TCCS - Trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta từng bước nhận thức và làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa. Nhờ đó, thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa đạt được những kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào sự phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, việc giải quyết mối quan hệ đó trong bối cảnh hiện nay còn tồn tại không ít hạn chế, đòi hỏi Đảng cần phải tiếp tục đổi mới tư duy để phù hợp với tình hình mới.

Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa

Qua hơn 30 năm đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa có sự phát triển rõ rệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu mở đầu thời kỳ đổi mới đã khẳng định: “Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục tình trạng coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1). Đổi mới theo quan điểm của Đảng ở Đại hội VI là đổi mới tư duy trên lĩnh vực kinh tế và chính trị; đồng thời đổi mới tư duy về vai trò của văn hóa - xã hội và phát triển kinh tế.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã chỉ rõ nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nước ta xây dựng. Cương lĩnh cũng nhấn mạnh: “... tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lê-nin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.”(2).

Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, ngày 14-1-1993, của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, về “Một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt” đã khẳng định, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996) cũng xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội đưa ra quan điểm phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa là: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”(3).

Phát triển thêm một bước quan trọng tư tưởng chỉ đạo của Đại hội VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”(4). Nghị quyết đề ra một hệ thống chính sách để phát triển văn hóa, trong đó nhấn mạnh: “Chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn hóa, đồng thời bảo đảm cho nhu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc”(5). Như vậy, chính sách văn hóa trong kinh tế bảo đảm cho văn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển văn hóa.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta khẳng định, tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục,... “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh”(6).

Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định, một trong mục tiêu của văn hóa là bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (năm 2006) đã thể hiện sâu sắc hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, coi đây là một nội dung quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội nhấn mạnh: “...tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người”(7).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã có sự phát triển, làm sâu sắc và nâng tầm quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Đại hội có bước phát triển nhận thức về văn hóa so với trước đây, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa tập trung vào những chỉ tiêu phát triển con người. Đại hội xác định: “Phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”(8).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016) xác định mục tiêu: “Đến năm 2020, phấn đấu hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững”(9). Một trong những nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa là chú ý chức năng kinh tế của văn hóa, coi trọng chính sách kinh tế trong văn hóa và chính sách văn hóa trong kinh tế; đồng thời xác định nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là xây dựng văn hóa trong kinh tế, trong đó cần thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Con người thực sự là trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, có thể nhận thấy quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa được hình thành và không ngừng được bổ sung, phát triển từ Văn kiện Đại hội VI (năm 1986) đến Văn kiện Đại hội XII (năm 2016), đồng thời thể hiện tính nhất quán trong đường lối chính trị của Đảng. Quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa có thể được cụ thể như sau:

Một là, kinh tế là nền tảng vật chất, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa là mối quan hệ nội tại, mang tính bản chất và phải được giải quyết một cách đúng đắn, hài hòa sao cho phát triển kinh tế thật sự là tiền đề, điều kiện để phát triển văn hóa, phát triển văn hóa là mục tiêu và động lực để tăng trưởng kinh tế.

Hai là, giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa phải đặt trong tổng thể các mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; phải bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, coi sự phát triển đồng bộ giữa ba lĩnh vực này là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

Ba là, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa thông qua một hệ thống chính sách toàn diện, trong đó có sự thống nhất giữa các chính sách kinh tế trong văn hóa và văn hóa trong kinh tế. Những yêu cầu về phát triển văn hóa, về tiến bộ và công bằng xã hội không phải là chờ đến khi có kinh tế phát triển cao mới đáp ứng mà phải được thực hiện ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển của đất nước.

Thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa ở nước ta trong hơn 30 năm đổi mới

Trong quá trình đổi mới đất nước, thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa đạt được nhiều thành công quan trọng, song cũng còn không ít hạn chế cần nhìn nhận đúng đắn, khách quan để khắc phục và sữa chữa kịp thời, từ đó có định hướng phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.

Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế tăng trưởng liên tục và tương đối ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tổng sản phẩm trong nước năm 2018 đạt xấp xỉ 240 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt 2.587 USD, Việt Nam hiện trở thành nước có thu nhập trung bình. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, GDP của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ đã chuyển dịch rõ rệt, lần lượt từ 40,5%, 23,8%, 35,7% năm 1991 đến 14,57%, 34,28%, 41,17% năm 2018(10). Qua hơn 30 năm đổi mới, vị thế kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên đáng kể.

Thế giới đánh giá rất cao những thành tựu tăng trưởng kinh tế gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội ở Việt Nam. Năm 2007, Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam hoàn thành Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, trước gần 10 năm so với thời gian đặt ra. Ngày 21-9-2015, trong Lễ công bố “Kết quả 15 năm thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ ở Việt Nam”, Liên hợp quốc công nhận Việt Nam đã hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, như xóa đói, giảm nghèo; đạt phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới và đạt nhiều tiến bộ trong các chỉ tiêu về y tế; đạt mục tiêu về kiểm soát sốt rét và bệnh lao cũng như đẩy lùi tỷ lệ lây lan HIV/AIDS...

Thực hiện quan điểm phát triển bền vững, việc gắn kết mục tiêu tăng trưởng GDP với thực hiện các chỉ tiêu về xã hội, môi trường, giải quyết hài hòa phát triển kinh tế với văn hóa ở nước ta thời gian qua đạt được kết quả quan trọng. Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta bao gồm: mức tăng GDP, tuổi thọ, xóa mù chữ và phổ biến giáo dục tiểu học, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo có xu hướng liên tục tăng trong 27 năm từ 0.475 năm 1990 đến 0,694 năm 2017.

Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số_Ảnh: Tư liệu


Đặc biệt, công tác xây dựng văn hóa được chú trọng, hình thành những giá trị mới, tốt đẹp trong lối sống và nhân cách con người Việt Nam. Công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, trong đó có văn hóa của các dân tộc thiểu số được đầu tư hơn. Hệ thống di sản văn hóa được đầu tư, tôn tạo và phát huy vai trò trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Nhiều di sản văn hóa được quốc tế công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa còn tồn tại không ít hạn chế. Phát triển kinh tế chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, chưa tương xứng với tiềm năng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm; cơ cấu nội bộ ngành chưa hợp lý. Tăng trưởng dựa vào các yếu tố theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ, tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định, các nguy cơ lớn mà Đảng chỉ ra đối với sự phát triển vẫn hiện hữu. Việc tổ chức triển khai thực hiện quan điểm gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa còn chưa đồng bộ và triệt để. Nhận thức của một số cán bộ lãnh đạo và quản lý ở một số ngành, địa phương thiếu nhất quán; chưa nhận thức rõ vai trò của văn hóa với tư cách là mục tiêu, động lực của phát triển kinh tế - xã hội. Do sức ép của tăng trưởng kinh tế nên nhiều ngành, nhiều địa phương ít quan tâm đến phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường. Trong quá trình quy hoạch và xây dựng các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, nhiều nơi mới chỉ tập trung vào lợi ích kinh tế, chưa chú ý đúng mức đến phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và môi trường cho người lao động. Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa có chuyển biến tích cực, nhất là trong hoạt động lễ hội, giao tiếp cộng đồng, xây dựng văn hóa giao thông và công sở. Tình trạng suy thoái, xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Sự gia tăng về tệ nạn xã hội, tội phạm, nhất là trong lớp trẻ, tình trạng bạo lực học đường là một vấn đề đáng lo ngại. Những yếu kém trong quản lý nhà nước về văn hóa chưa khắc phục được. Cuộc đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại, nhất là trên mạng in-tơ-nét còn nhiều bất cập.

Một số giải pháp góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa thời gian tới

Từ thực trạng trên, để góp phần giải quyết hiệu quả hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa thời gian tới cần phải thực hiện những phương hướng và giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là cho cơ quan lãnh đạo, quản lý, cơ quan hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp về sự cần thiết phải gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển; kiên quyết đấu tranh chống xu hướng kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, tách rời mục tiêu kinh tế với mục tiêu văn hóa và xã hội.

Hai là, tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt, cả về vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân. Kết hợp đầu tư của Nhà nước với tăng cường huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời hỗ trợ các vùng còn nhiều khó khăn. Hình thành hệ thống đô thị phân bố hợp lý ở các vùng; phát triển hài hòa giữa thành thị và nông thôn. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ba là, phát huy vai trò của văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước nói chung, trong đó tập trung xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Phát triển và nâng cao nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển mạnh khoa học và công nghệ làm động lực nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế. Đổi mới mạnh mẽ tổ chức, cơ chế quản lý, chính sách phát triển khoa học và công nghệ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Hướng hoạt động khoa học - công nghệ vào mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số.

Bốn là, xác định mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa là mối quan hệ biện chứng, làm tiền đề, điều kiện cho nhau cùng phát triển. Vì vậy, phải kiên định quan điểm đúng đắn của Đảng ta về sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với không ngừng phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Cùng với ưu tiên đổi mới về kinh tế, cần phải quan tâm đúng mức vào phát triển văn hóa, xây dựng con người mới, tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong từng thời điểm ở từng ngành, từng vùng và địa phương, có thể nhấn mạnh nhân tố kinh tế hay văn hóa cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, khắc phục bệnh giáo điều, máy móc hay chủ quan, duy ý chí.

Năm là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ và giám sát của nhân dân trong quá trình thực hiện gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa. Các cấp, các ngành thường xuyên kiểm tra, giám sát và rút kinh nghiệm để kịp thời xử lý những vấn đề do thực tiễn đặt ra trong việc xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa./.

----------------------------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 420

(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 51, tr. 135

(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 85

(4), (5) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1998, tr. 55, 73

(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 89

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 77 - 78

(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 40

(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 104

(10) http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=&ItemID=19041