Một số vấn đề về “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”
Chỉ nói riêng về kinh tế-xã hội thì dân số là bài toán tổng thể, "bài toán mẹ" của tất cả các bài toán chi tiết, của tất cả "bài toán con" (dân số là bài toán của kết cấu hạ tầng, của nhà ở; đường sá giao thông; an ninh lương thực, thực phẩm; giáo dục, đào tạo; y tế, khám bệnh, chữa bệnh; lao động, việc làm; xoá đói, giảm nghèo; an sinh xã hội, cứu trợ xã hội...)
Với đường lối chiến lược (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, khoá VII, ngày 14 tháng 01 năm 1993) và chính sách đúng đắn của Đảng, từ thập niên 90 của thế kỷ trước đến nay, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về dân số, kế hoạch hoá gia đình. Nổi bật nhất là đã hạ tỷ lệ tăng dân số từ 2,18% năm 1992 xuống còn 1,2% năm 2009. Do đó, quy mô dân số đã được khống chế gần với mức chiến lược đã vạch ra (từ 70,4 triệu lên 86,8 triệu người). Nếu không có chính sách, chiến lược đúng đắn đó thì dân dố nước ta hiện nay đã lên tới gần 100 triệu người.
Chúng ta thử hình dung xem điều gì sẽ xảy ra nếu như đất nước phải nuôi thêm hơn 12 triệu người (tương đương dân số của một số nước quanh ta), nhất là vào những lúc khó khăn như suy thoái kinh tế trong nước, khủng hoảng tài chính, tiền tệ trên thế giới.
Tuy nhiên theo chúng tôi, cho đến nay, một bộ phận không nhỏ dân cư và một số cán bộ lãnh đạo ở nhiều cấp vẫn chưa phải đã thấm nhuần sâu sắc vấn đề quy mô dân số lớn chi phối sâu rộng như thế nào đến tất cả các công việc của cả nước cũng như từng địa phương. Một số nhà lãnh đạo say mê với tăng trưởng, với thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xem nhẹ môi trường, xem nhẹ dân số; một bộ phận dân cư nghĩ rằng mình sinh thêm một, hai con thì có ảnh hưởng gì đến cả nước!...
Vì vậy xin đề nghị, một là, phải đặt công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình đúng với vị trí tổng thể, bao trùm của nó (dân số là mẫu số của tất thảy các bài toán khác) để có chỉ đạo thực hiện một cách nghiêm ngặt, bảo đảm quy mô dân số phù hợp với khả năng tài nguyên quốc gia (nhiều về chủng loại nhưng nghèo nàn và cạn kiệt về trữ lượng; "sinh nhân nhưng bất sinh địa"). Hai là, với ý nghĩa đó thì điểm 3 của mục VII phải đưa lên thành điểm 1; điểm 1 thành điểm 2; và điểm 2 thành điểm 3.
2- Điểm 1 của dự thảo mục VII "Tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập": Nội dung vấn đề này còn viết ở dạng khái lược và chưa thật rành mạch, trong khi đây là những vấn đề cực kỳ lớn và bức xúc kéo dài. Lao động, việc làm và thu nhập tuy có mối quan hệ nhân quả nhưng chúng có nội dung tương đối độc lập.
Mục tiêu của lao động , việc làm là: phấn đấu để người trong độ tuổi lao động cần làm việc là có thể tìm được việc làm; từ chỗ chưa có việc làm đến có việc làm, tiến đến việc làm đầy đủ, hợp lý, đến việc làm có giá trị cao và tương đối ổn định. Đi liền với việc tạo ra một "xã hội học tập" thì ngay lập tức phải xây dựng một "xã hội làm việc", làm việc có năng suất, có chất lượng và hiệu quả cao. Trên một ý nghĩa và những thời điểm nhất định, việc tạo ra một "xã hội làm việc" còn cấp bách hơn cả việc tạo ra một xã hội học tập. Đang có ý kiến cho rằng, chúng ta dường như đang có xu hướng tạo ra một xã hội “xả hơi, vui chơi, nghỉ ngơi, giải trí" quá mức hơn là chí thú làm việc; đây đó vẫn còn duy trì tư duy "làm chơi, ăn thật". "Làm chơi" thì không ra của cải mà "ăn thật" thì "miệng ăn, núi lở", phải chấm dứt cái tư duy "làm chơi ăn thật" càng sớm càng tốt. Nếu làm ít, chơi nhiều, xã hội sẽ đi tới đâu?
Tạo nhiều việc làm không chỉ trên cơ sở đầu tư phát triển kinh tế (như dự thảo đã nói) mà phải bằng tất cả các "kênh" tạo việc làm đang có hiện nay. Ngoài việc đầu tư phát triển kinh tế còn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm; phát triển thị trường lao động góp phần gắn kết tạo điều kiện cho cung-cầu lao động gặp nhau để giải quyết việc làm, và nhiều "kênh khác"..., trong đó có xuất khẩu lao động.
Còn tiền lương và thu nhập cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào việc làm và chất lượng công việc. Mục tiêu của tiền lương, thu nhập là trả lương theo đúng giá trị của sức lao động đã bị tiêu hao trong quá trình làm việc, phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người lao động; công bố tiền lương đúng thời hạn và đúng với mặt bằng giá cả sinh hoạt đã hình thành ở thời điểm công bố; Phấn đấu tăng lương và tăng thu nhập chính là phải phấn đấu nâng cao khối lượng và chất lượng công việc, đồng thời phải nâng cao phúc lợi tập thể của người lao động. Nếu làm việc theo kiểu lãn công, xả hơi, nghỉ ngơi thì không thể có cách nào tăng lương và nâng cao thu nhập được. Một khi đã làm việc cật lực thì tiền lương nhất thiết phải đủ sống và có phần tái sản xuất mở rộng sức lao động.
3- Điểm 2 mục VII (An sinh xã hội): Đối với thế giới, nhất là ở Thuỵ Điển, Cộng hoà liên bang Đức..., an sinh xã hội là vấn đề đã được đặt ra và từ lâu đã được xử lý khá đồng bộ, nhưng ở nước ta thì khái niệm này còn tương đối mới, mặc dù chúng ta cũng đã thực hiện khá sớm nhiều nội dung quan trọng. Với thực tiễn của Việt Nam, theo chúng tôi, an sinh xã hội phải bao gồm một hệ thống các chính sách sau: Bảo hiểm xã hội (gồm các chế độ bảo hiểm dài hạn và các chế độ ngắn hạn); Bảo hiểm y tế (bắt buộc và tự nguyện); Ưu đãi xã hội (gồm các nhóm đối tượng trong "Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và "Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng"; Bảo trợ xã hội (gồm các đối tượng người cao tuổi, trẻ mồ côi, trẻ em lang thang cơ nhỡ, người tàn tật; người dân bị thiên tai, tai hoạ, dịch bệnh, những người không có thu nhập...); Dịch vụ xã hội (y tế, sinh đẻ có kế hoạch, chăm sóc bà mẹ, trẻ em, chỉnh hình, phục hồi chức năng); Xoá đói, giảm nghèo, chống tái đói nghèo; Ổn định thị trường lao động trong trạng thái phát triển.
Hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm chủ yếu vào các đối tượng có nhiều khó khăn trong cuộc sống, giúp họ vươn lên, bảo đảm cho họ có được cuộc sống tối thiểu, không bị bần cùng hoá. Phần lớn các chính sách trên đã được luật hoá, chỉ còn chính sách cứu trợ xã hội và xoá đói, giảm nghèo là chưa có luật hoặc pháp lệnh điều chỉnh. Vì vậy trong quá trình hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội nên luật hoá hai loại chính sách còn lại và trong dự thảo cần viết đầy đủ hơn hệ thống các chính sách trên. Cũng như các chính sách xã hội khác, Nhà nước cần có một khoản ngân sách đủ lớn để có thể cứu trợ kịp thời trong những tình huống cấp bách diện rộng, chưa kịp huy động các nguồn lực khác./.
Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 2010
Nhận thức về vấn đề quốc phòng - an ninh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội  (08/10/2010)
ADMM+ hợp tác chiến lược vì hòa bình, phát triển  (08/10/2010)
Kỷ niệm 20 năm ngày Quốc khánh CHLB Đức và 35 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Đức  (08/10/2010)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm