TCCS - Nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 01-NQ/TU “Về phát triển nhanh, bền vững công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030”, Quảng Ninh đã quyết liệt, khẩn trương xây dựng, ban hành, triển khai nhiều chính sách quan trọng, vượt trội, tạo động lực thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

1. Tỉnh Quảng Ninh xác định ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là một trong những trụ cột chính của tăng trưởng kinh tế, đóng vai trò then chốt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo động lực mới cho sự phát triển bền vững. Trong giai đoạn 2020 - 2025, tỉnh đã đặt mục tiêu nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt khoảng 20% vào năm 2030, cùng với tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân đạt trên 17 - 20%/năm. Đồng thời thu hút tổng vốn đầu tư lớn, tạo hàng chục ngàn việc làm mới trong khu vực này. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định mục tiêu phát triển, trong đó nhấn mạnh việc tăng nhanh quy mô GRDP, đưa Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030; hướng đến mục tiêu cụ thể như GRDP tăng trưởng cao hơn mức bình quân cả nước, GRDP bình quân đầu người đạt mức cao và nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn với kinh tế xanh, kinh tế số…

Những mục tiêu phát triển nêu trên thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện xuyên suốt của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, trong đó, một trong những tâm điểm là Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 16-11-2020, của Tỉnh ủy Quảng Ninh, “Về phát triển nhanh, bền vững công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030” (Nghị quyết số 01-NQ/TU). Nghị quyết này đặt nền tảng cho nhiều cơ chế đặc thù, trọng tâm là thu hút đầu tư công nghệ cao, sản phẩm có giá trị gia tăng lớn và phát triển đồng bộ hệ thống công nghiệp - đô thị - dịch vụ.

Nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngay từ đầu nhiệm kỳ 2020 - 2025, Quảng Ninh đã quyết liệt, khẩn trương xây dựng, ban hành, triển khai nhiều chính sách quan trọng, vượt trội, tạo động lực thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Thứ nhất, chính sách về phát triển hệ thống hạ tầng công nghiệp.

Một trong những chính sách trọng yếu của tỉnh là xây dựng hạ tầng cơ sở hiện đại cho khu công nghiệp và khu kinh tế để tạo điều kiện thu hút đầu tư trong môi trường cạnh tranh cao. Theo đó, cùng với mở rộng các khu công nghiệp đã có, tỉnh đã thông qua các quyết định để xây dựng mới và phát triển thêm các khu công nghiệp, như: Đông Triều, Bắc Vân Đồn Airport, Hải Hà (giai đoạn 2)… nhằm tạo quỹ đất lớn và cơ sở hạ tầng cho các nhà đầu tư chế biến, chế tạo.

Đồng thời, tỉnh chú trọng phát triển khu công nghiệp theo mô hình “3 trong 1” (khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ) với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ, nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống và làm việc cho người lao động, hỗ trợ vận hành doanh nghiệp hiệu quả.

Cùng với đó, tỉnh cũng ban hành nhiều cơ chế tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ logistics, cảng biển, kết nối giao thông để giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhanh chóng và giảm chi phí vận chuyển.

Thứ hai, chính sách ưu đãi và thu hút đầu tư.

Quảng Ninh đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ nhằm thu hút vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài, đặc biệt ưu tiên các dự án liên quan đến công nghệ cao, thân thiện môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và lao động; sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến, chế tạo; quy trình cấp phép nhanh, rút ngắn thời gian đăng ký đầu tư.

Ngoài ra, tỉnh cũng đề xuất các ưu đãi về thuế, đất đai, hỗ trợ đào tạo nhân lực theo nhu cầu cụ thể của dự án và giảm thiểu các quy trình hành chính không cần thiết để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Thứ ba, chính sách đào tạo, tạo nguồn nhân lực có chất lượng và cải cách hành chính.

Cùng với triển khai đồng bộ trong cả hệ thống chính trị của tỉnh, Quảng Ninh đã tăng cường công tác tuyên truyền cả về chiều rộng và chiều sâu những chính sách, cơ chế liên quan đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu doanh nghiệp trong ngành chế biến, chế tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, tự động hóa và quản lý hiện đại; rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, minh bạch quy trình và giảm chi phí không chính thức tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

Nhìn chung, các chính sách ưu tiên của Quảng Ninh đã thể hiện chiến lược rõ ràng, vượt trội, nổi bật là:

Ưu tiên hàng đầu cho dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớnTỉnh không chỉ thực hiện các chính sách chung của Trung ương về thu hút đầu tư công nghiệp mà còn đặt ưu tiên chiến lược cho các dự án ứng dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu - nhóm ngành này được tỉnh coi là trọng tâm ưu tiên trong thu hút đầu tư. Tỉnh kiên định không “thu hút bằng mọi giá” mà chỉ thu hút các dự án chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo.

Cơ chế ưu đãi tài chính cụ thể giúp giảm chi phí đầu tư. Quảng Ninh đã ban hành các cơ chế ưu đãi dành riêng cho các dự án chế biến, chế tạo đầu tư vào khu công nghiệp, như: Miễn/ giảm thuế sử dụng đất thuê trong các năm đầu đầu tư; hỗ trợ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (miễn thuế 2 năm và giảm 50% cho 4 năm tiếp theo đối với các dự án mới trong khu công nghiệp, ngoại trừ một số khu công nghiệp đã đầy quỹ); miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, đặc biệt nguyên liệu không sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu để chế biến xuất khẩu; hỗ trợ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho khu công nghiệp, giảm chi phí đầu tư ban đầu của doanh nghiệp. 

Cải cách hành chính mạnh mẽ. Tỉnh đã “mạnh tay” trong thực hiện cải cách quy trình hành chính, tạo môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi với cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp. Cụ thể như:  Thủ tục cấp phép đầu tư được rút ngắn tối đa và giải quyết nhanh chóng, kể cả cho dự án quy mô lớn hoặc công nghệ cao. Chẳng hạn như dự án sản xuất tấm wafer silic của Jinko Solar được tỉnh cấp chứng nhận đầu tư chỉ trong dưới 24 giờ sau khi nộp đầy đủ hồ sơ...; Đối thoại thường xuyên giữa chính quyền và nhà đầu tư, qua đó tháo gỡ các vướng mắc ngay từ những bước đầu tiên, giúp dự án triển khai nhanh hơn, khắc phục triệt để tình trạng quy trình "đứng chờ” kéo dài.

Ưu đãi hạ tầng kỹ thuật - kết nối. Về tổng thể, trong giai đoạn 2020 - 2025, Quảng Ninh đã phát triển hạ tầng đồng bộ giữa khu công nghiệp và vùng phụ trợ, bao gồm: kết nối giao thông đến cảng biển, sân bay, liên vùng; hạ tầng cấp điện, nước, viễn thông sẵn sàng; dữ liệu quy hoạch công khai minh bạch.  Đặc biệt, trong kế hoạch phát triển đến năm 2030, tỉnh đang xây dựng cơ chế ưu đãi thêm cho khu công nghiệp, khu kinh tế chuyên biệt và dự án trọng điểm, trong đó có những đề xuất ưu đãi riêng về đất đai và dịch vụ hạ tầng…

Môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Quảng Ninh luôn nằm trong top đầu cả nước về thu hút FDI, với các tập đoàn nước ngoài lớn quan tâm và triển khai đầu tư trong ngành chế biến, chế tạo. Nhờ đó, tổng vốn đăng ký FDI của Quảng Ninh đã có sự vượt trội so với nhiều địa phương khác trong khu vực, mặc dù tỉnh không phải là địa bàn có dân số lớn nhất hay nền kinh tế rộng nhất. 

Các đại biểu dự Lễ ra mắt xe ô tô đầu tiên trên dây chuyền lắp ráp của Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng tại Khu công nghiệp Việt Hưng - Quảng Ninh, ngày 26-3-2025_Ảnh: Báo Quảng Ninh

2. Với những chính sách vượt trội, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh đã có bước phát triển rõ nét cả về quy mô lẫn chất lượng, góp phần vào những kết quả phát triển chung của tỉnh.

Một là, đưa ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dần trở thành một trong những trụ cột chính của nền kinh tế Quảng Ninh.

Nhờ các chính sách vượt trội, thu hút đầu tư có chọn lọc hướng tới công nghệ cao, thân thiện môi trường và giá trị gia tăng lớn, trong những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh đã nổi lên như một trong những động lực tăng trưởng chủ đạo của tỉnh; từ chỗ là ngành phụ trợ trong cơ cấu công nghiệp trước đây, đến nay đã thực sự dần trở thành một trong ba trụ cột chính của nền kinh tế Quảng Ninh.

Từ một tỉnh có số lượng hạn chế về doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, đến hết tháng 9-2025, toàn tỉnh đã có tổng số 1.273 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 21/24 phân ngành cấp 2 theo quy định tại Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 6-7-2018 của Thủ tướng Chính phủ, ngoại trừ một số ngành như: thuốc lá, sản xuất than cốc và sản phẩm dầu mỏ tinh chế, sản xuất kim loại(1).

Chỉ tính riêng tại địa bàn các khu công nghiệp, khu kinh tế của tỉnh, hiện có 158 doanh nghiệp, dự án công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 12,4% tổng số doanh nghiệp, dự án của ngành(2). Các lĩnh vực có số lượng doanh nghiệp lớn và đóng góp chủ yếu trong khu vực này bao gồm: ngành dệt, sản xuất trang phục, sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, sản xuất máy móc và thiết bị chuyên dụng.

Hai là, thu hút vốn đầu tư lớn, cả trong nước và nước ngoài

Chính sách ưu đãi thu hút đầu tư của Quảng Ninh đã tạo ra một môi trường hấp dẫn với nhà đầu tư quốc tế. Năm 2023, Quảng Ninh trở thành một trong những điểm đến đầu tư hàng đầu tại Việt Nam; giai đoạn 2024 - 2025, tỉnh nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Các dự án được thu hút tập trung vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo như sản xuất thiết bị điện tử, linh kiện công nghệ, sản xuất tấm quang năng, sản xuất sản phẩm cao su - plastic… góp phần định hình chuỗi sản xuất hiện đại và tăng giá trị sản xuất nội địa. Ngoài FDI, những chính sách ưu đãi cũng thúc đẩy dòng vốn đầu tư nội địa đổ vào nhiều dự án công nghiệp chế biến, chế tạo, tăng năng lực sản xuất và mở rộng quy mô doanh nghiệp trong nước.

Hiện nay, toàn tỉnh có tổng nguồn vốn đăng ký đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 346.000 tỷ đồng (tương đương 13,6 tỷ USD), trong đó các doanh nghiệp, dự án tại các khu công ngiệp, khu kinh tế chiếm tỷ trọng lớn với tổng vốn đăng ký đạt trên 269.000 tỷ đồng (tương đương trên 10,5 tỷ USD), chiếm 77,75% tổng vốn đăng ký. Trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nguồn vốn đầu tư thu hút của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 217.681 tỷ đồng (tương đương trên 9 tỷ USD), tương ứng với 62,9% tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực này của tỉnh(3).

Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh được duy trì trên 2 con số, bình quân toàn ngành đạt trên 22,6%/năm (năm 2021 tăng 27,4%; năm 2022 tăng 17%; năm 2023 tăng 20,9%; năm 2024 tăng 21,33%; 11 tháng năm 2025 tăng 33,75%). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong giai đoạn 2020 - 2024 đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 12.000 tỷ đồng. Riêng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này ở địa bàn khu công nghiệp, khu kinh tế trong năm 2024 đóng góp 4.876 tỷ đồng, chiếm trên 58% tổng thu ngân sách toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh(4).

Ba là, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng bền vững; góp phần nâng cao vị thế của tỉnh

Nhờ các dự án đầu tư hiệu quả và chính sách ưu đãi mạnh mẽ, vượt trội, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh đã thể hiện sự tăng trưởng bền vững qua từng năm. Tốc độ tăng giá trị gia tăng của ngành ở mức cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2021 - 2025 (hơn 17%/năm), cho thấy mức độ phát triển nhanh và ổn định.

Đồng thời, nhờ quy hoạch ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, Quảng Ninh đã chứng kiến sự cải thiện rõ nét trong tăng trưởng GRDP tổng thể; tăng thu ngân sách và xây dựng chuỗi sản xuất liên ngành và tích hợp vào chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt trong điện tử và dệt may, giúp Quảng Ninh tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất quốc tế.

Bốn là, tạo việc làm và cải thiện đời sống người lao động

Từ những chính sách ưu đãi, vượt trội, sự phát triển mạnh của ngành chế biến, chế tạo đã tạo hàng vạn việc làm mới cho người lao động địa phương và trong khu vực.

Các dự án của ngành chế biến, chế tạo đã thu hút và tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, trong đó các dự án lớn như Foxconn, Thanh Công - Viet Hung… Thu nhập của lao động trong các khu công nghiệp có xu hướng tăng lên nhờ môi trường làm việc ổn định và các chính sách phúc lợi, góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực địa phương.

Theo thống kê, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh đã tạo thêm 31.050 việc làm mới trong giai đoạn 2021 - 2025, đạt 103,5% mục tiêu Nghị quyết số 01-NQ/TU đề ra(5), góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm dần lao động trong các ngành khai thác tài nguyên, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động. Đặc biệt, việc tạo việc làm cho người lao động không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ, logistics và hỗ trợ công nghiệp quanh các khu công nghiệp, góp phần lan tỏa hiệu quả kinh tế - xã hội.

Công nhân người địa phương trong dây chuyền sản xuất tại nhà mày của Foxconn, Khu công nghiệp Đông Mai - Quảng Ninh_Ảnh: Thanh Sơn

3. Nhằm tiếp tục phát triển mạnh mẽ, toàn diện ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; cụ thể hóa và đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 vào cuộc sống; tiếp tục triển khai một cách xuyên suốt các nghị quyết về phát triển kinh tế, trong đó trọng tâm là Nghị quyết số 01-NQ/TU, thời gian tới, tỉnh Quảng Ninh sẽ tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ các chính sách sau:

Tiếp tục hoàn thiện, cải tiến chính sách uu tiên thu hút FDI thế hệ mới và công nghệ cao.

Đẩy nhanh việc định hình chính sách thu hút đầu tư theo hướng chất lượng, công nghệ cao và bền vững; tập trung mời gọi các dự án FDI thế hệ mới,  đặc biệt là các dự án công nghệ tiên tiến, xanh và có giá trị gia tăng cao trong công nghiệp chế biến, chế tạo. 

Chính quyền cam kết tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và thông thoáng, với tôn chỉ “đồng hành cùng nhà đầu tư” thông qua đối thoại thường xuyên, tháo gỡ khó khăn về pháp lý và hành chính. Đây là ưu thế cạnh tranh quan trọng để thu hút dòng vốn nước ngoài chất lượng cao.

Tiếp tục nghiên cứu mở rộng hạ tầng khu công nghiệp và cụm công nghiệp - bước đệm cho đầu tư chế biến, chế tạo.

Nghiên cứu ban hành các chính sách bổ sung và kế hoạch mở rộng hệ thống hạ tầng sản xuất công nghiệp với việc mở rộng và xây dựng các khu công nghiệp mới trong thời gian tới; trước mắt tập trung triển khai các khu công nghiệp đã được cấp phép: Khu công nghiệp Đông Triều; Khu công nghiệp phía bắc sân bay Vân Đồn; Khu công nghiệp Hải Hà (giai đoạn 2); mở rộng Khu công nghiệp Đông Mai… Các khu công nghiệp này được định hướng thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến, sản xuất công nghệ cao, công nghiệp thông minh và sản xuất chất bán dẫn.

Đồng thời, triển khai hiệu quả các chính sách ưu đãi phát triển các cụm công nghiệp chuyên ngành với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, kết nối chuỗi sản xuất trong khu vực. Đây là một khâu quan trọng trong chiến lược thu hút đầu tư, giảm bớt phụ thuộc vào một số khu công nghiệp lớn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ phát triển.

Thúc đẩy các cơ chế ưu đãi đầu tư tập trung vào chất lượng và giá trị gia tăng.

Tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc hỗ trợ về đất đai và phát triển hạ tầng, như: Miễn/ giảm tiền thuê đất trong giai đoạn đầu đầu tư; hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặt bằng hạ tầng công nghiệp; hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý môi trường và logistic trong khu công nghiệp... Các ưu đãi này đặc biệt dành cho dự án đầu tư ngành chế biến, chế tạo công nghệ cao, sạch, thân thiện môi trường. Đây là cách Quảng Ninh giảm chi phí vốn đầu tư ban đầu cho doanh nghiệp - điều mà nhiều địa phương vẫn khó thực hiện vì quỹ đất hạn chế hoặc quy trình pháp lý phức tạp. 

Song song với đó, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép dự án, cấp giấy chứng nhận đầu tư và các giấy tờ liên quan; tăng cường đối thoại giữa doanh nghiệp với chính quyền, xây dựng cơ chế xử lý vướng mắc theo một cửa liên thông và đồng hành giải quyết khó khăn xuyên suốt vòng đời dự án - từ chuẩn bị đầu tư đến vận hành sản xuất.

Hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ và liên kết ngành; Quy hoạch dài hạn và cam kết chính sách ổn định đến 2030 - 2050.

Để tiến tới giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, gia tăng tỷ lệ nội địa hoá và mở rộng chuỗi giá trị cho sản phẩm chế tạo “made in Quang Ninh”, tỉnh sẽ chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm thu hút các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng như cơ khí chế tạo, lắp ráp ô tô, sản xuất linh kiện cho ngành điện tử.., tạo hệ sinh thái sản xuất liên kết chặt chẽ.

Tỉnh cũng đã và đang tích cực hoàn thiện những chính sách cụ thể, khoa học liên quan đến quy hoạch dài hạn và cam kết chính sách ổn định đến 2030 - 2050. Xây dựng bản đồ chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050; tập trung từng bước phát triển 5 khu kinh tế lớn, 23 khu công nghiệp và 45 cụm công nghiệp trên toàn tỉnh… Chính sách quy hoạch dài hạn không chỉ đáp ứng nhu cầu mở rộng hạ tầng sản xuất mà còn là cam kết chính trị - kinh tế lâu dài để tạo niềm tin cho nhà đầu tư về sự ổn định và nhất quán trong chính sách ưu đãi đầu tư.

Hoàn thiện, thúc đẩy chính sách về dịnh hướng xuất khẩu, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu.

Với mục tiêu tăng tỷ trọng xuất khẩu của ngành chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm phần lớn, trong thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục hoàn thiện và thúc đẩy chính sách chính sách thu hút đầu tư vào các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, liên kết gia tăng sản lượng hàng hóa trong mạng lưới cung ứng khu vực và quốc tế./.

----------

(1), (2), (3), (4), (5) Quảng Ninh - Dấu ấn năm 2025: Lực đẩy từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, https://www.quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=161603