Mối quan hệ thành thị - nông thôn trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
TCCSĐT - Quan hệ hoà đồng thành thị - nông thôn ở Thăng Long - Hà Nội vốn là một thực thể lịch sử, mang tính hai mặt. Việc khai thác, chắt lọc quan hệ đó, sử dựng một cách hợp lý vào công cuộc đô thị hoá và quản lý đô thị, có thể sẽ giúp ích nhiều cho Thủ đô Hà Nội trên con đường xây dựng, phát triển và hội nhập.
Thăng Long - Hà Nội truyền thống trong mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn
Về mặt đất đai và kinh tế, theo các tư liệu địa bạ, trong hai huyện nội thành Hà Nội (Thọ Xương và Vĩnh Thuận) thời Nguyễn, vẫn tồn tại một số khá lớn các phường thôn nông nghiệp, với các loại đất canh tác (trồng lúa, dâu tằm, hoa, rau quả), đất bãi bồi ven sông, trên 400 hồ ao, nhiều gò đống, bãi tha ma, mộ địa. Những khu đất ở, bên cạnh nhà vẫn bao gồm cả các vườn, ao (thổ trạch viên trì) liền kề. Ngay cả giữa lòng khu phố buôn bán đông vui chật chội, vẫn có một thôn của các ngư dân đánh cá là thôn Ngư Võng, tổng Đông Thọ (quãng phố Đào Duy Từ - Lương Ngọc Quyến ngày nay), tục gọi là Hàng Chài. Còn các cổng phố ngăn cách các phường thôn trong khu này cũng chính là biến tướng của những cổng làng nơi thôn xóm.
Cảnh quan của các nơi bên ngoài khu phố phường buôn bán càng mang đậm những nét vẻ thôn dã - những nhà tranh vách đất, ao vườn, ngõ xóm, những ruộng nương, rặng tre, hàng cau... Sinh thời, Cao Bá Quát cho biết, nhà ông ở ngay cạnh Cửa Nam thành Hà Nội, mà vẫn có cảnh "khi vào đến ngõ thì lúa ngô tươi tốt, trông sang trại lính thì ngô đay xanh rờn".
Trong sinh hoạt hàng ngày, đã có một sự liên kết và đối thoại kinh tế thường trực giữa thành thị và nông thôn trong lòng đô thị Thăng Long - Hà Nội.
Trước hết, có thể thấy điều đó qua những đợt di dân hành nghề từ các vùng nông thôn tứ trấn vào Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ XVII, XVIII và XIX. Đó là những làng chuyên nghề và những mạng lưới chợ nông thôn đã tịnh tiến ra đô thị và được cô đặc lại, trở thành những phường chuyên nghề và những phố chuyên mặt hàng. Chẳng hạn, nghề nhuộm từ Đan Loan (Hải Dương) ra phố Hàng Đào; nghề đúc bạc ở Trâu Khê (Hải Dương), nghề chạm bạc ở Đồng Sâm (Thái Bình) cùng nghề kim hoàn ở Định Công ra phố Hàng Bạc; nghề thuộc da đóng giày từ ba làng Chắm (Tứ Kỳ, Hải Dương) ra thôn Hải Tượng; nghề khảm xà cừ từ làng Chuyên Mỹ (Hà Tây) ra phố Thợ Khảm (phố Hàng Khay ngày nay).
Chính tính chất chuyên nghề đã gắn bó kinh tế nông thôn với kinh tế đô thị, gắn phường phố với làng quê.
Quan hệ liên kết, hoà đồng kinh tế thành thị - nông thôn ở Thăng Long - Hà Nội còn trực tiếp thể hiện qua việc trao đổi, mua bán hàng hoá trong các phiên chợ chính (ngày mồng một và rằm âm lịch) của đô thành. Tại đó, một khối lượng khổng lồ dân chúng làng quê đã tràn vào chiếm lĩnh các chợ búa phố phường, mang theo các hàng hoá nông sản và thủ công nghiệp vào bán cho cư dân nội thị, rồi từ đó lại phân phối đi các thị trường khác. Thăng Long - Hà Nôi mặc nhiên đã trở thành một tổng đại lý tập kết, thu gom, cung cấp và phân phối các vật phẩm hàng hoá sản xuất từ nông thôn.
Việc trao đổi hàng hoá giữa nông thôn và thành thị ở Thăng Long - Hà Nội không cân bằng, mà nghiêng nhiều về phía nông thôn. Số lượng hàng hoá thôn quê cung cấp cho thành thị lớn hơn rất nhiều số lượng hàng hoá thành thị cung cấp cho nông thôn. Đặc trưng này của Thăng Long - Hà Nội khác biệt với các thành thị ở Tây Âu.
Về mặt xã hội, sự hoà đồng giữa thành thị và nông thôn đã thể hiện khá rõ trong đặc trưng của khối thị dân Thăng Long - Hà Nội. Khác với tầng lớp thị dân trong các thành thị ở Tây Âu thời trung đại, chủ yếu bao gồm những thương nhân và thợ thủ công đã cắt đứt quan hệ với nông thôn lãnh địa, tầng lớp thị dân (nói chính xác hơn là những cư dân đô thị) ở Thăng Long - Hà Nội là một khối cư dân đa thành phần. Ngoài thợ thủ công và thương nhân, nó còn bao gồm giới quan liêu, trí thức nho sĩ, các văn nhân tài tử, hợp thành bộ phận "ưu tú xã hội", tất cả đều có những quan hệ gắn bó với nông thôn, làng quê.
Không cần truy tìm gốc gác ở những thế hệ thứ hai, thứ ba về trước, đại bộ phận thợ thủ công và thương nhân Thăng Long - Hà Nội bản thân cũng đã là những nông dân làng quê, không xa lạ gì với nông nghiệp, đã từng sinh sống ở nông thôn trước khi nhập cư vào đô thị hành nghề. Trong khi người thị dân Tây Âu thời trung đại khi đến cư trú ở thành thị đã hoàn toàn không còn liên hệ hoặc cơ hội nào quay về với nông thôn thái ấp, thì quan hệ xã hội của thị dân Thăng Long - Hà Nội với nông thôn là một quan hệ hai chiều. Từ nông thôn ra thành thị để làm nghề, buôn bán hoặc theo học chờ ngày ứng thí, họ vẫn có khá nhiều dịp về thăm hoặc ở lại làng quê như trong các dịp giỗ tết, tế lễ, hội hè, về quê tậu ruộng hoặc nghỉ ngơi lúc tuổi già. Những người này tự nhận mình là thành viên của hai quê: quê gốc (cựu quán) ở nông thôn và quê sở tại (kinh quán) ở đô thị. Nhiều người dân tuy sinh sống ở phố phường nhưng vẫn chịu nhận đóng phần sưu thuế hoặc góp tiền công ích cho làng quê. Có thể nói, họ là những nửa thị dân.
Về mặt thiết chế hành chính, các phường thôn ở Thăng Long - Hà nội truyền thống (ở đây, hầu như không tồn tại đơn vị xã) đã đồng dạng, gần như là những phiên bản trung thành của các thôn làng nông thôn.
Sau cuộc cải cách hành chính thời Nguyễn, vua Minh Mạng đã thống nhất chuyển các chức danh trại trưởng, phường trưởng, thôn trưởng ở hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc tỉnh Hà Nội thành lý trưởng, giống như tên gọi ở các làng xã nông thôn. Bên cạnh các chiếu dịch, giống như làng xã, các phường thôn ở Hà Nội cũng đã có một hội đồng ký mục.
Cũng vậy, dân cư các phường thôn Thăng Long - Hà Nội vẫn phải gánh chịu những nghĩa vụ thần dân đối với nhà nước phong kiến, như sưu thuế, binh dịch, lao dịch, tuy mức độ có được giảm thiểu (thời Lê, Trịnh, được giảm 1/2).
Thời Nguyễn, vua Minh Mạng cho lập ở các phường thôn tỉnh thành Hà Nội những đội tuần tra dân vệ giống như các tuần đinh làng xã, do dân chúng sở tại đóng góp tiền chu cấp, gọi là tiền phụ dưỡng.
Tất cả những quy định đó về quản lý cư dân đô thị ở Thăng Long - Hà Nội đã là những bản sao của thiết chế tự quản, tự trị của các làng xã nông thôn.
Cuối cùng, chúng ta thấy dấu ấn của nông thôn cũng đã in rất đậm nét lên đời sống văn hoá - tâm lý đô thị ở Thăng Long - Hà Nội. Trừ một số gia đình quan lại, trưởng giả, đại bộ phận cư dân đô thị vẫn giữ được lối sống giản dị, thanh bạch, thuần phác nơi thôn dã. Cũng như ở làng quê, họ đã xây dựng ở các phường thôn sở tại nhiều đình, chùa, miếu để thờ cúng, trong đó có nhiều vị thành hoàng, thần linh hoặc các danh nhân có nhiều công đức với làng quê gốc. Họ còn tồ chức nhiều hội hè với các trò vui dân đã theo kiểu các hội làng. Ngay cả trong không gian chật hẹp của những ngôi nhà ống, người thị dân vẫn muốn tạo dựng một vi mẫu mô phỏng một thiên nhiên thoáng rộng nơi làng quê, như các giàn hoa, cây cảnh, bể cá vàng, hòn non bộ.
Tóm lại, trong các mặt đời sống, người dân đô thị Thăng Long - Hà Nội vẫn mang cùng một bản chất - như một mẫu số chung văn hoá - với người dân nông thôn Việt Nam. Đó là những con người luôn luôn tìm cách sống hoà đồng với môi trường tự nhiên, cộng đồng xã hội và thế giới tâm linh. Ở đây, quan hệ thành thị - nông thôn bền vững đã biến đô thị thành một thứ "siêu làng xã", một "thành thị nông thôn”.
Trong lịch sử, mối quan hệ hoà đồng thành thị - nông thôn của Thăng Long - Hà Nội đã có những tác động tích cực nhất định đến đời sống và sự phát triển đô thị. Nó duy trì sự cân bằng sinh thái đô thị và phản ánh bản sắc văn hoá truyền thống của con người Việt Nam. Nó cũng gắn kết các cư dân đô thị trong một cộng đồng xã hội hài hoà, làm hoà dịu những mâu thuẫn trong nội bộ thị dân và làm chậm sự phân tầng xã hội trong đô thị. Ở Thăng Long - Hà Nội, đã không có sự đối lập rõ ràng giữa những người dân đô thị và những người dân nông thôn, giữa loại "dân béo" (peuple gras) và loại “dân gầy” (peuple maigre), như đã từng xảy ra trong các thành thị Tây Âu thời trung đại. Nó cũng bảo đảm một nhịp điệu sống đô thị thanh bình, thư giãn, ít những căng thẳng, hối hả.
Tuy nhiên, sự hoà đồng đó cũng đã để lại không ít những hệ luỵ tiêu cực ảnh hưởng tới Thăng Long - Hà Nội. Chính sự hoà đồng này đã dẫn đến sự bao vây và níu kéo của làng xã nông thôn đối với phố phường đô thị, làm trì trệ và kìm hãm những tiềm năng phát triển kinh tế - văn hoá của đô thị.
Sau sự hưng khởi diễn ra trong thế kỷ XVII, bộ mặt đô thị Thăng Long - Hà Nội vẫn hầu như rất ít thay đối, có nơi còn sa sút, xuống cấp. Thế kỷ XIX, nhiều khu vực trong thành thị (như ở phía tây và phía nam) đã bị tái nông thôn hoá. Sự níu kéo của nông thôn cũng đã dẫn đến việc duy trì nền sản xuất nhỏ và buôn bán nhỏ, hạn chế sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá ở đô thị. Về mặt tinh thần, nó bảo lưu một nếp sống tuỳ tiện, một tâm lý manh mún của tầng lớp nông dân trong một xã hội nông nghiệp lạc hậu. Nó không tạo được một ý thức làm chủ, tự do, tiến tới một xã hội công dân đô thị, như trong quá trình phát triển của các thành thị Tây Âu.
Vài điều suy nghĩ
Trong chiến lược đô thị hoá đất nước, xây dựng Hà Nội thành một thủ đô hiện đại, giàu đẹp, văn minh ngày nay, chúng ta có thể khai thác những bài học kinh nghiệm cửa quá khứ, trong đó có vấn đề xử lý mối quan hệ thành thị - nông thôn. Một mặt, chúng ta cần khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực như các vấn đề ô nhiễm cảnh quan, môi trường, nếp sống tuỳ tiện, manh mún của người sản xuất nhỏ, ý thức thụ động thần dân cản trở đến quá trình phát triển đô thị, nhằm tiến tới xây dựng một nền sản xuất lớn và phát huy quyền dân chủ của công dân đô thị. Ở một mặt khác, khai thác những khía cạnh tích cực của nông thôn Việt Nam, áp dụng vào những điều kiện cụ thể của công cuộc đô thị hoá Hà Nội, tiến tới một sự phát triển hài hoà, bền vững, mang nhiều tính nhân văn hơn và đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc hơn.
Về mặt lý thuyết, mọi đô thị đều bao quanh bởi một diện tiếp xúc, tiếp giáp với nông thôn theo những cung bậc khác nhau. Theo quy hoạch đô thị, khu vực đậm đặc tố chất đô thị nhất chính là một khu trung tâm nhân lõi, thường được gọi là nội thành (ville in tra - muros), tuy không hẳn là trùng hợp hoàn toàn với những ranh giới hành chính. Bên ngoài, xa dần ra, là khu "ngoại thành" (ville extra - muros), không gian rộng hơn và ranh giới cũng không được xác định thật rõ ràng, cũng có thể lại được phân chia thành vùng ven đô và vùng ngoại vi. Đây chính là mặt tiếp giáp thành thị - nông thôn có đặc điểm chung là càng cách xa khu trung tâm thì yếu tố đô thị càng nhạt đi và yếu tố nông thôn càng đậm lên.
Khu đô thị nhân lõi của Hà Nội ngày nay có thể được coi như không gian của 4 quận nội thành cũ. Ở đây, cần xoá bỏ những vết tích của nông thôn đã từng xâm thực khá sâu vào đô thị, với sự tồn tại của những làng trong phố. Những dấu tích nông thôn đó đã có mặt khá phổ biến trong Hà Nội thời Pháp thuộc, thậm chí cho tới tận ngày nay, dưới dạng của các loại "xóm liều”. Sau khi làm trong sạch, cần biến khu nhân lõi này thành một trung tâm hành chính - văn hoá - dịch vụ thực thụ, với một nếp sống văn minh, một môi trường đô thị trong lành với nhiều không gian xanh, một kỷ luật giao thông đô thị cao và tự giác. Cũng cần khơi dòng, chuyển hướng luồng người dân nhập cư tới những trung tâm hấp dẫn ở những khu vực khác của thành phố.
Vùng ven đô ở liền kề với khu trung tâm, có thể định vị là vùng các huyện ngoại thành cũ, chuyển thành các quận nội thành mới, có nhiều "khu đô thị mới" được xây dựng. Cần tạo ra ở đây những cực hấp dẫn mới, với một mạng lưới giao thông thuận tiện, những khu cư trú hoàn chỉnh và nhiều tiện nghi đời sống, để thu hút ngày càng nhiều những người đến cư trú, từ bên trong dãn ra và từ bên ngoài nhập vào. Do quỹ đất đai còn khá dồi dào, cho nên có thể tạo ra những "làng trong phố" kiểu mẫu ở đây, với nhiều không gian xanh, phản ánh một sự kết hợp hài hoà mới giữa nông thôn và thành thị. Những "làng trong phố" này không chỉ là những nơi cư trú, nghỉ ngơi, mà còn là những "không gian sống" thực thụ, trong đó người dân có thể sinh hoạt một cách thoải mái, tiện nghi, hằng ngày đi vào khu trung tâm làm việc rồi lại trở về căn nhà ấm cúng của mình.
Vùng ngoại vi ở xa hơn, là tầng ngoài cùng của đô thị trước khi đi vào nông thôn, trong quy hoạch nên dành ưu tiên cho những trung tâm kinh tế, sản xuất, du lịch và xã hội. Quan hệ thành thị - nông thôn ở đây được thể hiện bằng những "phố trong làng", những điểm đô thị lồng vào một không gian nông thôn, trước khi bắt đầu chuyển đổi về cơ cấu kinh tế - cư dân. Về mặt hành chính, đó có thể vẫn là những thôn làng, không nhất thiết phải chuyển thành những phường phố. Từ đây, mạng lưới giao thông sẽ nối thủ đô với các đô thị vệ tinh, những đô thị mới trong một chiến lược "đô thị hoá nông thôn" sâu rộng, giúp người nông dân "ly nông nhưng không ly hương", tạo động lực cho một kế hoạch phát triển vùng./.
Thăng Long - Hồn thiêng sông núi  (09/10/2010)
Mục lục Hồ sơ sự kiện số 136 (8-10-2010)  (08/10/2010)
Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh với 6 chương trình đột phá  (08/10/2010)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm