Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm nhằm tập trung nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
TCCS - Thực hành tiết kiệm là giá trị nền tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ yêu cầu khách quan phải quản lý và sử dụng hợp lý, hiệu quả mọi nguồn lực vật chất, tinh thần cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm không chỉ là giải pháp hữu hiệu để phòng, chống tham ô, lãng phí, mà còn là điều kiện quyết định để tập trung nguồn lực đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm
Thực hành tiết kiệm là một trong những giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của một quốc gia nông nghiệp, thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, chiến tranh và thiếu thốn. Trong lịch sử, từ triết lý “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” đến lối sống “liệu cơm gắp mắm”, tinh thần tiết kiệm đã trở thành thói quen, nếp nghĩ và phương châm ứng xử của nhiều thế hệ người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư duy nhạy bén và tầm nhìn chiến lược, đã tiếp thu, kế thừa và phát triển truyền thống quý báu ấy; đồng thời, bổ sung những yếu tố mới từ tinh hoa văn hóa nhân loại và kinh nghiệm thực tiễn của phong trào cách mạng thế giới. Từ môi trường hoạt động quốc tế phong phú và trải nghiệm trực tiếp trong phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành quan niệm về thực hành tiết kiệm vừa mang tính phổ quát, vừa gắn chặt với yêu cầu của cách mạng Việt Nam.
Điểm xuất phát quan trọng để Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng về thực hành tiết kiệm là nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa tiết kiệm và độc lập, tự chủ của dân tộc. Với Người, một đất nước muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và giữ vững chủ quyền thì trước hết phải biết quý trọng, bảo vệ và sử dụng hợp lý mọi nguồn lực hiện có. Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm còn bắt nguồn từ chính quan niệm đạo đức cách mạng mà Người kiên trì vun đắp. Trong hệ thống đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, thực hành tiết kiệm luôn được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối giữa “cần” và “liêm”, bảo đảm cho mỗi cá nhân giữ gìn phẩm chất trong sáng, tránh xa chủ nghĩa cá nhân, lối sống xa hoa, hưởng thụ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, về tính tất yếu phải thực hành tiết kiệm
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với hoàn cảnh đặc biệt khắc nghiệt: nạn đói cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người, hơn 90% dân số mù chữ, nguy cơ xâm lược từ bên ngoài luôn thường trực, trong khi ngân khố quốc gia gần như trống rỗng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn chỉ rõ thực trạng ấy: “trước khi rút chạy, thực dân Pháp đã để lại cho chúng tôi một di sản thảm hại: nạn đói, nghèo khổ, đổ nát điêu tàn, một số lượng lớn người thất nghiệp...”(1), hay “Trong 80 năm, nước ta bị đế quốc Pháp rồi đến đế quốc Nhật vơ vét hết, vì vậy mà kinh tế của ta nghèo nàn, lạc hậu”(2). Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, việc khôi phục và xây dựng một nền kinh tế độc lập không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là vấn đề sống còn đối với vận mệnh quốc gia - dân tộc.
Từ nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu cơ giữa độc lập kinh tế và độc lập chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nay chúng ta cần phải có một nền kinh tế khá, để kháng chiến và kiến quốc”(3). Nhưng để kiến thiết kinh tế cần phải có nguồn vốn - thứ mà đất nước đang hoàn toàn thiếu thốn. Người chỉ rõ, ở các nước tư bản thường tạo nguồn vốn bằng cách vay nợ, cướp bóc thuộc địa hoặc bóc lột công nhân, nông dân, song “những cách đó chúng ta đều không thể làm được”(4). Việt Nam không thể đi theo con đường bất công, phi nhân đạo ấy, vì điều đó trái với bản chất cách mạng và mục tiêu nhân văn của dân tộc. Từ đó, Người chỉ ra con đường tất yếu: “Chúng ta chỉ có cách là một mặt tăng gia sản xuất, một mặt tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta”(5). Thực hành tiết kiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế đã vượt ra khỏi phạm vi đạo đức cá nhân, trở thành chiến lược quốc gia, nhằm chủ động tạo dựng nguồn lực từ bên trong cho một nền kinh tế tự chủ, bền vững.
Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là không giới hạn thực hành tiết kiệm ở nghĩa “thắt lưng buộc bụng”, mà coi đó là nền tảng để mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu ta khéo tiết kiệm sức người, tiền của và thời giờ, thì với sức lao động, tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội… Đó là một sự thực chắc chắn, chứ không phải lý luận cao xa”(6). Ngay trong những năm kháng chiến gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn kiên định: “Nước ta đang kháng chiến, điều kiện khó khăn hơn. Nhưng chúng ta quyết tâm tăng gia và tiết kiệm, thì nhất định tăng gia được và tiết kiệm được”(7).
Thứ hai, về bản chất của thực hành tiết kiệm
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất của thực hành tiết kiệm trước hết nằm ở ý thức và thái độ sử dụng hợp lý mọi nguồn lực, nhằm phục vụ lợi ích chung. Ngày 27-1-1952, trong bài nói chuyện nhân dịp Tết Nhâm Thìn, Người đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tiết kiệm là gì? Vì sao phải tiết kiệm? Tiết kiệm những gì? Ai cần phải tiết kiệm?”(8). Đồng thời, Người đã giải thích cụ thể bản chất của tiết kiệm là “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”(9). Cùng với đó, Người còn chỉ rõ việc thực hành tiết kiệm “không phải là bủn xỉn”(10), nó hoàn toàn đối lập với “hà tiện”, cắt giảm mọi khoản chi tiêu, kể cả những khoản cần thiết cho lợi ích chung.
Thực hành tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là hạn chế phát triển, mà để bảo đảm chi tiêu và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, đúng mục đích. Tức là, “khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng”(11). Đây chính là biểu hiện của lối sống văn minh, hiện đại, giàu tính nhân văn, có sự kết hợp hài hòa giữa tiết kiệm và đầu tư cho những việc có giá trị lâu dài, hướng tới hiệu quả thiết thực cho cộng đồng.
Thứ ba, về nội dung thực hành tiết kiệm
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung thực hành tiết kiệm phải toàn diện cả về sức lao động, thời gian, đến lời nói. Trong đó, thực hành tiết kiệm sức lao động là yêu cầu hàng đầu, bởi sức lao động chính là “vốn quý nhất” của quốc gia. Người nhấn mạnh: “Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp lý sức lao động của nhân dân ta”(12). Người nêu quan điểm: “Việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được”(13). Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hành tiết kiệm thời gian, bởi thời gian là “tài sản vô giá”, một khi đã trôi qua thì không thể lấy lại. Người phê phán gay gắt: “Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại”(14). Tiết kiệm thời gian đồng nghĩa với việc tổ chức công việc khoa học, đúng giờ, hiệu quả, đồng thời tôn trọng thời gian của người khác. Người căn dặn: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân… Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm… Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”(15). Hơn thế, tiết kiệm thời gian phải gắn với cải tiến tổ chức và đổi mới phương pháp làm việc: “Việc gì trước kia phải làm 2 ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong 1 ngày”(16).
Cùng với thực hành tiết kiệm sức lao động và thời gian, việc thực hành tiết kiệm lời nói cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Bởi theo Người, nói thì phải đi đôi với làm, đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hành “Nói ít, bắt đầu bằng hành động(17). Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn lời nói phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức, tránh phô trương, hình thức. Người cảnh báo tình trạng hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm, xem đây như một dạng lãng phí lời nói nghiêm trọng, kéo theo đó là sự lãng phí thời gian nghe của quần chúng nhân dân.
Thứ tư, về chủ thể thực hành tiết kiệm
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là nghĩa vụ và trách nhiệm chung của toàn xã hội, không trừ bất kỳ ai, từ cán bộ lãnh đạo cao nhất đến từng người dân, từ cơ quan hành chính đến đơn vị sản xuất, từ chiến sĩ ngoài mặt trận đến công nhân, nông dân trong đời sống thường ngày. Người khẳng định dứt khoát: “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp”(18). Trong đó, Người đặc biệt coi trọng tính nêu gương của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ: “Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã”(19). Điều này không chỉ là nguyên tắc đạo đức cách mạng, mà còn là phương thức thuyết phục hiệu quả nhất, bởi tấm gương của người lãnh đạo có sức lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy ý thức tự giác thực hành tiết kiệm trong toàn dân.
Việc tiết kiệm cần được triển khai rộng khắp, “Cơ quan nào cũng cần và cũng có thể tiết kiệm”(20), nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động phục vụ nhân dân. Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm tới bảo vệ tài sản công, chỉ rõ đây là trách nhiệm trực tiếp của mỗi cán bộ, đảng viên và các cơ quan, đơn vị. Người căn dặn phải “vít kín các lỗ thủng, các kẽ hở, không để của cải dành dụm của chúng ta bị hao hụt, phân tán”(21).
Đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, tập trung nguồn lực phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới
Trong quỹ đạo phát triển năng động của thế kỷ XXI, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới với nhiều vận hội, thách thức đan xen. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra không gian phát triển chưa từng có, nơi tri thức, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Song, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, bất ổn kinh tế - tài chính toàn cầu, biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên và sự dịch chuyển nhanh chóng của các chuẩn mực phát triển bền vững... đặt ra không ít thách thức đối với nước ta.
Ở trong nước, yêu cầu đầu tư cho hạ tầng chiến lược, củng cố quốc phòng - an ninh, bảo đảm an sinh xã hội và chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Trong khi khả năng tích lũy của nền kinh tế vẫn còn hạn chế; tình trạng thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao vẫn tồn tại ở nhiều lĩnh vực. Khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng nguồn lực, nếu không được thu hẹp bằng những giải pháp căn cơ sẽ trở thành điểm nghẽn, trở lực đối với sự phát triển sức cạnh tranh quốc gia. Chính vì vậy, thực hành tiết kiệm vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nguyên tắc phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Để hiện thực hóa điều này, cần thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo nền tảng pháp lý vững chắc để đất nước phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Để đáp ứng yêu cầu quản trị hiệu quả nguồn lực quốc gia, nâng cao sức cạnh tranh và bảo đảm an ninh kinh tế đất nước trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó, hoàn thiện thể chế và cơ chế thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là khâu đột phá, có tác dụng trực tiếp tạo ra “hành lang pháp lý” đủ mạnh để khuyến khích đổi mới sáng tạo và ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu cực, thất thoát, tham nhũng, sử dụng sai mục đích các nguồn lực công. Do đó, cần thường xuyên rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật về quản lý tài chính công, ngân sách nhà nước, tài sản công, đầu tư công, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Các quy định cần cụ thể hóa tiêu chuẩn, định mức, quy trình, cơ chế giám sát; xóa bỏ các “vùng trống” và “kẽ hở” dễ bị lợi dụng. Cơ chế kiểm tra, giám sát phải xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch, phân bổ, triển khai đến quyết toán, bảo đảm mọi hoạt động minh bạch, có thể truy vết và giải trình trước nhân dân.
Song song với hoàn thiện pháp luật, cần thúc đẩy áp dụng các mô hình quản trị tiên tiến và giải pháp công nghệ số để tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí trung gian, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Việc tích hợp công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào quản lý tài chính công, đầu tư công và quản trị tài sản công không chỉ giúp kiểm soát chặt chẽ hơn, mà còn tạo điều kiện khai thác tối đa mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, tạo động lực cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Hai là, đẩy mạnh thực hành tiết kiệm trong quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước, nguồn vốn đầu tư công bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch.
Ngân sách nhà nước và nguồn vốn đầu tư công là “mạch máu” của nền kinh tế, giữ vai trò quyết định trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng, cũng như củng cố niềm tin của nhân dân đối với bộ máy quản lý nhà nước. Chính vì vậy, cần đổi mới mạnh mẽ công tác lập dự toán ngân sách và kế hoạch đầu tư công theo hướng khoa học, sát thực tiễn, gắn chặt với các mục tiêu phát triển từng giai đoạn. Mọi khoản chi ngân sách phải dựa trên tiêu chí rõ ràng về hiệu quả đầu ra, mức độ cấp thiết và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Đồng thời, phải tập trung tối đa nguồn lực cho các lĩnh vực có khả năng tạo ra tác động lan tỏa lớn như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, y tế và an sinh xã hội.
Quá trình tổ chức quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước, nguồn vốn đầu tư công cần bảo đảm tính công khai, minh bạch trên các nền tảng số, cơ sở dữ liệu mở với toàn bộ quy trình, từ lập kế hoạch, phân bổ đến triển khai và quyết toán để người dân, báo chí, tổ chức xã hội và cơ quan giám sát có thể theo dõi, đánh giá độc lập.
Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần gương mẫu sử dụng tiết kiệm điện, nước, văn phòng phẩm, phương tiện, thiết bị; kéo dài tuổi thọ tài sản; tái sử dụng hoặc luân chuyển hợp lý để giảm chi phí ngân sách. Việc mua sắm, bảo dưỡng và thanh lý tài sản công phải tuân thủ pháp luật, kết hợp ứng dụng công nghệ số để quản lý và theo dõi hiệu quả. Đặc biệt, cần duy trì cơ chế kiểm toán, thanh tra độc lập thường xuyên và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, cũng như nhân rộng các mô hình, sáng kiến tiết kiệm hiệu quả.
Ba là, tăng cường thực hành tiết kiệm trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và định hướng phát triển bền vững đất nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, tốc độ cạn kiệt tài nguyên diễn ra nhanh chóng và áp lực từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa gia tăng, việc thực hành tiết kiệm trong quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn là vấn đề sống còn liên quan đến an ninh quốc gia và trách nhiệm với các thế hệ mai sau. Mỗi chính sách tiết kiệm, mỗi hành động quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên đều góp phần tăng cường khả năng tự chủ về nguồn lực. Từ đó, tạo lợi thế cho đất nước trong tiến trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững, đưa Việt Nam vững bước tiến lên trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.
Để tăng cường thực hành tiết kiệm trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cần siết chặt kỷ cương trong quy hoạch, quản lý khai thác bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật, hạn chế tối đa thất thoát, lãng phí. Đối với tài nguyên không tái tạo như khoáng sản, dầu khí, việc khai thác phải gắn với ứng dụng công nghệ tiên tiến để tối ưu hóa hiệu suất thu hồi, giảm thiểu tổn thất và tác động tiêu cực đến môi trường. Nguồn thu từ khai thác tài nguyên cần được phân bổ hợp lý cho các mục tiêu dài hạn. Trong đó, ưu tiên đầu tư vào khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, hạ tầng xanh và chuyển dịch năng lượng. Đồng thời, cần quan tâm đẩy mạnh các biện pháp cụ thể nhằm duy trì khả năng tự tái tạo của thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái và nâng cao chất lượng sống của nhân dân, như: trồng, phục hồi và quản lý rừng bền vững; bảo vệ đa dạng sinh học; kiểm soát chặt chẽ nguồn gây ô nhiễm không khí, nước và đất; phát triển hệ thống quan trắc môi trường hiện đại để cảnh báo sớm nguy cơ suy thoái các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên.
Có thể thấy, thực hành tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu về mặt kinh tế, mà còn bao hàm các giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quản lý ngân sách, đầu tư công, khai thác tài nguyên đến nếp sống. Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện, cần thực hiện đồng bộ việc hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị, công khai minh bạch, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên để tạo thành phong trào và phương châm hành động rộng khắp, bảo đảm cho đất nước có đủ năng lực vượt qua thách thức, tận dụng thời cơ, hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.
-------------------
(1), (21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 658, 467
(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (13), (16), (18), (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 352, 352, 352, 352, 354, 355, 352, 352-353, 353, 353, 354
(9), (10), (11), (14), (19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 122, 123, 123, 123, 16
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 70
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 122
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm và làm việc tại tỉnh Cao Bằng  (28/01/2026)
Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay  (27/01/2026)
Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới  (08/01/2026)
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm nhằm tập trung nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới
- Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay
- Pháp luật ASEAN về giảm thiểu rác thải nhựa biển: Thực trạng và hướng hoàn thiện
- Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm