TCCS - Cho đến thời điểm này, triển vọng hoàn thành các mục tiêu kinh tế năm 2010 của nước ta ngày càng trở nên rõ ràng, nhưng kèm theo đó vẫn thường trực những nguy cơ gây bất ổn trong dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh chuẩn bị bước vào kế hoạch 5 năm tiếp theo. Bài viết này đề cập những vấn đề mới nổi lên của kinh tế thế giới thời gian qua, những tác động đến kinh tế Việt Nam để từ đó gợi mở những vấn đề cần chú ý nhằm góp phần định hướng chính sách và tổ chức điều hành thời gian tới.

1 - Tình hình kinh tế thế giới từ đầu năm 2010 đến nay

Kinh tế thế giới đã phục hồi sau một năm 2009 đầy khó khăn

Hầu hết các nền kinh tế đều đạt mức tăng trưởng khả quan so với kế hoạch, trong đó các quốc gia Đông á phục hồi mạnh mẽ nhất (tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đạt 11%, của Xin-ga-po đạt tới 18% trong những tháng đầu năm). Đóng góp quan trọng cho sự phục hồi của kinh tế thế giới là khu vực sản xuất với kết quả kinh doanh tích cực từ các doanh nghiệp lớn và xu hướng tiếp tục mở rộng sản xuất trên toàn cầu. Hàng loạt các công ty hàng đầu trên các lĩnh vực (nổi bật là ngành tài chính, khai khoáng, điện tử...) công bố kết quả kinh doanh khả quan. Điều này tạo hiệu ứng tích cực cho khu vực thương mại với tổng khối lượng giao dịch thương mại toàn cầu tăng trên 20% so với cùng kỳ năm trước. Các nước mới nổi và các quốc gia châu á đóng góp phần lớn vào tốc độ tăng trưởng chung của thương mại toàn cầu (Nga tăng 62%, 6 nước và vùng lãnh thổ khu vực Đông á gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan - tăng 39%). Hoạt động đầu tư toàn cầu cũng sôi động trở lại tại hầu hết các khu vực trên thế giới, trong đó dòng vốn chảy vào các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng mạnh. Các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi hiện thu hút hơn 50% tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu. Không chỉ vậy, các nền kinh tế này cũng đang thu hút một lượng lớn nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán nhờ tốc độ hồi phục kinh tế nhanh và môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi.

Hệ thống tài chính ngân hàng thế giới từng bước phục hồi, đa số các ngân hàng châu Âu đã vượt qua đợt kiểm tra của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Kết quả kiểm tra các ngân hàng châu Âu khá tích cực (84 trên tổng số 91 ngân hàng châu Âu đã vượt qua đợt kiểm tra này) cho thấy hệ thống ngân hàng châu Âu trước khủng hoảng nợ công vẫn được duy trì khá ổn định. Đạo luật kiểm soát hệ thống tài chính lịch sử cũng đã được Quốc hội Mỹ thông qua mở ra cơ chế mới cho việc kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động của các ngân hàng, nhằm tránh các cuộc khủng hoảng tương tự có thể xảy ra.

Khủng hoảng nợ công tại khu vực châu Âu không diễn biến nghiêm trọng như dự báo. Sau nhiều tháng chống chọi với “cơn bão” nợ, những chính sách kinh tế táo bạo với nhiều gói kích thích khổng lồ từ các nền kinh tế mạnh do Đức làm “đầu tàu” đã giúp châu Âu dần trở lại quỹ đạo ổn định. Tình trạng thâm hụt ngân sách tại các quốc gia có nguy cơ vỡ nợ cao đã giảm sau khi nhận được hỗ trợ từ bên ngoài (thâm hụt ngân sách 6 tháng đầu năm 2010 của Hy Lạp giảm 42%). Niềm tin của các nhà đầu tư với khu vực này đang khá lạc quan, thể hiện qua việc trái phiếu chính phủ của các quốc gia châu Âu (kể cả những nước vừa mới thoát khỏi tình trạng báo động về khủng hoảng nợ) đều được đấu thầu thành công và đồng ơ-rô đã lên giá mạnh kể từ đầu quý III năm 2010 đến nay, sau khi giảm kỷ lục trong quý II.

Những triển vọng tích cực đã khiến cho hầu hết các chuyên gia kinh tế đều nhận định kinh tế thế giới sẽ tiếp tục phục hồi, trong đó châu Á và các nền kinh tế mới nổi vẫn là động lực chính. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các nền kinh tế mới nổi tại châu Á có thể đạt tốc độ tăng GDP tới 7,5% trong năm 2010. Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay sẽ đạt 4,6%, tăng 0,5% so với dự báo hồi tháng 4-2010.

Tuy nhiên, tốc độ phục hồi kinh tế thế giới còn chưa vững chắc, không đồng đều giữa các khu vực và các nước vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Kinh tế Mỹ, nền kinh tế hàng đầu thế giới, đang tăng trưởng chậm lại và có nguy cơ rơi vào giảm phát (GDP quý I năm 2010 tăng 3,7%, quý II chỉ còn 1,6% và quý III chưa có tín hiệu khởi sắc rõ rệt). Những lĩnh vực là động lực chính thúc đẩy kinh tế Mỹ, như thị trường nhà đất và lĩnh vực sản xuất đang có dấu hiệu giảm sút. Tiêu dùng cũng đang có xu hướng chậm lại khi các hộ gia đình thắt chặt chi tiêu trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao (9,5%). Hệ thống tài chính ngân hàng tiếp tục đứng trước rủi ro khi xu hướng phá sản của các ngân hàng nhỏ vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Ngay cả các nhà hoạch định chính sách Mỹ và các chuyên gia kinh tế toàn cầu đều dự báo tốc độ tăng trưởng của Mỹ sẽ giảm trong năm 2010. Theo báo cáo mới nhất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), tăng trưởng GDP cả năm 2010 của kinh tế Mỹ sẽ ở mức 3% - 3,5%, thấp hơn so với mức dự kiến 3,7% do cơ quan này đưa ra hồi tháng 4.

Mặc dù nhiều dấu hiệu cho thấy khủng hoảng nợ công ở châu Âu không nghiêm trọng như dự đoán ban đầu, nhưng cuộc khủng hoảng này vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ và để lại những ảnh hưởng sâu sắc tới an sinh xã hội ở khu vực này. Những chính sách có tính chất thắt lưng buộc bụng, như giảm lương, tăng thuế, giảm phúc lợi xã hội... của các quốc gia đã gây ra sự phản đối quyết liệt của dân chúng, hàng loạt các cuộc đình công, biểu tình đã tạo ra một làn sóng căng thẳng tại nhiều quốc gia châu Âu (Hy Lạp, Tây Ban Nha, Đan Mạch...) và có thể làm trầm trọng thêm những khó khăn nội tại của các quốc gia này.

Thị trường tài chính, tiền tệ thế giới vẫn biến động phức tạp, khó lường. Tỷ giá giữa một số ngoại tệ mạnh trên thế giới biến động mạnh (đồng ơ-rô giảm giá tới gần 20% trong vòng 2 tháng, đồng yên Nhật lại tăng lên mức cao nhất trong vòng 15 năm qua so với đồng USD) đã tác động tới cán cân thanh toán quốc tế, dòng chảy vốn và thương mại quốc tế, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu. Trong khi đó, nguy cơ lạm phát đang tăng tại một số nước chủ yếu do việc tăng giá năng lượng (chỉ số giá tiêu dùng tại Trung Quốc tháng 7-2010 tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất kể từ tháng 10-2008, tại châu Âu tăng lên đến mức 1,74% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất trong vòng 20 tháng qua); bên cạnh đó bong bóng thị trường bất động sản tại một số nước, như Trung Quốc, ấn Độ, Bra-xin cũng đang đe dọa sự ổn định và phục hồi kinh tế của các nước này nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung.

Niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng toàn cầu vẫn ở mức thấp, là một trong những nguyên nhân đe dọa sự phục hồi vốn đã chậm chạp của kinh tế thế giới. Tâm lý bi quan trên hầu hết các thị trường, phản ánh rõ rệt qua hoạt động của thị trường chứng khoán (từ đầu quý II năm 2010 đến nay) đã khiến tiêu dùng giảm sút, càng làm cho quá trình hồi phục kinh tế thêm khó khăn. Tiền mặt tiếp tục chảy vào các kênh đầu tư có thu nhập cố định, như trái phiếu chính phủ và vàng thay vì vào các kênh đầu tư rủi ro hơn, như chứng khoán, khiến việc huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường này càng thêm khó khăn trong bối cảnh tín dụng ngân hàng vẫn đang bị thắt chặt.

Trong 9 tháng đầu năm 2010, an ninh lương thực trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Những hiện tượng thiên tai chưa từng có xảy ra trải dài khắp châu Á và châu Âu (hạn hán và cháy rừng ở Nga, lũ lụt ở Đông Âu, Pa-ki-xtan, Ấn Độ, Trung Quốc...) tác động mạnh tới lượng cung lương thực thế giới. Các quốc gia đang phải tích cực thu mua, tăng dự trữ lương thực, hạn chế xuất khẩu khiến giá lương thực bị đẩy lên cao. Đáng chú ý, tình trạng giá lương thực không chỉ tăng do nguồn cung hạn chế mà còn do việc mua đi bán lại các hợp đồng nông sản được chứng khoán hóa và trở thành sản phẩm phái sinh phổ biến của các nhà đầu cơ trên thị trường tài chính quốc tế hiện nay.

Mặc dù gặp khó khăn từ thị trường thế giới nhưng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng gần 20% so với cùng kỳ năm 2009. Hoạt động sản xuất trên đà phục hồi tốt với giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15%, cao hơn nhiều so với mức tăng 4% của cùng kỳ năm trước. Thâm hụt ngân sách của Chính phủ đang được kiềm chế ở mức thấp, 8 tháng đầu năm mới chỉ ở mức 33% so với kế hoạch năm. Hoạt động du lịch khởi sắc mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng của khách quốc tế lên đến trên 35%. Dựa vào một số thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời gian qua, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã nâng chỉ số cạnh tranh trên thế giới của Việt Nam năm 2010 vượt 16 bậc so với năm ngoái, từ vị trí 75/133 lên vị trí thứ 59/139.

Trước những biến động đan xen giữa những yếu tố tích cực và tiêu cực của kinh tế thế giới, có thể nhận định kinh tế thế giới sẽ phục hồi với tốc độ chậm lại nhưng khả năng rơi vào suy thoái kép là thấp; xu hướng chung trong điều hành kinh tế vĩ mô của các nước trong thời gian tới sẽ là, rút dần các chính sách kích thích kinh tế nhưng với tốc độ chậm hơn so với kế hoạch nhằm đối phó với nguy cơ lạm phát và giảm phát đan xen.

2 - Diễn biến kinh tế Việt Nam thời gian qua

Những quyết sách đúng đắn của Chính phủ và những dấu hiệu tích cực từ kinh tế thế giới đã tác động, thúc đẩy kinh tế Việt Nam từng bước vượt qua khó khăn và đạt những kết quả khả quan trên hầu hết các lĩnh vực trong những tháng vừa qua của năm 2010.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kinh tế tăng trưởng với tốc độ ngày càng cao (tăng trưởng GDP quý I đạt 5,8%, quý II là 6,4% và quý III có thể đạt 7,1%). Hệ thống tài chính, tiền tệ, ngân hàng tiếp tục ổn định, lãi suất huy động và cho vay đã từng bước giảm dần, sự chênh lệch tỷ giá trên thị trường chính thức và thị trường tự do đã gần nhau hơn. Hệ thống ngân hàng tiếp tục hoạt động ổn định và hiệu quả, thanh khoản tốt. Nguồn vốn từ bên ngoài tăng khá, luồng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới tăng hơn 40% so với cùng kỳ năm trước, giải ngân vốn ODA đã đạt trên 74% kế hoạch cả năm và tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2009. Sức ép lạm phát đã có dấu hiệu giảm bớt, giá cả các mặt hàng được kiềm chế ở mức thấp, chỉ số CPI chỉ tăng nhẹ trong 5 tháng gần đây. Tiêu dùng trong nước, một trong những nhân tố tác động mạnh tới tăng trưởng GDP đã tăng mạnh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trên 25% so với cùng kỳ năm 2009.

Tuy nhiên, sự phục hồi chậm chạp và những biến động tiêu cực, khó lường của kinh tế thế giới những tháng qua đã tác động không nhỏ đến sự ổn định của các cân đối kinh tế vĩ mô của nước ta, cụ thể:

Thâm hụt cán cân thương mại vẫn ở mức cao đang là thách thức không nhỏ đối với sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu là do nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nên cần nhập nhiều nguyên, phụ liệu để phục vụ sản xuất, trong khi các thị trường lớn cho hàng xuất khẩu Việt Nam lại chưa phục hồi mạnh. Nhập siêu gần gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2009, trong đó chủ yếu là từ Trung Quốc (chỉ tính riêng trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc trên 7,3 tỉ USD, cao hơn mức nhập siêu chung của cả nước trong cùng thời kỳ). Nhập siêu tăng cao đang gây áp lực lên dự trữ ngoại hối quốc gia, tác động tới tỷ giá USD/VND, làm gia tăng nguy cơ lạm phát đối với nền kinh tế.

Hệ thống tài chính, ngân hàng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, trong đó áp lực tỷ giá là nguy cơ đáng lo ngại nhất. Tỷ giá trong Quý II năm 2010 có dấu hiệu ổn định một phần là do nguồn cung USD "ảo" từ các doanh nghiệp lợi dụng chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và đồng VND, vay vốn USD từ ngân hàng bán lấy VND để phục vụ sản xuất. Khi nguồn cung "ảo" này không còn, trong khi nhu cầu thanh toán nhập khẩu và các khoản vay USD đến hạn đang gây áp lực ngày càng lớn lên tỷ giá USD/VND. Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng không cao với tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROE), trong những tháng đầu năm thấp hơn so với cùng kỳ năm trước.

Thu hút đầu tư nước ngoài mặc dù ở mức cao nhưng đang có xu hướng chậm lại. Dòng vốn FDI hiện ít tập trung vào lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng như lĩnh vực sản xuất mà chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực có tính đầu cơ như bất động sản.

Hoạt động sản xuất mặc dù vẫn tăng nhưng với tốc độ giảm dần. Giá trị sản xuất công nghiệp trong tháng 8 tăng 1,6% so với tháng 7, thấp hơn nhiều so với mức tăng trung bình 3% trong 3 tháng trước đó. Ngoài ra, tăng trưởng dư nợ tín dụng những tháng đầu năm ở mức thấp phần nào phản ánh nhu cầu vốn mở rộng sản xuất và mở mới của các doanh nghiệp đang giảm đi.

Với những kết quả khả quan trong 9 tháng đầu năm 2010, Việt Nam sẽ cơ bản đạt được những mục tiêu chủ yếu đề ra cho năm 2010 (tăng trưởng 6,5%, chỉ số lạm phát dưới 8%). Tuy nhiên, những thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam vẫn hiện hữu do ảnh hưởng từ triển vọng không thực sự tích cực của nền kinh tế thế giới cũng như những khó khăn nội tại của nền kinh tế đang chuyển đổi. Cụ thể: (1) Tỷ giá USD/VND sẽ là vấn đề đáng lo ngại nhất trong những tháng cuối năm khi lượng cung USD "ảo" ra thị trường không còn, trong khi nhu cầu đối với thanh toán nhập khẩu và thanh toán các khoản vay đáo hạn tăng cao; (2) Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại có nguy cơ tiếp tục tăng, đe dọa tới ổn định tài chính và kinh tế vĩ mô. Đáng chú ý trong xu hướng này là nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn, mà lại là các sản phẩm có công nghệ ở mức trung bình từ thị trường Trung Quốc; (3) Lạm phát vẫn tiềm ẩn khả năng tăng cao do giá các nguyên liệu đầu vào trên thế giới biến động, nhất là giá lương thực, thực phẩm có thể tăng cao do tác động của tình trạng thiên tai toàn cầu; (4) Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn khi chi phí đầu vào vẫn ở mức cao (nhất là chi phí vốn), trong khi thị trường tiêu thụ vẫn gặp nhiều khó khăn khi sức mua của thị trường quốc tế đang có xu hướng tăng chậm lại. Lãi suất cho vay của các ngân hàng vẫn ở mức cao, nếu còn kéo dài sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế những tháng cuối năm; (5) Hệ thống ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh áp lực tăng vốn cận kề khi mà hiện tại còn hơn 20 ngân hàng chưa tăng đủ vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, trong khi để bảo đảm tăng đủ vốn cần thiết các ngân hàng này cần khoảng hơn 30 ngàn tỉ đồng.

3 - Một số giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã đặt ra

Định hướng điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua của Chính phủ là đúng hướng, phù hợp với tình hình, đã đem lại những kết quả quan trọng để đạt được mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu của cả năm 2010; tạo tiền đề tăng trưởng và ổn định vĩ mô cho việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, năm đầu tiên của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015. Trên cơ sở đánh giá những vấn đề mới nổi lên của tình tình kinh tế thế giới và Việt Nam thời gian qua, nghiên cứu những thách thức của nền kinh tế trong những tháng cuối năm, tác giả bài viết xin nêu lên một vài suy nghĩ nhằm làm rõ hơn một số vấn đề cần chú ý trong định hướng điều hành vĩ mô thời gian tới:

- Đối với chính sách tiền tệ, định hướng ưu tiên là nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay (nguy cơ lạm phát tạm thời được xoa dịu và tốc độ huy động vốn tăng cao hơn tốc độ dư nợ tín dụng cho vay) nên thiên về mở rộng chính sách tiền tệ hơn để tạo đà tăng trưởng cho giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ cần tiếp tục chú ý đến việc ổn định tỷ giá USD/VND và bảo đảm để hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại không bị xáo trộn trong quá trình tăng vốn theo quy định.

- Đối với chính sách tài khóa, tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng để kích cầu kinh tế, giải quyết công ăn việc làm và thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, cần chú trọng rà soát, đánh giá lại hiệu quả đầu tư các chương trình, dự án lớn để điều chỉnh kịp thời, nhanh chóng đưa vào khai thác; tránh thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

- Trong công tác bảo đảm an sinh xã hội, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh các chương trình đã ban hành liên quan đến xóa đói, giảm nghèo, cải thiện thu nhập người lao động, đầu tư y tế, giáo dục...; cần hết sức chú trọng tiến hành giải quyết nhanh những khó khăn nảy sinh cho người dân tại khu vực nông thôn do thiên tai, bão lũ, hạn hán, dịch bệnh ở người và gia súc gây ra.

- Chú trọng công tác nắm tình hình và dự báo những biến động của tình hình thị trường trong nước, quốc tế để kịp thời có biện pháp bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và kiểm soát cung, cầu hàng hóa, bình ổn giá cả thị trường. Từ nay đến cuối năm giá dầu và giá lương thực sẽ có nhiều khả năng biến động mạnh do thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến nguồn cung, trong khi nhu cầu tiêu dùng và tích trữ trên thế giới đang duy trì ở mức cao, nhất là trong thời điểm mùa đông.

- Tiếp tục tiến hành đồng bộ các biện pháp để giảm nhập siêu là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu, trong đó trước hết cần có chính sách, cơ chế thông thoáng hơn nữa để tăng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng Việt Nam có thế mạnh. Bên cạnh đó, tiếp tục duy trì các biện pháp thương mại (hạn chế nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ, không thiết yếu, áp dụng hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật...); biện pháp thông tin tuyên truyền (khuyến khích dùng hàng Việt Nam, tăng cường xúc tiến thương mại, tổ chức các hội chợ hàng tiêu dùng...); đồng thời, cần có kế hoạch tổng thể để tăng cường xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc. Chú trọng hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để góp phần giảm nhập siêu.

- Nâng cao chất lượng công tác thông tin kinh tế vĩ mô, thông tin có phân tích, cung cấp kịp thời để tránh bị dư luận phân tích theo nhiều hướng khác nhau. Phản biện kịp thời và xử lý những đối tượng tung tin đồn thất thiệt hoặc xuyên tạc tình hình. Chủ động tấn công nhằm vô hiệu hóa, ngăn chặn, đấu tranh cương quyết với nguồn thông tin có tính chất phản động, kích động và gây tâm lý hoang mang, hoài nghi hoạt động điều hành quản lý của Nhà nước trong những thời điểm nền kinh tế có biến động và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng./.