Sứ mệnh của Quốc hội Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ I)
TCCS - Hơn tám mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội Việt Nam đã hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử hào hùng của đất nước. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Quốc hội cũng làm tròn sứ mệnh là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Trước yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới, Quốc hội tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng các hoạt động nhằm hoàn thiện thể chế, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan trưng bày ảnh tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6-1-1946 - 6-1-2026) _Ảnh: TTXVN
Thực tiễn cho thấy, trải qua 15 nhiệm kỳ, Quốc hội đã và đang không ngừng lớn mạnh, phát huy vị thế là trung tâm của hệ thống chính trị, thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Vai trò lịch sử của Quốc hội trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
Trải qua 5 nhiệm kỳ, từ khóa I đến khóa V, Quốc hội Việt Nam đã hoàn thành vai trò lịch sử lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thành lập Nhà nước đại diện cho tất cả các tầng lớp nhân dân, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (ngày 3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một trong những nhiệm vụ cấp bách là phải tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội diễn ra rất khẩn trương trong tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hết sức khó khăn, vừa phải tiến hành kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết những nhiệm vụ cấp bách hằng ngày đặt ra, vừa thực hiện sách lược tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, đồng thời vẫn phải đấu tranh để chống lại những hành động phá hoại điên cuồng của chúng(1). Do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước lúc bấy giờ, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên không phải là một cuộc Tổng tuyển cử thông thường, mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp và dân tộc hết sức gay go, phức tạp và quyết liệt(2). Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra trong không khí tưng bừng, phấn khởi trên khắp mọi miền đất nước. Mặc dù nhiều nơi chiến sự vẫn diễn ra căng thẳng, nhưng có tới 89% số cử tri tham gia bỏ phiếu, bầu ra 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một kỳ tích lịch sử, chứng minh sức mạnh đoàn kết và ý chí làm chủ của nhân dân Việt Nam. Thành công đó trước hết thuộc về đường lối lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã khởi xướng, chỉ đạo và động viên toàn dân tham gia cuộc bầu cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Quốc hội thống nhất cả nước, Quốc hội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Quốc hội kháng chiến và kiến quốc, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển dân chủ và phát huy chế độ dân chủ nhân dân, làm cơ sở cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khóa I kéo dài 14 năm, từ tháng 1-1946 đến tháng 5-1960, với 12 kỳ họp. Do trong điều kiện đấu tranh cách mạng (cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng tay sai), đất nước bị chia cắt, nên không thể tổ chức được một cuộc bầu cử trên cả nước để bầu Quốc hội khóa mới. Quốc hội khóa I đã thông qua hai bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, khẳng định chủ quyền quốc gia, xác định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và đặt nền móng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quốc hội khóa I đã quyết định các vấn đề quan trọng về kháng chiến, kiến quốc. Khi thực dân Pháp bội ước, xâm lược nước ta lần thứ hai, Quốc hội đã trao toàn quyền lãnh đạo kháng chiến cho Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội nhiều lần họp, kịp thời đưa ra những chủ trương chiến lược, động viên sức mạnh toàn dân cho kháng chiến, phát huy tinh thần “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”. Ngày 7-5-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp và bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Đây là một chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp và mở ra bước ngoặt mới cho cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng ba nước Đông Dương, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Từ tháng 7-1954 đến tháng 4-1975, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Trong điều kiện lịch sử mới của đất nước, tháng 7-1960, nhân dân miền Bắc đã tiến hành cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II. Kế thừa sự nghiệp của Quốc hội khóa I, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khóa II đến khóa V đã trải qua 16 năm hoạt động (từ tháng 7-1960 đến tháng 6-1976). Đây là những năm tháng hoạt động đầy thử thách quyết liệt trong bối cảnh chúng ta phải tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau - cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đặc biệt, từ năm 1965 trở đi, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, cả nước phải tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước - một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dài nhất, oanh liệt nhất đã giành được thắng lợi to lớn mang tầm vóc lịch sử vĩ đại và có tính thời đại sâu sắc. Quốc hội khóa V đã trở thành cầu nối lịch sử, khẳng định vai trò cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân, đồng thời đặt nền móng cho việc thành lập Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1976. Đây là biểu tượng của khát vọng hòa hợp, thống nhất dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên toàn đất nước.
Các đại biểu Quốc hội các khóa II, III, IV và V do cử tri miền Bắc bầu ra và các đại biểu Quốc hội khóa I do cử tri miền Nam bầu ra được Quốc hội quyết định lưu nhiệm trong nhiệm kỳ khóa II và khóa III là hình ảnh đẹp của khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi. Họ là những đại diện tiêu biểu của các đảng phái yêu nước và cách mạng (Đảng Lao động Việt Nam - nay là Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam); các đoàn thể nhân dân, các lực lượng vũ trang nhân dân, các giai cấp, các dân tộc thiểu số, các tôn giáo, các nhân sĩ trí thức yêu nước, tất cả đồng lòng, quyết tâm phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tổ chức của Quốc hội ngày càng hợp lý, chặt chẽ. Hoạt động của Quốc hội ngày càng được nâng cao về hiệu lực và hiệu quả. Trong 5 nhiệm kỳ, Quốc hội đã xây dựng và ban hành 2 bản Hiến pháp (năm 1946 và năm 1959), 20 đạo luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng và ban hành 20 pháp lệnh. Hiến pháp, luật và pháp lệnh đều nhằm phục vụ việc điều hành, quản lý của Nhà nước, kiện toàn bộ máy nhà nước, quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng và phát huy dân chủ đối với nhân dân, tăng cường chuyên chính đối với kẻ thù, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Quốc hội đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) và các kế hoạch phát triển kinh tế ngắn hạn trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiều khó khăn, phức tạp, song miền Bắc đã cơ bản hoàn thành các kế hoạch do Quốc hội thông qua, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ. Miền Bắc đã tạo ra tiềm lực to lớn, trở thành căn cứ địa, hậu phương vững chắc cho cách mạng trong cả nước với chế độ chính trị ưu việt, tiềm lực kinh tế, quốc phòng vững mạnh, đủ sức chiến đấu, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chi viện đủ sức người, sức của và cả tinh thần - chính trị cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Quốc hội cũng đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế đối với sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế để chiến đấu và chiến thắng các thế lực xâm lược.
Cử tri là đồng bào các dân tộc đang sinh hoạt thường xuyên tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 _Ảnh: TTXVN
Vai trò lịch sử của Quốc hội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước và tiến hành công cuộc đổi mới đất nước
Quốc hội khóa VI (1976 - 1981) và khóa VII (1981 - 1987) là những nhiệm kỳ Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, đặc nền móng quan trọng cho công cuộc đổi mới đất nước.
Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng tại Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), “đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Nhìn ra thế giới, có thể khẳng định: cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam đang ngày một nâng cao. Bạn bè năm châu biết đến Việt Nam như một dân tộc anh hùng trong đấu tranh giành độc lập, đồng thời là một đối tác tin cậy, một quốc gia yêu chuộng hòa bình và đang vươn lên mạnh mẽ về kinh tế. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó khẳng định chân lý: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(3). Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của đất nước, của dân tộc, có thể thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội đã nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng về sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng để thực hiện các hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, tăng cường hoạt động đối ngoại, đổi mới cơ cấu tổ chức một cách thống nhất, toàn diện, hiệu quả. Thông qua việc thực hiện các chức năng của mình, Quốc hội đã thể hiện vai trò to lớn và quan trọng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.
Lập pháp, tạo nền tảng pháp lý cho công cuộc đổi mới
Công cuộc đổi mới đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ. Là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, Quốc hội đã đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, tạo nền tảng pháp lý cho các hoạt động của đất nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Từ năm 1987 đến năm 2025, trải qua 7 nhiệm kỳ (từ khóa VIII đến khóa XV), Quốc hội đã xây dựng, ban hành 2 bản Hiến pháp(4); mỗi bản Hiến pháp đánh dấu một bước phát triển mới của đất nước ở mỗi giai đoạn lịch sử. Nếu Hiến pháp năm 1992 là bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ đổi mới, tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thì Hiến pháp năm 2013 là bản Hiến pháp đánh dấu thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế sâu rộng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trong thời kỳ mới. Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV xem xét, thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013. Đây là một nhiệm vụ mang tính chiến lược về chính trị - pháp lý, tạo cơ sở hiến định cho việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc. Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã xem xét, thông qua 51 luật và 39 nghị quyết, trong đó có 8 nghị quyết quy phạm pháp luật. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15, ngày 24-6-2023, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 136/2024/QH15, ngày 26-6-2024, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết số 258/2025/QH15, ngày 11-12-2025, về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô.
Bên cạnh đó, Quốc hội luôn coi trọng vai trò lập pháp với mục tiêu xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, phù hợp với thực tiễn; kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, bám sát yêu cầu của cuộc sống, phản ánh chân thực ý chí, nguyện vọng của cử tri và nhân dân. Do đó, công tác lập pháp không ngừng được cải thiện, nâng cao hiệu quả, chất lượng. Đặc biệt, từ Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV đến nay, Quốc hội đã đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật: chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, từ bị động sang chủ động kiến tạo sự phát triển; “pháp luật phải đi trước một bước, mở đường cho đổi mới sáng tạo, lấy cuộc sống và lợi ích của nhân dân làm thước đo của chính sách”(5); đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với trách nhiệm giải trình, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, triệt tiêu các lợi ích cục bộ và đặc quyền.
Giám sát tối cao, bảo đảm thực thi hiệu quả các chính sách đổi mới
Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội là một kênh đặc biệt quan trọng trong kiểm soát quyền lực nhà nước, được cử tri và nhân dân ủng hộ, đánh giá cao, trong đó việc xem xét báo cáo của các cơ quan được thực hiện có hiệu quả, có ý nghĩa quan trọng đối với việc kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát việc đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống, phù hợp với thực tiễn, giúp cho các cơ quan nhà nước kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm trong quá trình triển khai thực hiện. Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội không ngừng được đổi mới cả về phương pháp, nội dung chất vấn. Các phiên chất vấn diễn ra trong không khí dân chủ, sôi nổi, thẳng thắn, có tính xây dựng cao, làm rõ được trách nhiệm của người được chất vấn. Hoạt động giám sát chuyên đề được thực hiện có hiệu quả, tạo hiệu ứng tích cực trong xã hội, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với hoạt động của Quốc hội. Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn được tiến hành nghiêm túc, công khai, phát huy dân chủ trong hoạt động của cơ quan dân cử(6).
Kết quả lấy phiếu tín nhiệm là “thước đo” hiệu quả hoạt động của những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; đồng thời là nguồn động lực để những người được tín nhiệm cao tiếp tục phát huy, cống hiến, những người chưa được tín nhiệm cao sẽ tiếp tục phấn đấu khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả công việc. Việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được tăng cường, bảo đảm các văn bản đó được ban hành kịp thời, phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; phát hiện những nội dung không phù hợp hoặc chưa rõ ràng để kịp thời điều chỉnh nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Thông qua hoạt động giám sát tối cao, Quốc hội đã kịp thời phát hiện và điều chỉnh, bổ sung chính sách, pháp luật; phát huy tính tích cực, giảm thiểu những hệ lụy nảy sinh từ chính sách; chấn chỉnh kịp thời các sai sót, khuyết điểm, thúc đẩy các cơ quan hữu quan thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. Nội dung giám sát đã tập trung vào nhiều vấn đề bức xúc của cuộc sống, bao quát hầu hết các lĩnh vực, từ kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, đến văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát có tác động tích cực đến hoạt động lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và toàn bộ hoạt động của Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và giữ gìn trật tự, kỷ cương của đất nước(7).
Quyết định các vấn đề quan trọng, định hướng phát triển đất nước
Trong quá trình hình thành và phát triển, Quốc hội đã không ngừng hoàn thiện, tích cực và chủ động hơn trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như xem xét, quyết định các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng năm, kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế bảo đảm tính tổng thể, có sự gắn kết chặt chẽ giữa yêu cầu, nhiệm vụ và nguồn lực thực hiện. Quyết định chủ trương đầu tư nhiều dự án, công trình quan trọng quốc gia có quy mô, phạm vi và tầm ảnh hưởng lớn tới nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội; bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển văn hóa, xã hội với phát triển kinh tế. Xuất phát từ yêu cầu của thực tế, Quốc hội có những quyết định thể hiện tính kịp thời, quyết liệt để ứng phó với những tình huống bất thường, ban hành nhiều chính sách mới, chưa từng có tiền lệ để đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn(8); quyết định cơ chế, chính sách mang tính đột phá, tạo hành lang pháp lý về đổi mới tổ chức bộ máy, phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, các vấn đề quốc kế dân sinh, hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân…
Các quyết định của Quốc hội về những vấn đề quan trọng của đất nước là sự kế thừa, tiếp nối dòng chảy liên tục, không ngừng, luôn phát huy vai trò, trí tuệ tập thể, tính chủ động, sáng tạo của đại biểu Quốc hội(9), góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn của đất nước. Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã xem xét, thảo luận và quyết định nhiều vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, như: Cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân; thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh;... Cũng tại kỳ này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 202/2025/QH15, ngày 12-6-2025, về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó, cả nước giảm từ 63 xuống còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh (28 tỉnh, 6 thành phố), trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp. Đây là một bước đi có ý nghĩa lớn cả về phương diện quản trị quốc gia lẫn phát triển kinh tế - xã hội, nhằm tinh gọn bộ máy hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tiết kiệm ngân sách và tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch không gian phát triển đồng bộ, bền vững hơn.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới thông qua các hoạt động đối ngoại của Quốc hội
Quốc hội triển khai hoạt động đối ngoại một cách chủ động, thực hiện hiệu quả chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Tranh thủ điều kiện thuận lợi để triển khai mạnh mẽ hơn hoạt động đối ngoại nghị viện trong tình hình mới, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Thông qua ngoại giao nghị viện, Quốc hội Việt Nam đã trực tiếp tham gia đối thoại về nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp liên quan đến dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và đạt được kết quả tích cực. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế trên cả bình diện song phương và đa phương, xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; góp phần trong việc bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước, gia nhập các tổ chức quốc tế; ký kết và phê chuẩn các hiệp định quan trọng với các đối tác chủ chốt của Việt Nam; thúc đẩy và tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. Đến hết năm 2025, Quốc hội Việt Nam đã thiết lập quan hệ với hơn 140 nghị viện, quốc hội trên thế giới; thành lập hơn 50 nhóm nghị sĩ hữu nghị với nghị viện, quốc hội các nước và triển khai nhiều hoạt động có hiệu quả thiết thực. Quốc hội Việt Nam đã ký nhiều thoả thuận hợp tác với các nghị viện, trong đó có những thỏa thuận được ký kết đồng thời với cả thượng viện và hạ viện. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội góp phần khẳng định Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy; chủ động và tích cực tham gia các diễn đàn nghị viện khu vực và quốc tế, thể hiện trách nhiệm trong tham gia giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu. Tại các cơ chế hợp tác nghị viện đa phương, Quốc hội Việt Nam đã tham gia tích cực, chủ động, đề xuất nhiều sáng kiến thúc đẩy phát triển bền vững, các biện pháp xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa, ngăn ngừa xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế… được các nước ủng hộ, đánh giá cao(10)./.
(Còn nữa)
------------------------
(1) Xem: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn phòng Quốc hội: Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Tập 1 (1946 - 1960), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.32
(2) Xem: TS. Nguyễn Khắc Định - PGS.TS. Vũ Trọng Lâm (Đồng chủ biên): 80 năm Quốc hội Việt Nam - Những dấu ấn lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.25
(3) GS,TS Tô Lâm: “Vững bước dưới cờ Đảng”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 02-02-2026, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/vung-buoc-duoi-co-dang
(4) Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
(5) Xem: “Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tại Lễ giới thiệu bộ sách Luật được thông qua tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV”, Tạp chí Chính trị và phát triển điện tử, ngày 25-2-2026, https://chinhtrivaphattrien.vn/phat-bieu-cua-chu-tich-quoc-hoi-tran-thanh-man-tai-le-gioi-thieu-bo-sach-luat-duoc-thong-qua-tai-ky-hop-thu-10-quoc-hoi-khoa-xv-a9885.html
(6) Bắt đầu từ khóa XIII, Quốc hội đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Đến nay, Quốc hội đã tổ chức 4 lần lấy phiếu tín nhiệm; việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành nghiêm túc, công khai, minh bạch
(7) Quốc hội khóa XIII đã xem xét 215 báo cáo tại các kỳ họp Quốc hội, ban hành 9 nghị quyết sau giám sát chuyên đề, 9 nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn. Quốc hội khóa XIV đã xem xét 308 báo cáo tại các kỳ họp Quốc hội, ban hành 7 nghị quyết sau giám sát chuyên đề, 8 nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn, 1 Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm (Xem: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Kế thừa, đổi mới và phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 537; Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Quốc hội Việt Nam: 80 năm xây dựng, đổi mới và phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr. 947)
(8) Các quyết sách kịp thời để ứng phó với những tình huống bất thường của đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, lũ lụt hoặc nhằm tháo gỡ, giải quyết dứt điểm những dự án, công trình tồn đọng, không còn khả thi...
(9) Xem Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Quốc hội Việt Nam 70 năm hình thành và phát triển 1946 - 2016 (Kỷ yếu hội thảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015
(10) Xem: Trần Thanh Mẫn: “Đối ngoại của Quốc hội trong kỷ nguyên vươn mình”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 17-01-2026, https://baochinhphu.vn/doi-ngoai-cua-quoc-hoi-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-102260117093007907.htm