An sinh xã hội cho lao động di cư nội địa ở Việt Nam
TCCS - Lao động di cư nội địa đang trở thành một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động, đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội, song cũng là nhóm chịu nhiều rủi ro và dễ bị tổn thương nhất trước các cú sốc, như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, suy giảm kinh tế. Từ đó, cần nhận diện các dạng tổn thương đa chiều để đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế an sinh xã hội theo hướng bao trùm, công bằng và thích ứng với bối cảnh phát triển mới.
Điều 34 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” và Điều 3 Hiến pháp năm 2013 xác định Nhà nước “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”. Quan điểm tiếp cận quyền an sinh xã hội cũng trở thành định hướng xuyên suốt trong Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2021 - 2030 và trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các chính sách lao động - việc làm ở nước ta.
Các chủ trương lớn của Đảng đã xác lập nền tảng cho việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bao trùm và công bằng. Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 10-6-2012, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI “Về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” và Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23-5-2028, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội” đều nhấn mạnh yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, tạo cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản cho nhân dân, đặc biệt là người nghèo, người yếu thế và các nhóm dễ bị tổn thương. Hệ thống pháp luật liên quan, như Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Luật Việc làm năm 2025 liên tục được sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện khung pháp lý xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, bền vững.
Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 cho thấy, cả nước có khoảng 4 triệu người di cư, chiếm 4,3% dân số từ 5 tuổi trở lên; trong đó di cư liên tỉnh chiếm tỷ lệ lớn, chủ yếu theo dòng nông thôn - thành thị(1). Các quy định pháp luật mới đã mở rộng hơn quyền tiếp cận an sinh xã hội của nhóm lao động này. Bộ luật Lao động 2019 quy định linh hoạt các hình thức giao kết hợp đồng, trong đó có thỏa thuận miệng; các nguyên tắc trả lương bảo đảm bình đẳng, không phân biệt đối xử và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mở rộng diện tham gia bắt buộc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng, qua đó tăng mức độ bao phủ bảo hiểm xã hội đối với nhóm lao động di cư.
Trong giai đoạn dịch COVID-19, nhiều chính sách đã được ban hành kịp thời nhằm hỗ trợ người lao động nói chung và lao động di cư nói riêng.
Mặc dù hệ thống chính sách an sinh xã hội (ASXH) đã đạt được những kết quả quan trọng, nhiều báo cáo đánh giá cho thấy ASXH của lao động di cư vẫn chưa được bảo đảm đầy đủ. Tác động của dịch bệnh, thiên tai và lạm phát khiến nhiều doanh nghiệp cắt giảm nhu cầu sử dụng lao động, làm gia tăng mức độ dễ tổn thương của nhóm này. Dữ liệu điều tra lao động - việc làm 2024 và các báo cáo liên quan cho thấy lao động di cư ở Việt Nam đối mặt nhiều thách thức: trình độ thấp, điều kiện sống - việc làm - thu nhập bấp bênh, khó tiếp cận dịch vụ xã hội, trong khi sự di chuyển liên tục gây khó khăn trong quản lý chính sách, đặc biệt ở đô thị lớn và khu công nghiệp.
Quá trình thực thi chính sách ASXH và các quy định pháp luật hiện hành về lao động - việc làm, bảo hiểm xã hội thời gian qua đã đem lại nhiều kết quả quan trọng, góp phần bảo đảm quyền ASXH cho người lao động nói chung và lao động di cư nội địa nói riêng. Tuy vậy, một bộ phận không nhỏ lao động di cư vẫn đang trong tình trạng dễ bị tổn thương, đối mặt với rủi ro cao hơn so với mặt bằng lao động chung, đặt ra thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển bao trùm và bảo đảm công bằng xã hội. Những nguy cơ này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như hạn chế trong quản lý dân cư, bất cập của thị trường lao động, lỗ hổng trong hệ thống pháp luật, sự phân hóa thu nhập giữa các vùng, một số chính quyền địa phương và người lao động năng lực thích ứng còn yếu.
Một là, công tác quản lý dân cư và lao động tại nhiều địa phương chưa theo kịp tốc độ di cư. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý cư trú và cơ quan quản lý lao động chưa chặt chẽ nên công tác thống kê số lượng lao động di cư tự do, lao động phi chính thức còn chưa đầy đủ, lực lượng này khó tiếp cận các chương trình ASXH. Xu hướng lao động trẻ, chưa lập gia đình tham gia vào dòng di cư liên tỉnh ngày càng phổ biến làm gia tăng tính di động và tính bất định của lực lượng này. Những bất cập về một số thủ tục hành chính, rào cản hộ khẩu, thiếu giấy tờ tùy thân hoặc không đăng ký tạm trú thường xuyên khiến nhiều người không đủ điều kiện hưởng các chính sách giảm nghèo, đào tạo nghề, vay vốn hay hỗ trợ sinh kế.
Hai là, hệ thống pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội vẫn còn “lỗ hổng”, tạo “kẽ hở” khiến doanh nghiệp vi phạm quy định về hợp đồng lao động và nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, như không ký hợp đồng lao động, thỏa thuận miệng, nợ hoặc chậm đóng bảo hiểm xã hội… Số lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) quý IV-2024 là 33,2 triệu người, chiếm 63,6% trong tổng số lao động có việc làm, giảm 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước(2). Lao động di cư có thu nhập thấp nên dễ chấp nhận làm việc không ký hợp đồng để được trả lương cao hơn; nhưng thực tế họ tự đánh mất nhiều quyền lợi cơ bản, như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động.
Ba là, sự chuyển dịch cơ cấu lao động tại nhiều địa phương chưa theo kịp yêu cầu phát triển của thị trường lao động, trong khi các chính sách tạo việc làm và đào tạo nghề còn thiếu tính bền vững. Tỷ lệ lao động di cư làm việc trong khu vực phi chính thức vẫn ở mức cao, chiếm 42,9%, phản ánh thực trạng lao động có kỹ năng thấp, việc làm bấp bênh và thu nhập không ổn định. Tình trạng thất nghiệp tạm thời chiếm khoảng 15% và 23,6% số lao động di cư thiếu việc làm hoặc mong muốn làm thêm giờ để bảo đảm thu nhập sinh hoạt(3). Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV-2024 là 2,22%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,37%; khu vực nông thôn là 2,11%. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2024 là 2,24%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,53%; khu vực nông thôn là 2,05%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15 - 24 tuổi) quý IV-2024 là 7,96%, tăng 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,34 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước(4). Đáng chú ý, nhóm lao động có trình độ đại học trở lên lại có tỷ trọng thất nghiệp cao nhất. Pháp luật đối với một số loại hình kinh doanh mới, như lao động nền tảng, thương mại trực tuyến, môi giới lao động hoặc cho thuê lại lao động chưa được điều chỉnh đầy đủ, khiến người lao động di cư trong các ngành này dễ vi phạm về hợp đồng, tiền lương và đóng bảo hiểm xã hội.
Bốn là, các chính sách ASXH hiện hành chưa đánh giá đúng mức độ tổn thương đặc thù của lao động di cư theo ngành nghề, vùng miền và loại hình di cư. Sau đại dịch COVID-19, mức độ tổn thương của lao động di cư gia tăng rõ rệt và mang tính bất định cao hơn. Nếu trước đại dịch, lao động di cư chủ yếu đối mặt với tình trạng thiếu việc làm, thì sau đại dịch, họ vừa thiếu việc làm vừa phải làm việc quá sức để bù đắp thu nhập. Ở vùng đồng bằng sông Hồng, sức hút của các khu công nghiệp và doanh nghiệp FDI khiến lao động di cư phải làm thêm giờ nhiều hơn, trong khi tại vùng Đông Nam Bộ, nhóm này lại phải đối mặt với nguy cơ thiếu việc làm và thu nhập thấp. Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ thiếu việc làm cao hơn gần bốn lần so với đồng bằng sông Hồng, khiến dòng di cư từ khu vực này tiếp tục gia tăng. Lao động di cư buộc phải “bám trụ” ở các đô thị lớn, làm nhiều nghề khác nhau, tạo ra áp lực lớn về sinh kế và ổn định đời sống.
Năm là, thu nhập của lao động di cư còn thấp. Tỷ lệ lao động di cư thuộc nhóm thu nhập cao nhất tập trung ở Đông Nam Bộ (40,5%) và đồng bằng sông Hồng (34,4%)(5), tuy nhiên, chi phí sinh hoạt tại hai vùng này lại cao khiến lao động di cư vẫn có nguy cơ rơi vào nhóm thu nhập thấp. Dự báo cho thấy, nguy cơ tổn thương do thu nhập thấp ở Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng có thể tăng gấp 3 - 4 lần trong những năm tới. Trong khi đó, ở các vùng có tỷ lệ xuất cư cao như Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, sự thiếu hụt lao động và tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm khiến lao động di cư tại đây có mức thu nhập thấp nhất.
Sáu là, năng lực thích ứng và phục hồi của lao động di cư còn hạn chế, trong khi chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh. Phần lớn lao động di cư có trình độ chuyên môn thấp, họ gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình và thiếu khả năng tìm kiếm việc làm bền vững. Khoảng 53,9% số lao động di cư phải sống trong các khu nhà trọ tạm bợ, điều kiện vệ sinh và an ninh không bảo đảm; 65% gặp khó khăn trong việc chi trả tiền thuê nhà(6). Một số địa phương nơi có dòng di cư lớn chưa có giải pháp toàn diện về việc làm, nhà ở, y tế, giáo dục,… cho lao động di cư và gia đình họ.
Lao động di cư giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy công nghiệp hóa và đô thị hóa, do đó, việc trợ giúp để đối tượng này có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ cơ bản, là giải pháp bền vững góp phần xây dựng thị trường lao động hiện đại, linh hoạt và phát triển bền vững.
Lao động di cư nội địa là một trong những nhóm lao động dễ bị tổn thương nhất trong thị trường lao động, chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố: biến động kinh tế - xã hội, thiếu ổn định về việc làm và thu nhập, hạn chế trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Đặc tính dễ tổn thương của họ thay đổi theo bối cảnh, phụ thuộc vào môi trường sống, loại hình việc làm… Trong khi đó, thể chế chưa bao quát được hết.
Để hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách ASXH cho lao động di cư nội địa ở Việt Nam, cần thực hiện tốt một số giải pháp:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống ASXH theo tư tưởng “lấy con người làm trung tâm”, bảo đảm mọi công dân - bao gồm lao động di cư - được thụ hưởng đầy đủ các chính sách về việc làm, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trợ giúp xã hội. Các chính sách phải tính đến mức độ giao thoa của nhiều yếu tố rủi ro, như: giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khỏe, vùng cư trú, điều kiện làm việc và khả năng tiếp cận thông tin. Việc xác định nhóm “dễ tổn thương” phải dựa trên các chỉ báo định lượng và định tính được cập nhật thường xuyên theo đặc thù địa phương. Điều này đòi hỏi bộ máy quản lý phải được bồi dưỡng về phương pháp tiếp cận liên ngành, kỹ năng phân tích dữ liệu, nhằm nâng cao chất lượng hoạch định chính sách và khả năng thực thi tại cơ sở.
Thứ hai, nâng cao năng lực, trình độ của lao động di cư cần trở thành định hướng trung tâm trong các chính sách hỗ trợ. Đây là giải pháp mang tính căn cơ, vì chỉ khi người lao động có kỹ năng, có hiểu biết pháp luật và có năng lực tự bảo vệ thì họ mới có thể thoát khỏi trạng thái bị tổn thương kéo dài. Các chương trình đào tạo nghề, đào tạo lại, tập huấn “kỹ năng mềm”, tư vấn pháp lý, hỗ trợ tìm việc, kết nối cung - cầu lao động và khuyến khích tự tạo việc làm phải được mở rộng phạm vi và tăng cường chất lượng. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức đại diện, như công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, các nhóm cộng đồng tại khu dân cư, nhà trọ, vì đây là những thiết chế gần gũi, dễ tiếp cận nhất đối với lao động di cư. Thúc đẩy các mạng lưới hỗ trợ cộng đồng tạo cơ chế “tự quản” giúp họ tăng khả năng tự bảo vệ, phòng ngừa rủi ro, đồng thời nâng cao vị thế trên thị trường lao động.
Thứ ba, đãi ngộ và thu nhập của lao động di cư cần được tăng thêm. Mức lương tối thiểu vùng hiện nay vẫn thấp so với chi phí sinh hoạt, đặc biệt tại các đô thị lớn và các vùng kinh tế trọng điểm, khiến nhiều lao động di cư phải làm thêm giờ hoặc buộc chấp nhận làm việc không hợp đồng để có thu nhập cao hơn. Cần sớm nghiên cứu, xác định mức sống tối thiểu mới làm cơ sở điều chỉnh tiền lương tối thiểu và chuẩn nghèo cho giai đoạn 2026 - 2030. Đồng thời, cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ thu nhập cơ bản đối với những nhóm lao động di cư có việc làm bấp bênh, thu nhập thấp hoặc thất nghiệp tạm thời. Chính sách tiền lương phải gắn chặt với năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng, tránh tình trạng doanh nghiệp giữ mức lương quá thấp nhưng kéo dài giờ làm, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và giảm hiệu quả dài hạn của lực lượng lao động di cư.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách ASXH hiện hành, đặc biệt là các quy định mới trong Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Việc làm sửa đổi, là giải pháp mang tính quyết định. Các cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát cần được tăng cường, bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong sử dụng lao động, trốn đóng hoặc chậm đóng bảo hiểm xã hội, ký hợp đồng không đúng quy định hoặc lợi dụng lao động phi chính thức để giảm chi phí. Thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân với giá phù hợp, bảo đảm điều kiện sống tối thiểu về vệ sinh, an ninh và dịch vụ thiết yếu cho lao động di cư. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, khi lao động được bảo đảm chỗ ở ổn định, họ sẽ giảm thiểu nhu cầu thay đổi nơi làm việc, qua đó giảm xáo trộn thị trường lao động và tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
Thứ năm, tăng cường quản trị di cư và tích hợp yếu tố di cư vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Di cư không chỉ là dòng chuyển dịch dân cư mà là yếu tố kinh tế - xã hội quan trọng ảnh hưởng đến thị trường lao động, phân bố dân số, cung - cầu việc làm, an sinh xã hội và nhiều chính sách vĩ mô khác. Do đó, cần có cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương, giữa các bộ, ngành, nhằm dự báo tốt hơn xu hướng di cư và chủ động chuẩn bị nguồn lực cho tiếp nhận, hỗ trợ và bảo đảm an sinh cho lao động di cư. Các địa phương có lượng lao động nhập cư lớn, như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai… cần được ưu tiên nguồn lực để xây dựng các chương trình hỗ trợ đặc thù, đồng thời có cơ chế phối hợp vùng nhằm bảo đảm phát triển cân bằng và giảm áp lực lên hạ tầng xã hội.
Thứ sáu, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý an sinh xã hội và quản trị di cư là giải pháp mang tính đột phá. Việc số hóa dữ liệu dân cư, mã hóa thông tin an sinh xã hội bằng định danh cá nhân, kết nối liên thông dữ liệu giữa các cơ quan chức năng sẽ giúp theo dõi chính xác quá trình di chuyển, làm việc và thụ hưởng chính sách của lao động di cư. Đồng thời, thực hiện chi trả ASXH qua tài khoản điện tử, triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình, xây dựng các nền tảng đào tạo trực tuyến cho lao động di cư sẽ góp phần nâng cao năng lực tiếp cận chính sách và mở rộng cơ hội học tập suốt đời cho lực lượng lao động này./.
----------------------------------
(1) Xem: “Kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa thời điểm 0 giờ ngày 1-4-2024”, https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2024/12/Dieu-tra-Dan-so-giua-ky-2024-31.12-2.pdf
(2), (4) Xem: Cục Thống kê - Bộ Tài chính: “Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2024”, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2024/
(3) Xem: Cục Thống kê - Bộ Tài chính: “Thông cáo báo chí tình hình lao động - việc làm quý I năm 2025”, https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2025/04/Thong-cao-bao-chi-lao-dong-viec-lam-QI-2025.pdf
(5), (6) Xem: “Một số kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024”, Tạp chí Con số Sự kiên điện tử, ngày 24-2-2025, https://consosukien.vn/mot-so-ket-qua-chu-yeu-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-giua-ky-nam-2024.htm
Phát triển “kinh tế bạc” ở Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số nhanh  (08/11/2025)
Tỉnh Tuyên Quang thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc; phát huy không gian phát triển mới để phát triển nhanh và bền vững  (07/11/2025)
Bảo đảm quyền hưởng an sinh xã hội của người lao động khuyết tật thông qua các quy định về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay  (10/09/2025)
Một số điểm nghẽn chính sách trong phát triển mô hình kinh tế bao trùm ở Việt Nam: Nhìn từ thực tế vùng và hoạt động của doanh nghiệp  (23/07/2025)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
- Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới