TCCS - Tỉnh Quảng Ninh đang đẩy mạnh đầu tư kết nối liên vùng, hình thành mạng lưới giao thông hiện đại, đồng bộ giữa đường bộ, đường ven biển, cảng biển, cửa khẩu và hàng không. Với cách làm quy hoạch đi trước, đầu tư công dẫn dắt, huy động xã hội hóa,… rút ngắn thời gian, giảm chi phí logistics, mở rộng không gian phát triển đô thị - công nghiệp - du lịch, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh và vùng.

Bối cảnh và yêu cầu đặt ra từ liên kết vùng

Quảng Ninh nằm trên hành lang kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và tiếp giáp trực tiếp với Quảng Tây (Trung Quốc) qua cửa khẩu Móng Cái. Vị trí địa - kinh tế đặc biệt này đặt ra yêu cầu cấp thiết về một kết cấu hạ tầng giao thông liên vùng thông suốt, an toàn, thích ứng với biến đổi khí hậu và thân thiện với môi trường. Việc kết nối hạ tầng liên vùng tốt không chỉ rút ngắn hành trình vận tải hàng hóa và hành khách mà còn tạo độ mở cho dòng vốn đầu tư, du lịch, thương mại biên mậu, nâng sức cạnh tranh của các khu công nghiệp và các đô thị ven vịnh Hạ Long - Bái Tử Long. Từ yêu cầu đó, tỉnh Quảng Ninh xác định chủ trương xuyên suốt: phát triển đồng bộ hạ tầng đa phương thức, gắn với quản trị số, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự trên tuyến.

Trong giai đoạn gần đây, định hướng của Trung ương về “phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại” và “liên kết vùng thực chất” tạo khuôn khổ quan trọng để tỉnh Quảng Ninh chủ động đi trước một bước. Trên cơ sở quy hoạch tỉnh đồng bộ với quy hoạch vùng, Quảng Ninh kết hợp đầu tư công trọng điểm với huy động nguồn lực xã hội theo hình thức PPP, tập trung vào các “mắt xích” có tính lan tỏa: cao tốc liên vùng, đường ven biển, cầu qua vịnh, cảng biển - logistics, cửa khẩu thông minh và cảng hàng không. Tỉnh coi trọng bước chuẩn bị đầu tư kỹ lưỡng, giải phóng mặt bằng “sạch”, lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, kèm các tiêu chí an toàn, môi trường, cảnh quan trong suốt vòng đời dự án.

Bên cạnh cơ hội lớn, quá trình kết nối liên vùng cũng đặt ra nhiều thách thức. Ở khu vực đô thị ven vịnh, áp lực giao thông giờ cao điểm, ngập úng cục bộ khi mưa lớn, sạt lở taluy tại các đoạn đồi núi và rủi ro bão mạnh đòi hỏi thiết kế hạ tầng thích ứng khí hậu và vận hành thông minh. Trên tuyến ven biển và cửa khẩu, yêu cầu kiểm soát phương tiện hạng nặng, bảo đảm trật tự an toàn, đồng thời giữ gìn môi trường, cảnh quan du lịch là những bài toán thường trực. Vì vậy, “hạ tầng cứng” phải đi cùng “hạ tầng mềm”: mô hình tổ chức giao thông khoa học, cơ chế phối hợp liên ngành - liên tỉnh chặt chẽ, công cụ quản trị bằng dữ liệu thời gian thực và sự tham gia của người dân, doanh nghiệp trong giám sát.

Thực tiễn triển khai

Trục cao tốc liên vùng hình thành “xương sống” kết nối Quảng Ninh với trung tâm chính trị - kinh tế của cả nước và cửa ngõ biên giới. Tuyến cao tốc liên hoàn Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái rút ngắn thời gian di chuyển đáng kể, giảm chi phí logistics, giúp hàng hóa, du khách và nhà đầu tư tiếp cận nhanh hơn các khu công nghiệp và đô thị của tỉnh. Cùng với đó, cụm cầu qua vịnh Cửa Lục và các nút giao mới đã tạo vòng kết nối trong - ngoài Hạ Long, phân bổ lại lưu lượng, gỡ các “nút thắt cổ chai” nhiều năm, mở không gian phát triển về phía Bắc vịnh và các khu vực ven biển.

Đường ven biển Hạ Long - Cẩm Phả và các đoạn kết nối liên huyện, liên đô thị được đầu tư theo hướng “hành lang xanh”. Đây không chỉ là tuyến giao thông quan trọng phục vụ phát triển du lịch - dịch vụ - công nghiệp sạch mà còn là tuyến phòng vệ trước tác động thời tiết cực đoan, nước biển dâng. Việc thiết kế mặt cắt, hệ thống thoát nước, mái taluy, thảm cây xanh, chiếu sáng tiết kiệm năng lượng… được chú trọng ngay từ đầu để giảm chi phí vận hành, bảo trì, đồng thời bảo đảm an toàn giao thông và mỹ quan đô thị - du lịch. Những công trình này góp phần hình thành các trục cảnh quan ven biển, kết nối các khu nghỉ dưỡng, cảng du lịch, khu dân cư mới theo tiêu chí xanh - bền vững.

Ở đầu mối giao thương quốc tế, cửa khẩu Móng Cái được nâng cấp hạ tầng và từng bước áp dụng giải pháp “cửa khẩu thông minh”. Ứng dụng mã số - mã vạch, nhận diện phương tiện và người qua lại, bố trí làn ưu tiên theo loại hình hàng hóa giúp rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp, tăng tính minh bạch và an ninh. Cùng với việc sắp xếp hợp lý bãi đỗ xe, kho bãi và dịch vụ hậu cần ngay sau cửa khẩu, dòng hàng xuất khẩu, nhập khẩu được điều tiết nhịp nhàng, hạn chế ùn tắc, đặc biệt vào mùa cao điểm nông sản. Trên không gian ven biển, hệ thống cảng biển (Cái Lân, Cẩm Phả, Cửa Ông…) được quy hoạch theo chuỗi đồng bộ với khu công nghiệp, kho bãi và logistics, hướng tới khai thác tối ưu luồng hàng tổng hợp - container, qua đó giảm tải cho đường bộ, tăng tỷ trọng vận tải đường thủy, xây dựng cảng biển thân thiện với môi trường.

Năm 2025, kim ngạch xuất, nhập khẩu qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái tăng mạnh: tính đến ngày 14-11-2025, đạt 5,321 tỷ USD, chiếm trên 97% tổng kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu của cả tỉnh. Tổng số có 2.012 doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu, tăng 52% so với năm 2024. Hoạt động xuất, nhập khẩu tại Cửa khẩu quốc tế Móng Cái góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội và đóng góp tới 11,67% vào tăng trưởng của tỉnh Quảng Ninh trong 9 tháng, đưa tỉnh Quảng Ninh xếp thứ 1/34 tỉnh, thành cả nước về tặng trưởng GRDP. Điều này cho thấy vai trò “đầu kéo” của thương mại biên giới. Cùng thời điểm, tỉnh Quảng Ninh triển khai Đề án thí điểm “cửa khẩu thông minh” Móng Cái - Đông Hưng, kiện toàn Ban Chỉ đạo do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban, hướng tới số hóa quy trình, nhận diện người - phương tiện và điều tiết luồng phương tiện theo thời gian thực.

Cảng hàng không Vân Đồn tiếp tục giữ vai trò cửa ngõ đường không của vùng Đông Bắc, kết nối Quảng Ninh với các trung tâm lớn trong nước và một số điểm quốc tế theo mùa. Việc phục hồi, mở các đường bay phù hợp nhu cầu du lịch - thương mại giúp tăng tính đa dạng phương thức, hỗ trợ các chương trình kích cầu, phân luồng khách về Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái một cách linh hoạt. Về tổ chức thực thi, tỉnh Quảng Ninh áp dụng mô hình quản trị dự án minh bạch: phân công rõ trách nhiệm chủ đầu tư, giám sát độc lập chất lượng - tiến độ, gắn tiêu chí an toàn, môi trường trong hợp đồng; sau khi hoàn thành, các công trình được bảo trì định kỳ với nguồn lực ổn định, có sự tham gia giám sát của cộng đồng.

Tuy vậy, thực tiễn cũng bộc lộ những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Ở một số điểm giao cắt, năng lực thông hành giờ cao điểm còn hạn chế; tình trạng đỗ dừng không đúng nơi quy định vẫn xảy ra ở các khu du lịch ven biển; mưa lớn cục bộ có thể gây ngập nhanh tại vài vị trí thấp. Hệ thống bến bãi quy mô vừa và nhỏ phục vụ xe tải/xe khách trung chuyển giữa đường bộ - đường thủy - cảng biển cần được sắp xếp chuyên nghiệp hơn. Công tác quản lý tải trọng, kiểm soát khí thải phương tiện hạng nặng phải song hành cùng tuyên truyền, xử lý vi phạm để bảo đảm tính bền vững và an toàn của tuyến. Đây là cơ sở để tỉnh tiếp tục điều chỉnh kỹ thuật, tổ chức giao thông thông minh và hoàn thiện chuỗi dịch vụ logistics giá trị gia tăng.

Việc kết nối hạ tầng liên vùng là đòn bẩy chiến lược giúp tỉnh Quảng Ninh phát huy vị thế cửa ngõ vùng Đông Bắc, thu hút đầu tư, nâng sức cạnh tranh và cải thiện chất lượng sống của nhân dân. Việc kiên định nguyên tắc quy hoạch đi trước, đầu tư có trọng tâm, quản trị dự án minh bạch, gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường, cùng với tăng cường liên kết vùng và ứng dụng quản trị số sẽ giúp tỉnh phát triển hạ tầng bền vững, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng xanh và liên kết vùng của quốc gia.

Định hướng và một số kiến nghị

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch liên kết vùng theo hướng đa phương thức và đồng bộ. Bản đồ phát triển không chỉ thể hiện trục cao tốc mà còn xác định rõ các tuyến ven biển, đường thủy nội địa, các trung tâm logistics cấp vùng và các cửa ngõ xuất, nhập khẩu. Việc “đặt hàng” hạ tầng phải thống nhất giữa các địa phương trong vùng để tránh chồng chéo, gián đoạn; đồng thời, tối ưu hóa kết nối với hệ thống cảng biển, sân bay và cửa khẩu. Quy hoạch phải đi kèm lộ trình đầu tư, thứ tự ưu tiên, nguồn lực và tiêu chí đánh giá hiệu quả rõ ràng.

Hai là, phát triển logistics xanh và số. Cần thúc đẩy số hóa thủ tục tại cửa khẩu, cảng biển; áp dụng nền tảng quản lý slot tàu - bến, luồng phương tiện, dự báo cao điểm theo thời gian thực; khuyến khích đội xe sạch dùng khí thiên nhiên nén (CNG), xe điện trên các tuyến ngắn và đô thị ven vịnh. Tỉnh có thể ban hành tiêu chí kho bãi xanh - tiết kiệm năng lượng, tái chế vật liệu đóng gói, phân loại rác tại nguồn; đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ bằng ưu đãi tín dụng và đào tạo nhân lực. Logistics xanh không chỉ giảm phát thải mà còn tạo thương hiệu “môi trường - hiệu quả” cho chuỗi cung ứng tỉnh Quảng Ninh.

Ba là, tổ chức giao thông an toàn, thích ứng với biến đổi khí hậu trong khu vực đô thị - ven biển. Bổ sung làn ưu tiên phương tiện công cộng ở các trục chính, điều tiết tốc độ - tải trọng phù hợp; nhân rộng mảng xanh, vật liệu thấm nước, hồ điều hòa, kiểm soát xói lở bờ biển bằng giải pháp công trình kết hợp giải pháp dựa vào thiên nhiên. Các nút giao lớn nên được gắn hệ thống điều khiển thông minh, camera giám sát, bản đồ cảnh báo mưa lớn - triều cường nhằm chủ động phân luồng theo kịch bản. Đây là cách giảm thiểu rủi ro gián đoạn giao thông, bảo đảm an toàn cho người dân và du khách.

Bốn là, tiếp tục mô hình “đầu tư công dẫn dắt - PPP hiệu quả”. Các dự án có dòng tiền ổn định (bến bãi, dịch vụ hậu cần, một số đoạn kết nối) cần thu hút xã hội hóa thông qua đấu thầu công khai, cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý, hợp đồng chuẩn hóa gắn chỉ số dịch vụ. Ứng dụng các công cụ hiện đại như mô hình hóa thông tin xây dựng (BIM) và hệ thống thông tin địa lý (GIS) và dữ liệu mở trong toàn bộ vòng đời dự án để nâng chất lượng thiết kế, thi công và bảo trì; đồng thời, tăng cường giám sát cộng đồng, minh bạch hóa chi phí, tiến độ.

Năm là, tăng cường phối hợp liên tỉnh và hợp tác quốc tế. Thiết lập cơ chế điều phối thường xuyên giữa tỉnh Quảng Ninh với các tỉnh lân cận với phía Quảng Tây (Trung Quốc) về vận tải, thông quan, cứu hộ - cứu nạn, cảnh báo môi trường. Mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế để tiếp cận tiêu chuẩn kỹ thuật xanh, công nghệ vật liệu mới, tài chính khí hậu; học hỏi mô hình “cửa khẩu thông minh”, “cảng xanh”, “đô thị ven biển thích ứng” để rút ngắn thời gian triển khai.

Sáu là, gắn phát triển hạ tầng với an sinh xã hội và du lịch bền vững. Trên các tuyến chính, cần bố trí điểm dừng nghỉ, bãi đỗ an toàn, nhà vệ sinh đạt chuẩn; quy hoạch bãi đỗ tập trung để giảm xe vào lõi đô thị; ưu tiên tuyến xe buýt sạch kết nối điểm du lịch, hạn chế phương tiện cá nhân ở khu vực nhạy cảm. Truyền thông “văn hóa giao thông - du lịch xanh” cần được thực hiện thường xuyên, dựa trên số liệu công khai về thời gian di chuyển, an toàn, chất lượng môi trường, để người dân và du khách đồng hành cùng lực lượng chức năng./.