Xây dựng hệ giá trị gia đình Việt Nam thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
TCCS - Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới về giá trị, quan niệm sống và lối sống. Đại hội XIV của Đảng xác lập định hướng chiến lược trong phát triển văn hóa, xã hội giai đoạn mới, trong đó có việc xây dựng hệ giá trị gia đình vững mạnh, phù hợp với điều kiện lịch sử - xã hội mới sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ.
Bối cảnh và thực trạng hệ giá trị gia đình Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Qua 40 năm đổi mới, Việt Nam đã từng bước “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”(1). Quá trình hội nhập này không chỉ diễn ra trên phương diện kinh tế mà còn mở rộng sang các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ. Việt Nam hiện là thành viên của hơn 70 tổ chức quốc tế, ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), tham gia tích cực vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Hội nhập quốc tế đã tạo ra những cơ hội lớn cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, trong đó có các gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra không ít thách thức đối với hệ giá trị truyền thống, đặc biệt là hệ giá trị gia đình. Sự tiếp xúc ngày càng rộng với các nền văn hóa khác nhau, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet và truyền thông xã hội đã tác động sâu sắc đến quan niệm, lối sống, cách ứng xử trong gia đình, nhất là ở thế hệ trẻ.
Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới đã chỉ rõ: “Quá trình hội nhập quốc tế càng sâu rộng đồng nghĩa với kinh tế Việt Nam càng phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới và sự vận động của kinh tế toàn cầu”(2). Điều này không chỉ tác động tới kinh tế mà còn tác động tới cả lĩnh vực văn hóa, xã hội. Các yếu tố văn hóa từ bên ngoài, cả tích cực và tiêu cực, đều có thể thâm nhập vào đời sống gia đình thông qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là qua không gian mạng.
Đánh giá về thực trạng phát triển văn hóa, xã hội, Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Văn hoá chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển. Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam chậm được làm rõ”(3). Đây là một trong những hạn chế cần được khắc phục cấp bách trong giai đoạn tới.
Về mặt tích cực, nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam vẫn được giữ gìn và phát huy, như: tình nghĩa vợ chồng, tình cảm gia đình, lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, tình yêu thương con cái, tinh thần tương thân tương ái giữa các thành viên trong gia đình và dòng họ... Các phong trào xây dựng gia đình văn hóa, gia đình hạnh phúc đã góp phần nâng cao chất lượng đời sống gia đình. Nhiều mô hình gia đình tiên tiến, văn minh đã xuất hiện và lan tỏa trong cộng đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số giá trị gia đình truyền thống đang có xu hướng bị mai một, xói mòn. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới cũng đã chỉ ra: “Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh”(4), trong đó bao gồm cả môi trường văn hóa gia đình. Tình trạng bạo lực gia đình, ly hôn, người già không nơi nương tựa, vi phạm quyền trẻ em… có chiều hướng gia tăng ở một số địa phương. Vai trò của gia đình trong giáo dục con em có lúc, có nơi chưa được phát huy, một số cha mẹ chưa làm tròn việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho con cái, dẫn đến tình trạng một bộ phận thanh thiếu niên thiếu lý tưởng, sống ích kỷ, cá nhân, xa rời các giá trị truyền thống. Những vấn đề đó đã đặt ra một số thách thức với hệ giá trị gia đình trong bối cảnh hội nhập:
Thứ nhất, sự tác động của các yếu tố tiêu cực từ bên ngoài thông qua không gian mạng, các sản phẩm văn hóa nhập ngoại. Internet và truyền thông xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống, đặc biệt là với thế hệ trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những thông tin hữu ích, không gian mạng cũng chứa đựng không ít nội dung độc hại có thể làm biến dạng nhận thức, giá trị sống của một bộ phận thanh thiếu niên.
Thứ hai, tác động của kinh tế thị trường dẫn đến xu hướng coi trọng vật chất, lợi ích kinh tế hơn các giá trị tinh thần. Một số mối quan hệ xã hội và trong gia đình bị cuốn theo vật chất, danh lợi, sống thực dụng, làm phai nhạt những giá trị đạo đức truyền thống. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới đã nhấn mạnh sự cần thiết phải “gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(5) trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Thứ ba, sự thay đổi cơ cấu gia đình và các mối quan hệ gia đình. Xu hướng gia đình hạt nhân ngày càng phổ biến, khoảng cách địa lý giữa các thành viên trong gia đình và dòng họ ngày càng xa, làm giảm sự gắn kết, tương tác giữa các thế hệ. Điều này có thể dẫn đến sự gián đoạn trong việc truyền đạt các giá trị truyền thống từ thế hệ ông bà, cha mẹ sang thế hệ con cháu.
Thứ tư, công tác giáo dục, tuyên truyền về giá trị gia đình còn nhiều bất cập. Hệ thống giáo dục chưa thực sự chú trọng giáo dục kỹ năng sống, giáo dục giá trị gia đình cho học sinh, sinh viên. Công tác tuyên truyền, vận động còn thiếu sức lan tỏa, chưa thu hút được sự quan tâm, hưởng ứng rộng rãi của các tầng lớp nhân dân.
Định hướng xây dựng hệ giá trị gia đình Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ: “Phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”(6). Trong đó, văn hóa gia đình giữ vị trí nền tảng. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”(7). Đây là sự kế thừa, phát triển quan điểm đã được khẳng định trong các kỳ đại hội trước, đồng thời bổ sung những nội dung mới phù hợp với bối cảnh, yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới đã chỉ rõ: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(8). Hệ giá trị này phải “mang giá trị, ý nguyện và khát vọng của dân tộc Việt Nam, vừa mang giá trị phổ quát của nhân loại”(9). Như vậy, hệ giá trị gia đình Việt Nam cần được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Từ cơ sở đó, nội hàm cơ bản của hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới được xác định trên một số phương diện sau:
Thứ nhất, về giá trị truyền thống, cần kế thừa và phát huy tình nghĩa vợ chồng là nền tảng của gia đình hạnh phúc, bền vững; lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà là giá trị đạo lý cao đẹp của dân tộc; tình yêu thương, trách nhiệm với con cái là bổn phận thiêng liêng của cha mẹ; tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái giữa các thành viên trong gia đình và dòng họ; truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, biết ơn tổ tiên; nếp sống chăm chỉ, cần kiệm, liêm chính, trung thực; coi trọng học vấn, đạo đức, danh dự gia đình.
Thứ hai, về giá trị mới cần bổ sung và phát triển, cần xây dựng bình đẳng giới trong gia đình, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của từng thành viên; dân chủ trong mối quan hệ gia đình, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau; quan tâm đến quyền trẻ em, bảo đảm sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tâm lý, đạo đức cho trẻ; xây dựng môi trường gia đình văn minh, tiến bộ, thích ứng với xã hội hiện đại; ý thức bảo vệ môi trường, sống xanh, sống khỏe trong gia đình; tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chủ động thích ứng với sự thay đổi; ứng xử văn minh, có văn hóa trong giao tiếp, sử dụng công nghệ thông tin.
Thứ ba, về mối quan hệ giữa gia đình với cộng đồng và xã hội, cần phát huy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, trách nhiệm với cộng đồng; ý thức chấp hành pháp luật, tham gia xây dựng xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ; đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng; tham gia tích cực vào các phong trào xã hội, các hoạt động công ích.
Đại hội XIV xác định phát triển kinh tế phải gắn chặt với phát triển xã hội, trong đó gia đình vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình phát triển. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới phương thức quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững; giải quyết tốt các chính sách xã hội, bảo đảm an ninh, an sinh, an toàn, an dân, nhất là các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế”(10), trong đó có chính sách hỗ trợ gia đình. Phát triển kinh tế gia đình, kinh tế hộ, mô hình trang trại, hợp tác xã gia đình là những định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, gia đình đóng vai trò là đơn vị tiêu dùng, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh Đại hội XIV đặt ra yêu cầu “phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hoá”(11), gia đình càng giữ vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi đây là môi trường giáo dục đầu tiên giáo dục, hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, kỹ năng sống cho mỗi người.
Giải pháp xây dựng hệ giá trị gia đình Việt Nam thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách về gia đình.
Đại hội XIV đã nhấn mạnh nhiệm vụ “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(12). Cụ thể hóa trong lĩnh vực gia đình, cần tập trung vào các giải pháp sau: Một là, khẩn trương xây dựng và ban hành hệ giá trị gia đình Việt Nam một cách cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi cao, được thể chế hóa đầy đủ trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Hôn nhân và Gia đình, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình, bảo vệ quyền trẻ em, người cao tuổi, bình đẳng giới; Hai là, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ gia đình toàn diện, bao gồm: chính sách hỗ trợ gia đình có con nhỏ (chế độ thai sản, nghỉ dưỡng sức, trợ cấp nuôi con), chính sách hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi trong gia đình, chính sách hỗ trợ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách, chính sách phát triển kinh tế gia đình, kinh tế hộ, chính sách về nhà ở xã hội cho gia đình trẻ, chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo nghề cho lao động trong gia đình; Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong triển khai các chính sách về gia đình, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương trong việc xây dựng, triển khai và giám sát thực hiện các chính sách liên quan đến gia đình; Bốn là, tăng cường nguồn lực cho công tác gia đình, đầu tư ngân sách nhà nước cho các hoạt động liên quan đến gia đình, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội hóa theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIV cần “đẩy mạnh xã hội hoá trong cung cấp dịch vụ công”(13), trong đó có các dịch vụ hỗ trợ gia đình.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục, tuyên truyền về giá trị gia đình.
Đại hội XIV đã đặt ra yêu cầu “xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo”(14). Trong đó, giáo dục giá trị gia đình cần được coi là một nội dung quan trọng. Một là, tích hợp nội dung giáo dục giá trị gia đình vào chương trình giáo dục quốc dân. Từ bậc mầm non đến đại học, cần có những nội dung cụ thể về giáo dục giá trị gia đình phù hợp với từng lứa tuổi. Đặc biệt, cần có chương trình giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng xây dựng hạnh phúc gia đình cho học sinh, sinh viên. Hai là, đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về giá trị gia đình. Tuyên truyền cần gắn với thực tiễn, sát với đời sống, tránh hình thức, gò bó. Cần tạo ra những sản phẩm truyền thông hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu của từng đối tượng, nhất là thế hệ trẻ. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là truyền hình, báo chí, các phương tiện truyền thông xã hội trong việc tuyên truyền, lan tỏa các giá trị gia đình tốt đẹp. Ba là, xây dựng, nhân rộng các mô hình điển hình về gia đình tiêu biểu như tổ chức các cuộc thi, sự kiện tôn vinh gia đình văn hóa, gia đình hạnh phúc, cha mẹ mẫu mẫu, con hiếu thảo. Qua đó, tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng, khuyến khích mọi gia đình học tập, noi theo. Bốn là, tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Đây là lực lượng nền tảng, có vai trò quan trọng trong việc gương mẫu thực hiện và lan tỏa các giá trị gia đình tốt đẹp đến quần chúng nhân dân. Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã nhấn mạnh: “Xây dựng văn hoá gia đình, nhà trường và xã hội nhằm bảo vệ, gìn giữ lan toả các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức”(15).
Thứ ba, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong xây dựng giá trị gia đình.
Một trong những đột phá chiến lược được Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh là “tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”(16). Định hướng này cần được vận dụng sáng tạo trong lĩnh vực gia đình. Một là, xây dựng các nền tảng số, cơ sở dữ liệu về gia đình Việt Nam. Số hóa các thông tin, dữ liệu về gia đình, tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách về gia đình. Xây dựng hệ thống quản lý, theo dõi, hỗ trợ các gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên nền tảng số. Hai là, phát triển các ứng dụng công nghệ hỗ trợ gia đình. Xây dựng các ứng dụng di động về giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng làm cha mẹ, chăm sóc sức khỏe gia đình, quản lý tài chính gia đình, kết nối các thành viên trong gia đình. Phát triển các nền tảng tư vấn, hỗ trợ giải quyết các vấn đề gia đình trực tuyến. Ba là, sử dụng công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông xã hội trong công tác tuyên truyền, giáo dục giá trị gia đình. Tạo ra các sản phẩm truyền thông đa phương tiện hấp dẫn, phù hợp với đặc điểm của không gian mạng. Xây dựng các cộng đồng, diễn đàn trực tuyến về gia đình để chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Bốn là, tăng cường quản lý môi trường văn hóa số, bảo vệ gia đình trước các tác động tiêu cực từ không gian mạng. Nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ lọc, kiểm soát nội dung độc hại trên internet. Giáo dục kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin an toàn, văn minh cho các thành viên gia đình, đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên.
Thứ tư, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng.
Nghị quyết Đại hội XIV đã chỉ rõ cần “nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”(17). Trong đó, công tác gia đình phải là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Một là, phát huy vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hóa, gia đình hạnh phúc. Đẩy mạnh các phong trào như “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, “Gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động tư vấn, hỗ trợ gia đình của Hội. Hai là, tăng cường vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong giáo dục giá trị gia đình cho thế hệ trẻ. Tổ chức các hoạt động tư vấn, định hướng cho thanh niên về hôn nhân, gia đình. Phát động các phong trào thanh niên gương mẫu trong việc thực hành các giá trị gia đình tốt đẹp. Ba là, phát huy vai trò của hội người cao tuổi trong truyền đạt các giá trị truyền thống gia đình cho thế hệ trẻ. Tổ chức các hoạt động giao lưu, truyền dạy kinh nghiệm sống, kỹ năng xây dựng gia đình hạnh phúc từ thế hệ ông bà đến thế hệ con cháu. Bốn là, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong giám sát, nhắc nhở, động viên các gia đình thực hiện nếp sống văn hóa. Xây dựng các quy ước, hương ước về xây dựng gia đình văn hóa. Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cộng đồng gắn với xây dựng gia đình văn hóa.
Thứ năm, tăng cường nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Một là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về gia đình Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Cần có những đề tài, dự án nghiên cứu cấp nhà nước về các vấn đề như: biến đổi cơ cấu, chức năng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tác động của hội nhập quốc tế đến giá trị gia đình; xu hướng biến đổi mối quan hệ gia đình trong bối cảnh xã hội hiện đại; các mô hình gia đình mới và vấn đề chính sách. Hai là, xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện về gia đình Việt Nam. Tổ chức điều tra, khảo sát định kỳ về tình hình gia đình Việt Nam. Xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá chất lượng gia đình, hạnh phúc gia đình. Công bố thường xuyên các báo cáo, nghiên cứu về gia đình để làm cơ sở cho hoạch định chính sách. Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực gia đình. Nghị quyết Đại hội XIV đã nhấn mạnh: “Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác đối ngoại; nâng tầm và phát huy vai trò đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(18). Cần chủ động học tập kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chính sách gia đình, mô hình dịch vụ hỗ trợ gia đình. Tham gia tích cực vào các diễn đàn, tổ chức quốc tế về gia đình. Tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ, phổ quát về gia đình, đồng thời giới thiệu, quảng bá những giá trị tốt đẹp của gia đình Việt Nam ra thế giới. Bốn là, hợp tác với các tổ chức quốc tế trong triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ gia đình, tích cực kêu gọi, thu hút nguồn lực quốc tế cho các hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về giá trị gia đình hay các dự án hỗ trợ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, thiên tai.
Việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng thành công hệ giá trị gia đình Việt Nam sẽ góp phần quan trọng vào quá trình: “phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”(19). Đây là nhiệm vụ đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhất là phát huy ý thức tự giác của các gia đình để xây dựng thành công hệ giá trị gia đình Việt Nam vừa giàu bản sắc dân tộc, vừa mang những giá trị tiến bộ của nhân loại, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam “hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(20)./.
-----------------
(1), (2), (4), (5), (8), (9) Xem: “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, ngày 6-2-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1213702/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv- cua-dang.aspx
(3), (13), (15) Xem: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, ngày 6-2-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1213702/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv- cua-dang.aspx
(6), (7), (10), (11), (12), (14), (16), (17), (18), (19), (20) Xem: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, ngày 6-2-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1213702/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu- xiv-cua-dang.aspx
Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng  (08/02/2026)
Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng  (08/02/2026)
Về đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030  (08/02/2026)
Về đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030  (08/02/2026)
- Quan hệ chính trị - ngoại giao Ấn Độ - Nga từ năm 2014 đến nay: Thực trạng và triển vọng
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đổi mới phương thức tham mưu, đề xuất chính sách, phát huy vai trò nòng cốt, tiên phong trong kỷ nguyên mới
- Việt Nam - Ấn Độ: Từ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đến tầm cao quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường
- Xuất bản số góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên mới
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở cấp xã trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm