Phát triển khu vực miền núi Thanh Hóa gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa và sinh kế bền vững
TCCS - Thanh Hóa đã và đang nỗ lực phát triển khu vực miền núi gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, từng bước cụ thể hóa chủ trương đó bằng các chính sách thiết thực, giải pháp hiệu quả để miền núi cất cánh.
“Truyền lửa” văn hóa bền vững qua các thế hệ
Thực tiễn cho thấy, mỗi lễ hội, làn điệu, tập tục... của các dân tộc đều hàm chứa tri thức, lịch sử và khát vọng cộng đồng, khi được bảo tồn, phát huy đúng hướng sẽ trở thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Vì vậy, tỉnh Thanh Hóa luôn thực hiện phương châm gắn kết chặt chẽ giữa phát triển và bảo tồn văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngày 31-12-2022, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt Đề án bảo tồn, phát huy và phát triển tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Thanh Hóa đến năm 2030. Mục tiêu của Đề án nhằm chấn hưng các giá trị văn hóa đặc sắc, thúc đẩy sinh kế đa dạng, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Đây là minh chứng sinh động cho chủ trương đưa văn hóa thành động lực phát triển, tạo sinh kế bền vững cho nhân dân miền núi của tỉnh Thanh Hóa.
Cấp ủy và chính quyền nhiều địa phương khu vực miền núi Thanh Hóa đã có những cách làm hiệu quả để lồng ghép bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế. Việc khôi phục các lễ hội, làng nghề truyền thống không chỉ nhằm giữ gìn bản sắc mà còn tạo cơ hội thu hút du khách, phát triển du lịch cộng đồng. Chẳng hạn, Như Thanh mở lớp truyền dạy nghề dệt thổ cẩm Thái; Quan Sơn tổ chức hội chợ “Hương sắc vùng cao” kết hợp liên hoan văn nghệ dân gian, thu hút đông đảo nghệ nhân, diễn viên quần chúng tham gia trình diễn. Những hoạt động này giúp cho các giá trị văn hóa độc đáo như điệu xường, khặp, khua luống của người Thái, trò diễn Pồn Pôông của người Mường, múa rùa của người Dao, tiếng khèn của người Mông…, được “đánh thức” và trở thành sản phẩm du lịch đặc thù thu hút du khách, từ đó đóng góp trực tiếp vào phát triển ngành “công nghiệp không khói” đầy tiềm năng. Du lịch văn hóa - sinh thái Pù Luông, suối cá thần Cẩm Lương, các hang động ở Như Xuân… là ví dụ điển hình cho việc khai thác giá trị văn hóa, thiên nhiên để phát triển kinh tế địa phương.
Bảo tồn văn hóa còn được gắn với phát triển các sản phẩm OCOP mang đậm bản sắc của đồng bào dân tộc. Nhiều đặc sản văn hóa như thổ cẩm, rượu cần, chè Shan tuyết, mật ong rừng, thuốc nam… của tỉnh khi được hỗ trợ xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc đã giữ được nghề truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường, tăng thu nhập cho người dân. Bên cạnh đó, tỉnh khuyến khích đưa văn hóa truyền thống vào trường học, giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống dân tộc. Một số trường phổ thông tại Quan Sơn, Quan Hóa đã dạy tiếng Thái, tiếng Mường cho học sinh. Việc truyền dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc trong nhà trường vừa góp phần gìn giữ văn hóa phi vật thể quan trọng, vừa giúp học sinh thêm yêu quý, tự hào bản sắc dân tộc mình, từ đó có ý thức gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa trong cuộc sống. Đây là cách làm cần nhân rộng nhằm “giữ lửa và truyền lửa” văn hóa bền vững qua các thế hệ.
Kết hợp phát triển sinh kế bền vững với bảo tồn văn hóa - những mô hình tiêu biểu
Trong thời gian qua, nhiều mô hình phát triển kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường ở miền núi Thanh Hóa đã và đang được triển khai thành công. Dưới đây là một số điển hình tiêu biểu:
Du lịch cộng đồng Pù Luông - mô hình giảm nghèo bền vững dựa vào văn hóa và thiên nhiên. Là khu bảo tồn thiên nhiên nổi tiếng với cảnh quan hoang sơ (rừng nguyên sinh, ruộng bậc thang) và bản sắc văn hóa Thái, Mường đặc sắc, từ khoảng năm 2009, người dân địa phương bắt đầu phát triển du lịch cộng đồng (homestay) ở các bản Đôn, bản Hiêu…; đến năm 2016 khi khu nghỉ dưỡng Pù Luông Retreat ra đời, du lịch Pù Luông mới thực sự cất cánh. Hiện nay, Pù Luông có trên 60 cơ sở lưu trú homestay do người dân làm chủ, đón hàng trăm nghìn lượt khách mỗi năm, đặc biệt thu hút du khách quốc tế yêu thích trekking, trải nghiệm văn hóa bản địa. Nhờ du lịch phát triển, đời sống đồng bào được cải thiện rõ rệt. Nhiều hộ trước đây chỉ làm nông nghiệp, nay đã mạnh dạn đầu tư làm du lịch, thu nhập tăng đáng kể.
Chương trình OCOP - “mỗi xã một sản phẩm” đã khuyến khích các địa phương miền núi khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển sản phẩm hàng hóa đặc trưng. Giai đoạn 2018 - 2023, khu vực 11 huyện miền núi Thanh Hóa có 170 sản phẩm OCOP đạt hạng 3 sao, 4 sao (trên tổng số 661 sản phẩm OCOP toàn tỉnh). Các sản phẩm OCOP miền núi rất đa dạng, chủ yếu thuộc nhóm nông sản, thực phẩm, dược liệu và đồ uống - nhiều sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc. Tiêu biểu như gạo nếp Cay Nọi (đặc sản của người Thái ở Quan Sơn), măng khô Yên Nhân (Cát Vân, Như Xuân), muối mắc khén Mường Đeng (gia vị truyền thống của đồng bào Thái ở Thường Xuân); rượu men lá truyền thống, thịt trâu gác bếp, thịt lợn hun khói của bà con vùng cao.... Việc chuẩn hóa các sản phẩm này dưới thương hiệu OCOP đã tạo đòn bẩy giúp các xã miền núi phát huy hiệu quả tiềm năng địa phương. Nhiều mô hình khởi nghiệp nơi đây ra đời nhờ OCOP, góp phần lan tỏa tinh thần kinh doanh trong cộng đồng.
Chương trình OCOP thúc đẩy thay đổi tư duy sản xuất của người dân miền núi, từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết theo chuỗi giá trị. Nhiều địa phương chọn một số sản phẩm lợi thế để tập trung phát triển thành sản phẩm OCOP, qua đó nâng cao giá trị kinh tế và quy mô thị trường. Đồng thời, các sở, ngành hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP, giúp các chủ thể (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất) kết nối với siêu thị, sàn thương mại điện tử…. Nhờ đó, người sản xuất hiểu hơn về thị trường, chú trọng cải tiến mẫu mã, bao bì, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp nhu cầu người tiêu dùng. OCOP thực sự trở thành phong trào phát triển kinh tế bền vững dựa vào nội lực cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương và nâng cao thu nhập ở Thanh Hóa.
Phát triển cây dược liệu dưới tán rừng - sinh kế xanh cho đồng bào vùng cao. Thanh Hóa được đánh giá là tỉnh giàu tiềm năng về cây dược liệu, với gần 1.000 loài cây thuốc (nhiều loài quý hiếm) phân bố tập trung ở các xã miền núi như Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát, Lang Chánh, Bá Thước…. Tổng diện tích trồng cây dược liệu toàn tỉnh khoảng 5.000 ha, chưa kể hơn 94.000ha trồng phân tán dưới tán rừng (hái lượm tự nhiên). Nhận thấy hiệu quả kinh tế của dược liệu, thời gian gần đây nhiều tổ chức, cá nhân đã đầu tư mở rộng mô hình trồng cây thuốc nam ở vùng cao.
Trồng rừng gỗ lớn theo tiêu chuẩn FSC - kết hợp xóa nghèo với bảo vệ môi trường. Thanh Hóa là tỉnh có truyền thống trồng rừng sản xuất với gần 56 nghìn ha rừng gỗ lớn (chu kỳ dài) hiện có. Những năm gần đây, tỉnh khuyến khích mạnh mẽ mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và tham gia chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC (Forest Stewardship Council). Tính đến cuối năm 2024, Thanh Hóa có trên 36.400ha rừng trồng đạt chứng chỉ FSC với sự tham gia của hơn 5.000 hộ dân và 7 chuỗi liên kết sản xuất lâm nghiệp. Giai đoạn 2016 - 2024, diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC tăng nhanh, tập trung ở các huyện có phong trào trồng rừng mạnh như Thạch Thành, Thường Xuân, Quan Hóa, Cẩm Thủy, Quan Sơn, Lang Chánh…. Việc tham gia trồng rừng theo chuẩn FSC mang lại lợi ích thiết thực cho người dân miền núi. Trước hết, trồng rừng gỗ lớn (chu kỳ 7 - 10 năm) cho thu nhập cao gấp đôi trồng gỗ nhỏ (chu kỳ 4 - 5 năm). Mỗi ha rừng gỗ lớn sau 7 năm có thể thu 250 - 300 triệu đồng, cao gấp khoảng 2 lần trồng cây ngắn ngày luân kỳ nhanh. Bên cạnh đó, nhờ chứng chỉ FSC, gỗ bán được giá cao hơn 5 - 10% so với gỗ thường, thương lái không ép giá. Các hộ trồng rừng được tập huấn kiến thức lâm sinh, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác an toàn và bảo vệ môi trường rừng.
Ngoài những mô hình trên, Thanh Hóa còn nhiều cách làm hay khác như xây dựng làng văn hóa du lịch cộng đồng (đang triển khai ở bản Kho Mường và bản Hiêu để vừa bảo tồn kiến trúc, cảnh quan truyền thống vừa thu hút du khách; mô hình “cặp lá yêu thương” kết nghĩa giữa các sở, ngành tỉnh với xã nghèo để huy động nguồn lực hỗ trợ (các sở đã chung tay giúp xã miền núi làm đường, trường học, dự án khuyến nông…).
Giải pháp phát triển miền núi Thanh Hóa gắn với bảo tồn văn hóa và sinh kế bền vững
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững khu vực miền núi Thanh Hóa, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện trên các phương diện: hoàn thiện cơ chế chính sách và huy động nguồn lực; phát huy vai trò chủ thể của người dân; ứng dụng khoa học - công nghệ và tăng cường giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Cụ thể:
Hoàn thiện cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực phát triển miền núi: Trước hết, tỉnh Thanh Hóa tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2021 - 2030 (theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg) kết hợp với Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình xây dựng nông thôn mới, bảo đảm sự lồng ghép nhịp nhàng giữa các chương trình. Rà soát, điều chỉnh các mục tiêu, chỉ tiêu còn thấp cho phù hợp tình hình thực tế giai đoạn 2023 - 2025, tập trung nguồn lực thực hiện trong chặng “nước rút” để hoàn thành tối đa kế hoạch 5 năm. Sau năm 2025, xây dựng chương trình phát triển miền núi giai đoạn mới (2026 - 2030) với tầm nhìn dài hạn và mục tiêu cao hơn, đưa miền núi thực sự thành vùng phát triển trọng tâm của tỉnh.
Về cơ chế, chính sách, Thanh Hóa tiếp tục ban hành các cơ chế đặc thù hỗ trợ miền núi như đã làm giai đoạn 2011 - 2023. Có thể nghiên cứu một số chính sách ưu đãi thu hút doanh nghiệp đầu tư vào miền núi (ưu đãi thuế, hỗ trợ mặt bằng sản xuất, đào tạo lao động…). Ban hành chính sách khuyến khích liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, hỗ trợ kinh phí cho các mô hình hợp tác xã liên kết doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.
Về nguồn lực đầu tư, bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, cần huy động tối đa các nguồn vốn khác từ các chương trình, dự án ODA, NGO hỗ trợ phát triển miền núi; vốn tín dụng ưu đãi dành cho miền núi để giúp người dân khởi nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nhỏ vay mở rộng OCOP; vốn doanh nghiệp theo hình thức đối tác công - tư (PPP) để phát triển hạ tầng giao thông, du lịch. Một hướng quan trọng khác là huy động nội lực cộng đồng, vận động nhân dân đóng góp ngày công, đất đai để xây dựng hạ tầng; phát triển quỹ “Vì miền núi” từ sự chung tay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh hỗ trợ người nghèo, học sinh vùng cao… Sự kết hợp “ba nhà” (Nhà nước - doanh nghiệp - người dân) sẽ tạo sức mạnh tổng hợp để miền núi Thanh Hóa bứt phá.
Ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo trong phát triển. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông - lâm nghiệp. Khuyến khích nông dân áp dụng cơ giới hóa phù hợp, sử dụng giống mới năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt. Xây dựng và nhân rộng các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu.
Chú trọng giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Quan tâm bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật là người địa phương. Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp gắn với tạo việc làm tại chỗ.
Phát huy vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng. Mỗi cấp ủy, chính quyền khu vực miền núi phải thật sự quyết liệt, sáng tạo, coi hiệu quả giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội là thước đo năng lực lãnh đạo./.
Hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở xã Bá Thước (Thanh Hóa): Kết quả và những yêu cầu đặt ra  (21/11/2025)
Xã Cổ Lũng, tỉnh Thanh Hóa: Bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, vận hành hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp  (03/11/2025)
Phát triển đô thị di sản ở Ninh Bình: Thực tiễn và định hướng  (02/11/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm