Phát triển kinh tế di sản gắn với kinh tế xanh nhằm bảo đảm an ninh sinh thái, nâng cao chất lượng tăng trưởng ở tỉnh Ninh Bình
TCCS - Tỉnh Ninh Bình có quần thể danh thắng Tràng An - di sản thế giới kép - cùng hệ thống di tích, làng nghề và cảnh quan đặc trưng sông - núi, thuận lợi để phát triển kinh tế di sản theo hướng xanh và bền vững. Những năm gần đây, lượng khách và doanh thu du lịch phục hồi tích cực, đóng góp cho tăng trưởng dịch vụ và cải thiện sinh kế người dân. Song, sức ép hạ tầng giờ cao điểm, môi trường nước - rác thải, trật tự và an toàn du lịch đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm từ “mở rộng số lượng” sang “nâng cao chất lượng”, quản trị theo sức chịu tải, giữ gìn “an ninh sinh thái” vùng di sản.
Yêu cầu mới
Tỉnh Ninh Bình có quần thể danh thắng Tràng An - di sản thế giới kép - cùng hệ thống hang động, núi đá vôi, làng nghề và quỹ di tích dày đặc, tạo lợi thế nổi trội để hình thành một cực tăng trưởng du lịch di sản ở đồng bằng sông Hồng. Trong những năm gần đây, định hướng phát triển du lịch xanh, an toàn, có sự tham gia của cộng đồng được tỉnh quán triệt và tổ chức thực hiện, coi người dân là trung tâm của mô hình quản trị điểm đến.
Sau đại dịch COVID-19, ngành du lịch tỉnh Ninh Bình phục hồi khá rõ: năm 2022 đón khoảng 3,7 triệu lượt, doanh thu ước 3.000 tỷ đồng; năm 2023 đạt trên 6,6 triệu lượt, doanh thu 5.600 tỷ đồng; năm 2024 đạt khoảng 7,1 triệu lượt, doanh thu đạt khoảng 6.400 tỷ đồng, qua đó tiếp tục kéo dịch vụ địa phương phục hồi và tạo việc làm cho khu vực dân cư vùng di sản. Các con số thống kê phản ánh vai trò ngày càng lớn của du lịch trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh, đồng thời tạo “độ mở” sinh kế cho hàng chục nghìn lao động trực tiếp và gián tiếp (lái đò, lưu trú, ẩm thực, thủ công…).
Sự gia tăng nhanh về lượng khách nếu không được quản trị tốt sẽ tạo sức ép lên hạ tầng bến thuyền, chất lượng nước, tiếng ồn và sinh cảnh đặc hữu vùng lõi Tràng An. Vì vậy, mục tiêu chuyển từ “tăng theo số lượng” sang “giữ vững chất lượng” đã được tỉnh và các chủ thể điểm đến triển khai: quy định ngưỡng chịu tải theo mùa - theo tuyến, tăng cường giữ gìn môi trường nước và rừng Hoa Lư, tổ chức vệ sinh mặt nước hằng ngày, kiểm soát hành vi du khách, lồng ghép truyền thông du lịch xanh cho cộng đồng chèo đò - kinh doanh dịch vụ. Đây là nền tảng để bảo đảm “an ninh sinh thái” của di sản - điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng bền vững của kinh tế di sản tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn tới.
Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Những năm gần đây, lượng khách và doanh thu du lịch tăng đều, góp phần quan trọng vào cơ cấu dịch vụ của tỉnh và tạo thêm việc làm tại khu vực di sản. Cùng với kết quả đạt được cũng nổi lên một số thách thức, như quá tải cục bộ tại bến - tuyến vào giờ cao điểm; nguy cơ ô nhiễm cục bộ do rác thải và nước thải nhỏ lẻ; trật tự du lịch chưa đồng đều; dữ liệu điều hành còn phân tán; phối hợp hiện trường sau sáp nhập đơn vị hành chính cần tiếp tục chuẩn hóa. Những vấn đề này nếu không xử lý kịp thời thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng điểm đến và “an ninh sinh thái”.
Áp lực hạ tầng theo mùa và theo giờ cao điểm ngày càng rõ. Lượng khách dồn vào khung giờ sáng - trưa, tập trung ở các bến thuyền và các tuyến hang động, tạo nên các “điểm nghẽn” cục bộ: ùn ứ tại bến, tiếng ồn tăng, rác phát sinh nhiều, thời gian chờ kéo dài. Hệ thống cơ sở dịch vụ quanh vùng lõi - vùng đệm còn chắp vá: bãi đỗ xe tạm, biển chỉ dẫn chưa thống nhất, thiếu nhà vệ sinh đạt chuẩn. Tình trạng này làm giảm trải nghiệm, đồng thời đẩy rủi ro an toàn - cứu hộ tăng trong những ngày cao điểm lễ hội, cuối tuần.
Môi trường nước và chất thải rắn là khâu “nhạy cảm”. Ở khu vực bến - nhà hàng ven tuyến, việc xử lý nước thải quy mô nhỏ chưa phủ kín; phân loại rác tại nguồn đã triển khai nhưng chưa đồng đều; tình trạng sử dụng nhựa dùng một lần vẫn phổ biến trong giờ cao điểm. Do đặc thù thủy hệ kín (đầm - hồ - hang - suối ngầm), chỉ cần một mắt xích xử lý không đạt chuẩn là dễ ảnh hưởng đến cả tuyến. Công tác quan trắc nước mặt, kiểm soát dầu mỡ bếp, và thu gom - trung chuyển rác cần thường xuyên hơn, có bảng thông tin công khai tại bến/tuyến để cộng đồng cùng giám sát.
Trật tự - an ninh du lịch đòi hỏi “kỷ cương mềm”. Hành vi thiếu chuẩn mực (mở loa lớn, neo đậu đò không đúng vị trí, xả rác, chen lấn khi cao điểm) vẫn xuất hiện lẻ tẻ, nhất là ở các điểm dịch vụ tự phát. Lực lượng hướng dẫn - hỗ trợ tại chỗ còn mỏng vào giờ cao điểm; kỹ năng sơ cấp cứu, ứng xử với du khách quốc tế chưa đồng đều. Khi trật tự mềm bị phá vỡ, chi phí kiểm soát cứng (xử phạt, cưỡng chế) tăng, trong khi hình ảnh điểm đến bị ảnh hưởng.
Chuyển đổi số trong quản lý dòng khách và chất lượng dịch vụ còn phân tán. Một số nơi đã thí điểm đặt vé điện tử, thanh toán không tiền mặt, nhưng dữ liệu lưu lượng, phản ánh hiện trường, kiểm tra môi trường chưa liên thông về một đầu mối điều hành. Vì thiếu “bảng điều khiển chung”, việc điều tiết dòng khách giữa các tuyến/khung giờ và phản ứng nhanh với sự cố môi trường - an toàn còn chậm nhịp.
Sinh kế cộng đồng vùng đệm có cải thiện nhưng chưa đồng đều về chuẩn “xanh - sạch - an toàn”. Nhiều hộ đã tham gia dịch vụ vận chuyển, homestay, ẩm thực, sản phẩm làng nghề; song không phải cơ sở nào cũng đạt tiêu chí vệ sinh, xử lý nước thải nhỏ lẻ, giảm nhựa dùng một lần, hay tiêu chí an toàn phòng cháy chữa cháy. Chuỗi sản phẩm OCOP/làng nghề kết nối với tuyến du lịch chính còn mờ nhạt; câu chuyện nguồn gốc - tiêu chuẩn môi trường của sản phẩm địa phương chưa được kể rõ cho du khách.
Hiệu quả phối hợp dọc - ngang sau sắp xếp đơn vị hành chính cần tiếp tục siết chặt. Vai trò Ban Quản lý Quần thể Danh thắng, Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường, công an - quân sự địa phương, chính quyền cấp huyện/xã và doanh nghiệp đã được xác lập, nhưng quy trình phối hợp hiện trường (điều tiết bến - tuyến, cứu hộ, xử lý rác, công bố cảnh báo môi trường, tiếp nhận phản ánh) vẫn cần quy chuẩn hóa thành “quy trình thao tác chuẩn” thống nhất, có đầu mối điều hành và đường dây nóng công khai.
Rủi ro khí hậu - thời tiết cực đoan xuất hiện thường xuyên hơn. Mưa lớn, lũ quét cục bộ có thể làm gián đoạn du lịch tuyến hang động, gây sạt lở nhỏ, cản trở giao thông, gom khách. Kế hoạch ứng phó cần có kịch bản chi tiết theo cấp độ: dừng tuyến - phân luồng khách - bố trí phương án thay thế, đồng thời diễn tập định kỳ với lực lượng tại chỗ (bến thuyền, doanh nghiệp, cộng đồng).
Yêu cầu “an ninh sinh thái” gắn với “an toàn du lịch” ngày càng cao. Không chỉ bảo vệ di sản tự nhiên, mà còn bảo đảm an toàn cho du khách, tài sản và trật tự công cộng. Điều này đòi hỏi chuẩn ứng xử, lực lượng hỗ trợ, hệ thống camera - báo động điểm, và cơ chế phối hợp nhanh giữa lực lượng chức năng với tổ tự quản cộng đồng.
Tóm lại, bức tranh thực trạng cho thấy “điểm sáng” về tăng trưởng khách và sinh kế đi cùng “điểm nóng” về hạ tầng giờ cao điểm, môi trường nước - rác thải, kỷ cương du lịch, phân tán dữ liệu quản lý và năng lực bảo đảm an toàn, nhất là khi thời tiết cực đoan. Đây là cơ sở để các giải pháp quản trị theo sức chịu tải, chuẩn hóa “điểm đến xanh”, siết trật tự mềm, chuyển đổi số điều hành và củng cố sinh kế cộng đồng được thiết kế theo hướng dễ làm - dễ đo - dễ giám sát.
Một số giải pháp
Một là, tổ chức lại lưu lượng khách theo “sức chịu tải” của từng bến - tuyến. Tỉnh công bố khung giờ và số lượt tối đa theo ngày, bán vé theo khung giờ trên cả quầy và ứng dụng; khi chạm ngưỡng, hệ thống tự động chuyển khách sang tuyến/khung giờ dự phòng. Khuyến khích bằng giá vé thấp hơn ở giờ vắng và combo tham quan điểm đệm (làng nghề, nông nghiệp sinh thái). Mục tiêu rất cụ thể giảm 20 - 30% thời gian chờ tại bến vào mùa cao điểm, không để hình thành “điểm nghẽn” kéo dài.
Hai là, áp dụng bộ tiêu chí “điểm đến xanh” tối thiểu, đồng loạt ở bến thuyền, nhà hàng ven tuyến, homestay. Tiêu chí: tách dầu mỡ bếp, bể lắng - lọc nhỏ; phân loại rác tại nguồn; không dùng nhựa một lần trong khu phục vụ; nhà vệ sinh đạt chuẩn; có sổ ghi chép vệ sinh hằng ngày. Ban quản lý chấm điểm A/B/C mỗi 6 tháng và công bố trên cổng du lịch của tỉnh; cơ sở hạng A được treo biển nhận diện, ưu tiên trên các nền tảng số và tiếp cận gói hỗ trợ lãi suất khi đầu tư thiết bị xử lý nhỏ gọn. Như vậy, tiêu chuẩn trở thành “tấm vé” để tham gia - không phải khẩu hiệu.
Ba là, siết “kỷ cương mềm” về trật tự - an ninh du lịch. Chuẩn hóa quy tắc ứng xử tại bến - trên thuyền: không xả rác, không mở loa, không neo đậu sai vị trí; lắp camera ở các điểm dễ ùn ứ, gắn mã QR cho từng thuyền để định danh lái thuyền, kiểm tra an toàn và truy vết khi cần. Lực lượng điều phối giờ cao điểm theo ca, có tuyến tuần tra hỗn hợp (ban quản lý - công an - dân phòng) và điểm ứng cứu nhanh với phao cứu sinh, tủ thuốc, bộ đàm. Vi phạm bị xử phạt nguội, công khai trên bảng tin điện tử để răn đe.
Bốn là, chuyển đổi số đồng bộ theo nguyên tắc “một bảng điều khiển - một kênh phản hồi”. Trung tâm điều hành du lịch tỉnh hợp nhất dữ liệu vé điện tử, lưu lượng theo thời gian thực, phản ánh hiện trường và quan trắc môi trường nước - không khí vào một dashboard. Ứng dụng di động hiển thị số chỗ trống theo khung giờ, thời gian chờ ước tính, cảnh báo thời tiết, bản đồ nhà vệ sinh đạt chuẩn và bãi đỗ xe còn chỗ. Mọi kiến nghị của du khách - doanh nghiệp được trả lời trong 48 giờ làm việc; thống kê phản hồi công bố hằng tháng để điều chỉnh phục vụ.
Năm là, nâng chuẩn sinh kế cộng đồng theo hướng “xanh - an toàn - chuyên nghiệp”. Tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn ngày cho lái thuyền, chủ homestay, hộ kinh doanh về sơ cấp cứu, an toàn thực phẩm, xử lý rác - nước thải nhỏ lẻ và giao tiếp cơ bản với khách quốc tế. Kết nối Mỗi xã 1 sản phẩm (OCOP)/làng nghề vào tour: mỗi hành trình có ít nhất một điểm dừng “sạch - thật - có truy xuất nguồn gốc”. Cơ sở tuân thủ tốt được ưu tiên trên ứng dụng tỉnh và trong gói sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành, bảo đảm lợi ích người dân gắn với bảo tồn.
Sáu là, tập trung đầu tư “nhỏ mà trúng” vào các điểm nghẽn hạ tầng: làn vào - ra tại bến, bãi đỗ đệm, biển chỉ dẫn đa ngữ, nhà vệ sinh đạt chuẩn du lịch có nhân sự vệ sinh theo ca. Giao cấp huyện/xã làm chủ đầu tư, sử dụng một phần nguồn thu từ vé và xã hội hóa từ doanh nghiệp hưởng lợi; nghiệm thu gắn với chỉ số rất rõ: giảm phút chờ, tăng điểm hài lòng du khách, giảm phản ánh về vệ sinh - chỉ dẫn.
Bảy là, chủ động kịch bản khí hậu và an toàn trong điều kiện cực đoan. Xây dựng ba cấp kịch bản mưa lớn/lũ quét: (i) cảnh báo sớm - điều tiết lưu lượng, (ii) tạm dừng một số hang/tuyến - chuyển khách sang điểm đệm, (iii) dừng toàn tuyến - sơ tán theo bến/nhánh. Diễn tập định kỳ với doanh nghiệp, cộng đồng và lực lượng cứu hộ; chuẩn bị sẵn “gói thay thế” như tham quan làng nghề, bảo tàng, tuyến bộ để không đứt gãy trải nghiệm.
Tám là, hoàn thiện cơ chế phối hợp dọc - ngang sau sắp xếp đơn vị hành chính. Chỉ định một đầu mối duy nhất (Trung tâm điều hành du lịch tỉnh) và ban hành “quy trình thao tác chuẩn” liên thông giữa ban quản lý, Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường, công an - quân sự địa phương và ủy ban nhân dân cấp huyện/xã. Mỗi quy trình (điều tiết bến - tuyến, cứu hộ, công bố chất lượng môi trường, xử lý rác, tiếp nhận phản ánh) đều có sơ đồ bước, thời hạn, người chịu trách nhiệm và được công khai. Đường dây nóng duy nhất tích hợp vào ứng dụng du lịch, tránh phân tán thông tin.
Chín là, bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững bằng cơ chế “vé theo khung giờ” và quỹ môi trường du lịch. Phần chênh lệch giá giữa giờ cao điểm - thấp điểm cùng một phần doanh thu vé được trích lập thành quỹ môi trường du lịch cấp tỉnh, dùng cho quan trắc nước - không khí, thu gom - trung chuyển rác, bảo dưỡng nhà vệ sinh, tập huấn cộng đồng. Thu - chi công khai theo quý; phân bổ gắn với mức hoàn thành tiêu chí “điểm đến xanh” của từng bến - tuyến - địa phương, tạo động lực thi đua lành mạnh.
Mười là, truyền thông thay đổi hành vi dựa trên số liệu. Tổ chức chiến dịch “Tràng An - trải nghiệm xanh, trật tự mềm”, nhấn mạnh ba “không”: không xả rác - không ồn - không chen lấn. Ngay tại bến và trên ứng dụng, hiển thị số liệu theo ngày: thời gian chờ trung bình, tỷ lệ rác được phân loại - tái chế, số phản ánh đã xử lý, chỉ số nước tại các điểm đo. Khi người dân và du khách thấy được kết quả, họ sẽ đồng hành với lực lượng thực thi một cách tự giác hơn./.
Hào khí Đông A - Định vị di sản nhà Trần thành thương hiệu văn hóa chung  (10/10/2025)
Phát huy vai trò của đồng bào các tôn giáo trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình  (08/10/2025)
Ninh Bình tập trung lãnh đạo triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả  (08/10/2025)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
- Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm