TCCS - Trên thế giới hiếm có thủ đô nước nào kết hợp được nhiều giá trị như Hà Nội. Trên một không gian trải rộng theo chiều Đông - Tây, từ tả ngạn sông Hồng tới dãy Ba Vì với huyền tích Đức thánh Tản Viên, theo chiều Bắc - Nam từ núi Sóc với di tích Thánh Gióng bay về trời đến danh thắng chùa Hương, Hà Nội chứa đựng trong mình vô vàn cảnh đẹp thiên phú. Từ khi trung tâm của vùng đất thiêng "núi Tản - sông Hồng" trở thành kinh đô, một nghìn năm đã trôi qua. Với Thăng Long - Hà Nội, chiều dài của thời gian đã tôn cao bề dày của văn hiến. Đó là những giá trị vô song mà biết bao thế hệ đã vất vả đắp xây bằng mồ hôi, nước mắt và kiên cường bảo vệ bằng xương máu.

Vùng đất Thăng Long - Hà Nội “mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ trung tâm, làm kế cho con cháu muôn đời”

Khi chuẩn bị lễ kỷ niệm 990 năm, Thủ đô Hà Nội được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì Hòa bình”. Năm nay, trong không khí hân hoan tổ chức Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội chúng ta lại xiết đỗi vui mừng và tự hào khi di tích Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long được chính thức ghi tên vào danh mục các di sản văn hóa thế giới với những giá trị toàn cầu đặc sắc.

Đúng một nghìn năm trước, khi quyết định dời đô về vùng đất hiện nay, Đức Lý Thái Tổ đã nói rõ mục đích là để “mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ trung tâm, làm kế cho con cháu muôn đời”. Với tinh thần ấy, chúng ta tổ chức Đại lễ không phải chỉ để kỷ niệm một sự kiện trọng đại mà còn là nối chí người xưa, tiếp tục sự nghiệp xây dựng, phát triển thủ đô sao cho xứng với truyền thống vẻ vang, thỏa được ước nguyện của nhân dân cả nước, kiều bào ở nước ngoài và đáp ứng được kỳ vọng của bạn bè quốc tế.

Khi chọn đất dựng đô, hầu như tất cả các bậc đế vương, những người đứng đầu đất nước đều có một nguyện ước giống nhau là mong cho vùng đất ấy muôn đời giữ được vị thế trung tâm chính trị của cả nước, nhưng thực tế lịch sử thế giới cho thấy thủ đô có tuổi nghìn năm không có nhiều. Chỉ với giá trị nghìn tuổi, Thăng Long - Hà Nội đã thuộc vào hạng kinh thành xưa nay hiếm của nhân loại.

Phóng tầm nhìn xa, rộng hơn những ngăn cách về địa dư hành chính, thủ đô của nước Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm một vùng đất có địa thế sông tụ, núi chầu mà nói như Tả Ao tiên sinh là “Thiên sơn, vạn thủy triều lai” (vạn sông, nghìn núi quây chầu lại) - một không gian thiêng hội đủ các nhân tố của một vùng dồi dào linh khí. Hầu như quốc gia, dân tộc nào cũng có một ngọn núi thiêng tượng trưng cho sự trường tồn, làm điểm tựa tinh thần như Thái Sơn của người Trung Hoa, Phú Sĩ của người Nhật, Olympus của người Hy Lạp... và một con sông gắn với nền văn minh như sông Nin ở Ai Cập, Hoàng Hà với văn minh Trung Hoa, sông Hằng với văn minh ấn Độ... Ngọn núi có vị thế ấy ở Việt Nam chính là Tản Viên - ngọn núi được xem là “Hạo khí anh linh của trời đất sinh ra”, dòng sông sản sinh ra nền văn minh Việt cổ và sau này phát triển thành văn minh Thăng Long - Đại Việt chính sông Cái (sông Mẹ)- tên gọi từ xa xưa của sông Hồng.

Những đặc điểm phù hợp với vị thế kinh đô của vùng đất này thực ra đã được người đứng đầu nhà nước Âu Lạc nhận ra từ trước công nguyên. Cổ Loa - Kẻ Chủ (huyện Đông Anh) hiện còn lưu giữ một tòa thành quy mô khá hoành tráng với rất nhiều di tích trong lòng đất và huyền tích trong lòng dân về một thời kỳ lịch sử bi hùng. Lịch sử trải qua những bước thăng trầm, năm 197 TCN nước Âu Lạc mất chủ quyền, vị thế trung tâm chính trị của vùng đất này tạm bị ngắt quãng trong một thời gian, nhưng không lâu sau vùng đất bên bờ sông Tô Lịch lại trở thành kinh đô nước Vạn Xuân đứng đầu là Lý Bí - vị hoàng đế đầu tiên của người Việt. Trong hơn một nghìn năm cai trị, các triều đại phong kiến phương Bắc cũng đã sớm nhận ra vị trí đắc địa của vùng đất này, đặc biệt là từ thời nhà Đường. Một mặt, họ cho dời lị sở trấn trị phủ An Nam đô hộ đến Tống Bình; mặt khác, lại tìm tất cả những nơi cho là có long mạch, linh khí để trấn yểm, triệt hạ. Nhưng dù cao tay như Tiết độ sứ Cao Biền (821 - 887), mọi biện pháp nhằm trấn triệt thần Long Đỗ, thần sông Tô Lịch, thánh Tản Viên đều thất bại.

Vai trò của vĩ nhân trong sự nghiệp gìn giữ vị thế trung tâm của Thăng Long - Hà Nội

Vào đầu thiên niên kỷ mới, lúc triều Lý hưng phát, vùng đất này vẫn là một nơi “muôn vật hết sức phồn thịnh tốt tươi. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” (Chiếu dời đô).

Yếu tố phong thủy có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhưng lịch sử xây dựng và bảo vệ thủ đô Thăng Long - Hà Nội lại chỉ ra rằng giá trị nghìn năm tuổi lại do con người quyết định. Nếu không có nhãn quan xuyên thế kỷ của Đức Thái Tổ Lý Công Uẩn thì Thăng Long chẳng có sự khởi đầu. Nếu không có những vị hoàng đế anh minh của các triều Lý - Trần - Lê thì cũng không thể có được một nền văn hiến Đại Việt rực rỡ như vậy. Nói đến vai trò của vĩ nhân trong sự nghiệp gìn giữ vị thế trung tâm của Thăng Long - Hà Nội, chúng ta phải thành kính nhắc tới công lao của hai người.

Thứ nhất là Đức vua Thái Tổ triều Lê.

Trước đó, xuất phát từ nhiều toan tính, nhân vật nổi tiếng vì các cuộc cải cách táo bạo Hồ Quý Ly đã có quyết định sai lầm cho dời đô vào Thanh Hóa để rồi phải chuốc lấy kết cục thảm hại khi ông cùng với cả triều đình, sau chưa đầy 6 năm trị vì, đã bị giặc Minh bắt sống ngay trong tòa thành đá được coi là kiên cố nhất trong lịch sử thành quách Việt Nam. Đất nước lâm vào cảnh lầm than trong vòng 20 năm. Khắc phục những sai lầm của triều Hồ, Lê Lợi đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Minh và trả lại vị trí kinh đô cho Thăng Long.

Người thứ hai là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1802, họ Nguyễn đánh bại Tây Sơn đã quyết định chọn Phú Xuân (Huế) là nơi phát nghiệp chúa của mình làm kinh sư cho cả nước. Vị trí thủ đô của Thăng Long một lần nữa lại bị phế truất. Sau khi lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, vào đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị và được Quốc hội thông qua, lấy Hà Nội làm thủ đô chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự đúng đắn trong quyết định của các bậc vĩ nhân được khẳng định bằng sự ủng hộ của toàn dân. Không biết từ bao giờ lòng dân cả nước luôn hướng về Thăng Long, Hà Nội đã trở thành một hằng số, một giá trị trường tồn...

Thăng Long - Hà Nội, nơi luyện rèn, hun đúc, tụ họp nhân tài cả nước

Thăng Long - Hà Nội trở thành nơi hồn thiêng sông núi hun đúc nên những tài năng kiệt xuất và là nơi tụ họp nhân tài cả nước. Hầu như trong mỗi mốc son, những thời khắc trọng đại trong lịch sử phát triển của dân tộc đều xuất hiện những gương mặt những con người, hoặc sinh ra lớn lên hoặc được luyện rèn học tập nhiều năm tháng trên vùng đất kinh kỳ/thủ đô. Mở đầu thiên anh hùng ca chống giặc ngoại xâm của dân tộc là hai nữ anh hùng quê ở Mê Linh. Năm 938 sau khi đánh tan quân Nam Hán, đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm, Ngô Quyền xưng vương, nối lại quốc thống. Vị Tổ trung hưng ấy của dân tộc Việt là người Đường Lâm. Trong kỷ nguyên độc lập, cùng với sự nghiệp xây dựng đất nước, chống ngoại xâm luôn là nhiệm vụ thường trực. Trong những trang sử hào hùng của sự nghiệp giữ nước, cuộc kháng chiến chống Tống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là lần đầu tiên nền độc lập còn rất non trẻ phải đương đầu với quân đội của một đế chế hùng mạnh. Trong bối cảnh như vậy, chiến công của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy tài tình của Lý Thường Kiệt, là sự khẳng định đanh thép quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước và bài thơ Nam quốc sơn hà của ông chính là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên. Người anh hùng dân tộc ấy chính là Ngô Tuấn - người con kiệt xuất của đất kinh kỳ. Được chăm sóc dạy dỗ hết sức cẩn thận và chu đáo, được dung dưỡng trong hào khí Thăng Long, vua Trần Nhân Tông không chỉ nổi tiếng là ông vua đã tham gia lãnh đạo 2 cuộc kháng chiến quân xâm lược Nguyên - Mông oanh liệt, mà còn được muôn đời các thế hệ chiêm bái nhờ có công sáng lập Thiền phái Trúc lâm. Vào cuối thời Trần, thầy giáo gốc Thăng Long Chu Văn An, nhờ tài cao đức rộng đã từng được giao trọng trách Tế tửu Quốc tử giám, nhưng việc mà ông làm được sử sách ghi lại và truyền tụng rộng rãi trong nhân dân lại là bản sớ đòi chém 7 gian thần (thất trảm sớ). Ông được tôn là Vạn thế sư biểu (Thầy của muôn đời). Nguyễn Trãi quê gốc Chí Linh, nhưng là cháu ngoại Tư đồ Trần Nguyên Đán nên trong suốt thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành được thấm đẫm văn hóa Thăng Long. Ông trở thành linh hồn của sự nghiệp kháng chiến chống Minh, đồng thời là một ngọn tháp trí tuệ của văn minh Đại Việt, sau này được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

Không chỉ hun đúc luyện rèn, Thăng Long - Hà Nội là còn là nơi tụ hội nhân tài. Không phải ngẫu nhiên mà trên tấm bia đầu tiên dựng tại Văn Miếu, được đặt vào vị trí trang trọng nhất đã khắc ghi tuyên ngôn bất hủ : “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Nhân tài đến kinh đô không chỉ vào những dịp ứng thí mà còn vì đây chính là nơi cần đến họ, là nơi có khả năng quy tụ tài năng. Trên địa bàn Hà Nội hiện nay có rất nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và là nơi làm việc của phần lớn các trí thức đầu ngành.

Thăng Long - Hà Nội, những giá trị vật thể và phi vật thể

Một nghìn năm qua đi đã kết tinh lại cho Thăng Long - Hà Nội những giá trị vật thể và phi vật thể trở thành biểu tượng quốc gia, dân tộc, được quốc tế công nhận. Hai biểu tượng linh thiêng trên đất Hà Nội là Thánh Tản Viên, Phù Đổng Thiên Vương từ xa xưa đã được dân gian liệt vào hàng đầu Tứ bất tử (Cùng với Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh hợp thành bốn vị thánh bất tử).

Dù ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này, người Việt Nam đều không khỏi cảm thấy bồi hồi xúc động mỗi khi nhìn thấy hình ảnh Chùa một cột, Hồ Gươm với tháp Rùa, Văn Miếu, Cột cờ... Đó cũng là những dấu hiệu bạn bè quốc tế nhận ra Việt Nam. Và gần đây khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long được tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh vinh danh nhờ những giá trị tiêu biểu toàn cầu.

Khí thiêng sông núi, cốt cách con người đã hun đúc nên truyền thống quật cường, hào khí Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Cùng với phong cách hào hoa, thanh lịch, người thủ đô còn được biết đến với truyền thống “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Từ hơn 800 năm trước quân và dân Đại Việt đã đánh tan đội quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy trên dòng sông Hồng khu vực bến Chương Dương, lập nên chiến công hiển hách mà khí hào sảng còn được lưu lại trong bài thơ của Thượng tướng quân Trần Quang Khải:

“Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù

Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu”

Hào khí thủ đô lại một phen dậy sóng vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) khi quân Tây Sơn cùng với nhân dân Thăng Long đánh cho tan tác 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh làm nên chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa oanh liệt. Và trong thời hiện đại, quân và dân thủ đô đã viết lên một trang vàng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc sau 12 ngày đêm đọ sức và giành chiến thắng trước một lực lượng quân sự được coi là hiện đại và hùng mạnh nhất thế giới.

Giờ đây Thủ đô tròn nghìn tuổi lại bước vào một kỷ nguyên mới của thời kỳ đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với truyền thống hào hùng và khí thế rồng bay, Hà Nội đang vững bước đi lên trên con đường phát triển bền vững./.