứng cử tại các đơn vị bầu cử là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần nâng cao số lượng và tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII.

1. Tỷ lệ đại biểu nữ qua các kỳ bầu cử Quốc hội

Khóa

Ngày bầu

Tổng số đại biểu

Đại biểu nữ

Tỷ lệ nữ

I

6-1-1946

333(1)

10

3,00%

II

8-5-1960

362

49

13,53%

III

26-4-1964

366

62

16,93%

IV

11-4-1971

420

125

29,76%

V

6-4-1975

424

137

32,31%

VI

25-4-1976

492

132

26,82%

VII

26-4-1981

496

108

21,77%

VIII

19-4-1987

496

88

17,74%

IX

19-7-1992

395

73

18,48%

X

20-7-1997

450

118

26,22%

XI

19-5-2002

498

136

27,31%

XII

20-5-2007

493

127

25,76%

Qua các số liệu ở bảng trên có thể thấy sự "thăng, trầm" về số lượng và tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (ĐBQH) qua các khóa và các thời kỳ. Cụ thể là, các khóa bầu cử ĐBQH trong thời kỳ chiến tranh (từ khóa I đến khóa V) có sự "thăng tiến" cả về số lượng tuyệt đối và tỷ lệ nữ đại biểu (về số lượng: khóa I có 10 đại biểu; khóa II: 49; khóa III: 62; khóa IV: 125 và khóa V: 137; về tỷ lệ: từ 3% ở khóa I tăng liên tục tới 32,31% ở khóa V). Bảy khóa bầu cử trong thời kỳ hòa bình, xây dựng lại đất nước (từ khóa VI đến khóa XII) có sự biến động rất lớn, về số lượng đại biểu nữ giảm từ 137 đại biểu (khóa V - giai đoạn cuối chiến tranh) xuống 132 đại biểu (khóa VI - giai đoạn bắt đầu hòa bình xây dựng lại đất nước trên phạm vi cả nước), giảm mạnh còn 73 đại biểu (khoá IX); đến khóa X, số lượng đại biểu nữ có xu hướng tăng trở lại và đạt đỉnh cao là 136 đại biểu (khóa XI), nhưng lại giảm xuống còn 127 đại biểu (khóa XII). Về tỷ lệ đại biểu nữ cũng giảm từ 32,31% (khóa V) xuống còn 18,48% (khóa IX), tăng lên 26,22% (khoá X); 27,31% (khóa XI), và lại giảm xuống 25,76% (khoá XII), trong khi tỷ lệ đại biểu nữ cần đạt là 30% trở lên.

Mặc dù, Việt Nam đã được Liên minh Nghị viện thế giới xếp vào những nước có tỷ lệ nữ ĐBQH tương đối cao (đứng thứ 13 trong số 171 nước có số liệu), tuy nhiên xét về tiềm năng và tỷ lệ dân số nữ, cũng như so sánh với một số khóa bầu cử Quốc hội trong thời kỳ chiến tranh, rõ ràng sự tiến bộ cả về số lượng và tỷ lệ đại biểu nữ vẫn còn chưa tương xứng.

2. Một số giải pháp nhằm nâng cao số lượng và tỷ lệ nữ ĐBQH khóa XIII

Một là, thể hiện rõ ràng quan điểm bình đẳng giới ở tất cả các cấp, ngành, tổ chức, các đơn vị giới thiệu, lựa chọn người ứng cử ĐBQH và những người phục vụ công tác chuẩn bị bầu cử. Với hơn 51% dân số và lao động cả nước là nữ, việc lựa chọn bầu ra 150 ĐBQH trở lên là phụ nữ hoàn toàn không khó khăn. Vấn đề chủ yếu đặt ra là phải gạt bỏ được những “lưỡng lự”, “thiếu khách quan”… trong quan niệm của một số người có trách nhiệm, và trong một chừng mực nhất định, ở một số chị em.

Hai là, hiệp thương giới thiệu, lựa chọn một số lượng tương đối lớn người ứng cử là nữ có đủ tiêu chuẩn, trình độ, phẩm chất. Thực tế các cuộc bầu cử ĐBQH khóa XI và XII cho thấy, tỷ lệ nữ đạt khá cao khi giới thiệu (ví dụ, sau hiệp thương lần thứ 3, tỷ lệ nữ ứng cử viên ở cả Trung ương và địa phương khóa XI đạt 33,86%, khóa XII là 32,91%, riêng trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII có 7 tỉnh, thành phố sau hiệp thương lần thứ 3, số nữ ứng cử viên đạt rất cao, từ 54,54% đến 75% so với tổng số người ứng cử), nhưng khi bầu cử, kết quả đạt rất thấp so với mục tiêu đặt ra là 30% trở lên.

Đặc biệt, ở cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII có 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không có nữ ứng cử viên nào của địa phương trúng cử; có thành phố giới thiệu tới 11 nữ ứng cử viên nhưng tất cả đều không trúng cử; có tỉnh giới thiệu 9 ứng cử viên là nữ và 5 ứng cử viên là nam thì cả 9 ứng viên nữ đều không trúng cử, còn 5 ứng viên nam đều trúng cử… Điều đó cho thấy, việc giới thiệu đủ số lượng nữ ứng cử không khó, mà vấn đề cần được đặc biệt quan tâm là chất lượng.

Tuy nhiên, trên thực tế, cũng còn nhiều người có đủ tiêu chuẩn, phẩm chất, trình độ nhưng không được giới thiệu, lựa chọn. Những hạn chế này rất cần được nhanh chóng khắc phục trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIII.

Ba là, việc bố trí những người trong danh sách ứng cử chính thức vào các đơn vị bầu cử cần khách quan, công bằng, tránh tình trạng bố trí không hài hòa giữa những người ứng cử là nam và nữ (về trình độ, vị thế) trong một đơn vị bầu cử, thậm chí quá chênh lệch và bất lợi cho nữ. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội hiện hành chưa quy định cụ thể việc sắp xếp những người trong danh sách ứng cử chính thức vào các đơn vị bầu cử, chỉ quy định số người trong danh sách ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó. Vì vậy, trong các cuộc bầu cử trước, có một số đơn vị bầu cử tuy chưa tiến hành bầu nhưng nhìn vào danh sách niêm yết, có thể dự đoán được người sẽ trúng cử và người không trúng cử. Thí dụ, tại cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII, trong số 182 đơn vị bầu cử của cả nước, có khoảng 10% số đơn vị sắp xếp những người ứng cử trong một đơn vị có các trình độ và vị thế (chức vụ) quá chênh lệch, bất lợi cho ứng cử nữ. Chẳng hạn, có đơn vị bầu cử sắp xếp 2 nữ ứng cử viên làm việc gia đình, 1 nữ ứng cử viên là nhân viên phục vụ vào cùng danh sách với 1 ứng cử viên của Trung ương và 1 ứng cử viên là Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; hoặc có đơn vị sắp xếp 2 nữ ứng cử viên là cán bộ của một Sở vào cùng danh sách với 1 ứng cử là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, 1 ứng cử của Trung ương và 1 ứng cử là Giám đốc bệnh viện; có đơn vị sắp xếp 3 nữ ứng cử viên của địa phương, 1 nữ ứng cử của Trung ương và 1 ứng cử nam là Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh vào cùng một danh sách…

Trong tất cả các đơn vị bầu cử, khi sắp xếp danh sách những người ứng cử chênh lệch quá mức về trình độ và cương vị công tác thì hầu như các nữ ứng cử viên của địa phương đều không trúng cử. Vì thế, trong lần bầu cử Quốc hội khóa XIII này, việc hướng dẫn, giám sát, phát hiện những hiện tượng nêu trên để điều chỉnh cho hợp lý trước khi công bố danh sách chính thức là hết sức cần thiết. Những người ứng cử là nữ đủ tiêu chuẩn, đúng cơ cấu được lựa chọn sau 3 lần hiệp thương cần được sắp xếp một cách hợp lý, hài hòa, dân chủ, công bằng giữa những người ứng cử trên tinh thần quán triệt quan điểm bình đẳng giới.

Bốn là, tạo điều kiện cho cử tri hiểu rõ từng người ứng cử. Sau khi niêm yết danh sách những người ứng cử, vai trò lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng. Tổ chức cho cử tri thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố mạn đàm về tiểu sử, chương trình hành động của từng người ứng cử có liên hệ, đối chiếu với 5 tiêu chuẩn ĐBQH là công việc cần thiết và hết sức quan trọng để tạo điều kiện cho cử tri hiểu rõ từng người ứng cử và cân nhắc, lựa chọn kỹ lưỡng, khách quan trước khi đi bỏ phiếu, bảo đảm lựa chọn được đúng người có bản lĩnh, đủ tiêu chuẩn, đúng số lượng và phù hợp với cơ cấu (trong đó có cơ cấu đại biểu nữ) vào Quốc hội khóa XIII./.
 
-------------------------------------------------

(1) Không tính 70 đại biểu bổ sung của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội không qua bầu cử.