Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đổi mới phương thức tham mưu, đề xuất chính sách, phát huy vai trò nòng cốt, tiên phong trong kỷ nguyên mới
TCCS - Thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhận thức rõ yêu cầu đổi mới để tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ. Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần XIII (2022 - 2027) nhấn mạnh: “Đổi mới phương thức hoạt động Hội, trọng tâm là ứng dụng công nghệ thông tin” (1). Hội luôn coi công tác tham mưu, đề xuất chính sách với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy là phương thức quan trọng, xuyên suốt các nhiệm kỳ hoạt động; đồng thời chú trọng đổi mới, điều chỉnh phương thức phù hợp với yêu cầu, nội dung công tác phụ nữ, công tác Hội trong từng giai đoạn.
Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong tham mưu, đề xuất chính sách về công tác phụ nữ, công tác hội
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là cầu nối chính sách giữa Đảng, Nhà nước và các tầng lớp phụ nữ. Không chỉ phản ánh tâm tư, nguyện vọng từ thực tiễn đời sống, Hội còn chủ động tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến bình đẳng giới, an sinh xã hội, lao động, gia đình và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em. Thông qua hoạt động nghiên cứu, giám sát và phản biện xã hội, Hội góp phần bảo đảm các chính sách ngày càng sát thực tiễn, nhân văn và phát huy vai trò của phụ nữ trong sự phát triển bền vững của đất nước.
Những đóng góp và đổi mới của Hội trong quá trình tham mưu, đề xuất thể hiện qua các nội dung:
Thứ nhất, tham mưu chính sách công tác phụ nữ, trẻ em
Đối tượng phụ nữ, gia đình, trẻ em và bình đẳng giới là đối tượng chính được xác định trong sứ mệnh và chức năng của Hội. Trong công tác tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy, Hội đã chủ động rà soát chính sách hiện hành liên quan; tham mưu tổ chức các cuộc sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết và văn bản quy phạm pháp luật liên quan, đề xuất giải pháp, chính sách, chương trình, đề án tập trung vào an sinh xã hội, thể chế hóa quy định pháp luật về bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ và tổ chức Hội. Hội đã tham mưu, đề xuất các cấp có thẩm quyền ban hành nhiều chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho phụ nữ, bao gồm:
Một là, đề xuất sửa đổi một số nội dung trong Hiến pháp năm 1992, tạo cơ sở hoàn thiện quy định liên quan đến vị trí, vai trò của phụ nữ trong Hiến pháp năm 2013
Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất, là nền tảng, nguyên tắc để các văn bản quy phạm pháp luật khác lấy làm căn cứ xây dựng, sửa đổi. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã đề xuất, tham mưu sửa đổi một số nội dung của Hiến pháp để bảo đảm bình đẳng giới thực chất, tránh hình thức. Với sự đóng góp của Hội, lần đầu tiên Hiến pháp quy định rõ “cơ hội bình đẳng giới”, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Nhà nước trong bảo vệ quyền lợi của phụ nữ; bổ sung rõ hơn về mục tiêu bình đẳng giới và phát triển toàn diện của phụ nữ; nâng cao vị trí, vai trò của phụ nữ trong mọi mặt đời sống xã hội; mở rộng và cụ thể hóa hơn về quyền cho người lao động, bao gồm lao động nữ; ghi nhận vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phản biện, giám sát chính sách. Các đề xuất của Hội tham gia sửa đổi Hiến pháp được tổng hợp trong Bảng 1:
Hai là, tham mưu đề xuất chính sách về phụ nữ và bình đẳng giới.
Với nhiệm vụ chủ trì xây dựng Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 1959), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã phát huy vai trò, trách nhiệm trong tiến trình sửa đổi và bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình qua các giai đoạn, góp phần hoàn thiện pháp luật về hôn nhân, gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của phụ nữ, trẻ em. Bảng 2 thể hiện nội dung trọng tâm mà Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã kiến nghị sửa đổi.
Các điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung đều phản ánh dấu ấn kiến nghị của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Từ việc khẳng định nguyên tắc “một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” (năm 1959) đến bảo đảm quyền tài sản (năm 1986, 2000), chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống (năm 2000, 2014); phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2014). Những nội dung này thể hiện tính tiến bộ, tiên phong về tư tưởng bình đẳng giới, góp phần thúc đẩy thay đổi nhận thức xã hội và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế.
Trong quá trình xây dựng Bộ Luật lao động, Hội đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu xây dựng "Chương X: Những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới". Hội đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của phụ nữ lao động, tham gia từ giai đoạn nghiên cứu, soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến rộng rãi, phản ánh thực trạng bất bình đẳng giới. Hội đề xuất chính sách đặc thù, đó là: Kiến nghị về thời gian nghỉ thai sản, bảo vệ việc làm khi mang thai, hạn chế sử dụng lao động nữ ở ngành nghề nặng nhọc, thúc đẩy bình đẳng tiền lương.
Bên cạnh đó, Hội còn tham gia vào quá trình giám sát việc thực hiện Bộ Luật Lao động; phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động và Bộ Lao động, Thương binh và xã hội trong khảo sát, kiến nghị sửa đổi khi quyền lợi của người lao động nữ bị vi phạm. Từ sáng kiến pháp luật của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam mà Luật Bình đẳng giới đã được giao cho Hội chủ trì soạn thảo và được Quốc hội ban hành năm 2008. Theo đó, khái niệm “giới”, “bình đẳng giới” lần đầu tiên được pháp điển hóa.
Hội thể hiện vai trò tích cực trong công tác phản biện xã hội và góp ý để đưa vấn đề giới vào các dự thảo luật, đề xuất xây dựng nhiều văn bản pháp luật quan trọng thiết thực cho phụ nữ, như Nghị định số 39/2015/NĐ-CP của Chính phủ hỗ trợ 2 triệu đồng/con ngay trong tháng đầu sau sinh(2); vận động đưa chính sách thai sản vào Luật Bảo hiểm xã hội 2024(3). Trung ương Hội đang tích cực vận động chính sách đưa chi phí khám sàng lọc ung thư cổ tử cung vào danh mục được bảo hiểm y tế chi trả. Tại một số địa phương, Hội đề xuất, vận động chính sách nhằm tăng khả năng tiếp cận nước sạch, vệ sinh cho phụ nữ và trẻ em gái, đưa vấn đề nước sạch, vệ sinh vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2 (2026 - 2030).
Ba là, tham mưu, đề xuất các đề án, dự án hỗ trợ phụ nữ
Nhiệm kỳ X để lại nhiều dấu ấn trong đổi mới phương thức hoạt động của Hội, trong đó phải kể đến cách làm mang tính đột phá trong xây dựng và trình Chính phủ phủ phê duyệt các đề án, dự án do Hội chủ trì thực hiện, hỗ trợ phụ nữ trên nhiều lĩnh vực. Ý tưởng xây dựng thành các đề án được khởi xướng từ nhiệm kỳ X (2007 - 2012). Tính đến nhiệm kỳ XIII, Trung ương Hội đã đề xuất thành công nhiều đề án hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, phát triển kinh tế, hỗ trợ thành lập nhóm trẻ tư thục.
Ngoài ra, Hội còn tích cực phối hợp thực hiện các đề án khác mà đối tượng thụ hưởng bao gồm cả phụ nữ, như Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27-11-2009, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
Bốn là, tham mưu về xây dựng, phê duyệt các đề án bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ Hội
Nhận thức đầy đủ về yếu tố then chốt, quyết định sự thành bại của mọi việc chính là cán bộ nên để có phong trào phụ nữ lớn mạnh, rộng khắp, Hội đã có chiến lược nâng cao năng lực cán bộ Hội các cấp. Năm 2008, lần đầu tiên, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ động xây dựng và tham mưu với Chính phủ phê duyệt đề án bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam(4). Đó là Quyết định số 664/QĐ-TTg, ngày 2-6-2008, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp quận, huyện và xã, phường, thị trấn” giai đoạn 2008 - 2012. Khi Đề án kết thúc (năm 2012), Hội tham mưu Chính phủ phê duyệt Quyết định số 1891/QĐ-TTg, ngày 14-12-2012, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp giai đoạn 2013 - 2017; Quyết định số 1893/QĐ-TTg, ngày 31-12-2018, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và chi hội trưởng phụ nữ giai đoạn 2019 - 2025 là giai đoạn 2, giai đoạn 3 để tiếp tục thực hiện bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ Hội các cấp.
Việc tham mưu, đề xuất với Chính phủ giao cho Hội chủ trì thực hiện các đề án bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ Hội các cấp và các đề án hỗ trợ phụ nữ trong mọi lĩnh vực là một sáng kiến rất hữu hiệu cải thiện căn bản nguồn lực để Hội triển khai, lồng ghép các nhiệm vụ trọng tâm của Hội với các chương trình mục tiêu quốc gia và phong trào thi đua của cả nước, khai thác thế mạnh của phương thức hoạt động theo cơ chế “đặt hàng”. Bên cạnh đó, với những hoạt động khó, Hội đã xây dựng thành các chuyên đề để thực hiện.
Từ Cuộc vận động phụ nữ xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” do Hội khởi xướng năm 2010 để hiện nhiệm vụ trọng tâm, đến năm 2016, Chính phủ ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16-8-2016, của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, tại tiêu chí 16.5 đã bổ sung tiêu chí “gia đình 5 không, 3 sạch” chính thức đưa vào Chương trình, đồng thời giao nhiệm vụ cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hướng dẫn thực hiện. Như vậy, nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc của Hội đã được nâng lên tầm cao mới, đề cao vai trò của phụ nữ, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín của Hội.
Với sự bền bỉ, kiên trì, có phương pháp khoa học, Hội tham mưu Quốc hội, Chính phủ giao cho Hội xây dựng và chủ trì thực hiện dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ, trẻ em” thuộc “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn 2021 - 2030”. Đây là lần đầu tiên, một Chương trình mục tiêu quốc gia có riêng một hợp phần thúc đẩy bình đẳng giới, khẳng định những đóng góp của Hội đối với sự nghiệp bình đẳng giới.
Sáu là, tham mưu giới thiệu cán bộ nữ quy hoạch, ứng cử cho bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
(i) Hội đã tham mưu về chính sách cho cán bộ nữ. Giữ vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tích cực đẩy mạnh tham mưu các chính sách cho cán bộ nữ. Nắm bắt được thực tế công tác của đội ngũ cán bộ Hội, cán bộ nữ cấp cơ sở, Hội đã tham gia ý kiến đóng góp sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đề xuất giảm số năm đóng bảo hiểm xã hội cho cán bộ nữ cấp cơ sở xuống 15 năm vẫn được hưởng lương hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội. Đây là điểm mới quan trọng thể hiện tính nhân văn của Nhà nước đối với lao động nữ hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn, phù hợp với thực tế công tác của cấp cơ sở và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đội ngũ cán bộ nữ công chức, viên chức cấp xã nói chung, chủ tịch hội phụ nữ cấp xã nói riêng.
Thông qua việc đưa ra các căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn(5), Hội đã phân tích rõ những bất cập và những quy định không còn phù hợp của chính sách nghỉ hưu đã được áp dụng từ những năm 1960 - 1970 và kiên trì vận động, thuyết phục để Chính phủ ban hành quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức (ở một số chức danh) lãnh đạo, quản lý(6). Đây là tham mưu quan trọng nhằm phát huy nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, góp phần đảm bảo bình đẳng giới thực chất trong khu vực công, đóng góp hữu hiệu vào sự phát triển nền kinh tế tri thức của nước nhà.
(ii) Hội tham mưu về quy định tỷ lệ nữ trong bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp. Hội luôn quan tâm về vấn đề bình đẳng giới trong công tác cán bộ nữ, đặc biệt trong tham gia chính trị. Nhiệm kỳ XI, thực hiện khâu đột phá: “Xây dựng được cơ chế quy định trách nhiệm của Hội trong công tác cán bộ nữ và chính sách phát triển nguồn nhân lực nữ”, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tham mưu sửa đổi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, đề xuất thành công quy định tỷ lệ người được giới thiệu ứng cử là phụ nữ (ít nhất 35%), là người dân tộc thiểu số (ít nhất 18%). Đồng thời, Hội cũng phối hợp tổ chức kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ Chính trị, về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một số tỉnh/thành Hội đã tham mưu với cấp ủy cùng cấp ban hành đề án xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau biết chữ cho phụ nữ và trẻ em gái dân tộc thiểu số, tuyên truyền cho phụ nữ vùng giáo, vùng biển về phát triến kinh tề, giảm nghèo bền vững... Những chính sách này đã góp phần thực hiện an sinh xã hội, thế chế hóa quy định pháp luật về bình đẳng giới, nâng cao vị thế của tổ chức Hội.
Các cấp Hội cũng tích cực trong việc phát hiện, giới thiệu nguồn cán bộ nữ cho Đảng, chính quyền, các ban, ngành; giới thiệu kết nạp đảng viên nữ; tham mưu các biện pháp bảo đảm các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ trong các vị trí lãnh đạo các cấp như đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cấp ủy…; tổ chức các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nữ; tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò, sự đóng góp của phụ nữ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, chính trị…
Những nỗ lực trên của Hội đã trực tiếp góp phần vào việc gia tăng tỷ lệ nữ tham gia vào hệ thống chính trị trong thời gian qua.
Thứ hai, tham mưu về địa vị pháp lý, tổ chức bộ máy nhân sự trong hệ thống Hội
Một là, tham mưu về địa vị pháp lý của Hội. Từ những định hướng lớn của Đảng về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ động tham mưu, đề xuất chính sách với Đảng, Chính phủ về những nội dung liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội. Ngay từ nhiệm kỳ VI (1987 - 1992) cho đến nhiệm kỳ XI, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tham mưu được nhiều văn bản quy định về địa vị pháp lý của Hội. Nội dung và mục đích của các văn bản này tập trung ở 2 chủ đề bao trùm: (1) Quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước(7); (2) Chỉ đạo công tác phụ vận, công tác phụ nữ, cán bộ nữ (8). Đây là những văn bản chỉ đạo quan trọng của Đảng nhằm nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về công tác phụ nữ, bình đẳng giới, khẳng định vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong công tác phụ nữ, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác phụ nữ. Hội đóng vai trò nòng cốt, tích cực thực hiện các văn bản trên. Uy tín và vị thế của Hội ngày càng được nâng cao trong các văn bản pháp lý và đời sống thực tiễn.
Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng tham mưu xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, bảo vệ quyền lợi phụ nữ, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, xã hội về công tác phụ nữ; Hội đã tích cực trong việc định hướng và thúc đẩy sự phát triển phong trào phụ nữ; tham mưu, đề xuất về phân bổ ngân sách cho hoạt động của Hội. Nhờ tham mưu có kế hoạch, bài bản và cách thức tổ chức thực hiện khoa học nên nhiều vấn đề Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham mưu, đề xuất đã được cấp ủy đồng tình, ủng hộ, tạo điều kiện. Các ý kiến đóng góp, các hoạt động của Hội tập trung vào những vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến phụ nữ và mục tiêu bình đẳng giới; bảo đảm cơ hội tham gia, đóng góp của phụ nữ trong xã hội, gia đình và các biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân.
Hai là, tham mưu về tổ chức bộ máy nhân sự trong hệ thống Hội. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham mưu, trình Ban Bí thư phê duyệt Điều lệ Hội - văn bản có tính pháp lý quan trọng, quy định những nguyên tắc cơ bản, định hướng tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (ban hành các năm 2007, 2012, 2016, 2022). Qua mỗi kỳ Đại hội, có nhiều điểm mới trong Điều lệ Hội được sửa đổi, thể hiện rõ chủ trương đổi mới hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của Hội, nâng cao vai trò vận động phụ nữ. Đặc biệt, Điều lệ Hội năm 2022 đã bổ sung 3 điểm mới quan trọng: quy định về hội viên danh dự, quy định về việc lập và hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp Hội và quy định việc nâng mức hội phí đối với hội viên.
Thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy theo tinh thần của Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Hội tiến hành rà soát thực trạng, triển khai thực hiện các công việc chuẩn bị cho việc sắp xếp tổ chức, bộ máy của tổ chức Hội theo chỉ đạo của Trung ương khẩn trương, nghiêm túc theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, “Trung ương không chờ cấp tỉnh, cấp tỉnh không chờ cấp huyện, cấp huyện không chờ cơ sở”. Đảng đoàn Trung ương Hội đã tiến hành rà soát xây dựng Đề án số 13-ĐA/ĐĐ, ngày 23-12-2024, về sắp xếp, đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tham mưu Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 221-QĐ/TW, ngày 28-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”. Năm 2025, cùng với việc tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Hội phối hợp tham mưu Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Quyết định số 554/QĐ-MTTW-BTT, ngày 27-6-2025, “Về xây dựng mô hình tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của Ban Công tác phụ nữ”.
Việc bố trí, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm được tiến hành công khai, minh bạch, tuân thủ quy định của Đảng, Nhà nước và của Hội, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Chính nhờ không ngừng tìm tòi hướng đi mới, cách thức mới, bám sát sự chỉ đạo và chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng cùng những lập luận khoa học chặt chẽ, căn cứ thực tiễn thuyết phục, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã có những thành công trong tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cấp ủy và chính quyền các cấp những vấn đề liên quan đến công tác phụ nữ và bình đẳng giới, góp phần nâng cao tỷ lệ nữ trong tham chính, mang lại những lợi ích rất căn bản, thiết thực cho phụ nữ, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Những thành công này cũng góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong tiến trình đổi mới cùng đất nước 40 năm qua.
Một số gợi mở trong thời gian tới
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, xu hướng tiến bộ của nhân loại đang chứng kiến sự chuyển dịch nhận thức sâu sắc: Mục tiêu bình đẳng giới không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm quyền lợi tương xứng giữa nam và nữ, mà cần hướng đến phát triển bao trùm và toàn diện. Đây là đòi hỏi khách quan nhằm bảo đảm quyền tham gia và thụ hưởng bình đẳng của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế (người khuyết tật, lao động di cư, đồng bào dân tộc thiểu số và lao động khu vực phi chính thức) để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Nhận thức sâu sắc bối cảnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với tư cách là tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ cần không ngừng đổi mới phương thức hoạt động. Hội giữ vững vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, tiếp tục khẳng định vị thế tiên phong, dẫn dắt trong các nỗ lực kiến tạo sự bình đẳng, đoàn kết trong toàn xã hội.
Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh này, cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, đổi mới công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ trên cơ sở cụ thể hóa các tiêu chuẩn, tiêu chí. Hội cần chủ động tham mưu, cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ nữ. Việc đánh giá, giới thiệu cán bộ phải dựa trên năng lực và kết quả công tác thực tiễn tại cơ sở để tạo nguồn ứng viên khách quan. Đồng thời, kiên trì tham mưu các giải pháp mang tính thể chế, quy định rõ tỷ lệ nữ giới bắt buộc trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý và cấp ủy các cấp, nhằm bảo đảm sự tham gia thực chất của phụ nữ trong hệ thống chính trị.
Hai là, xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số. Hội cần đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ phụ nữ thích ứng với nền kinh tế số. Trọng tâm là phối hợp thiết lập các điểm hỗ trợ tại cộng đồng nhằm chuyển giao kỹ năng thực hành: hỗ trợ phụ nữ đưa sản phẩm nông nghiệp, OCOP lên các nền tảng thương mại điện tử, ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin trên không gian mạng.
Ba là, đổi mới phương thức hoạt động thông qua cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp dịch vụ công. Thay vì phụ thuộc vào kinh phí phân bổ thường xuyên, Hội cần chủ động xây dựng chiến lược, tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng có bố trí ngân sách để Hội trực tiếp thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia (như đào tạo nghề, hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ yếu thế). Phương thức này vừa phát huy tính chủ động, vừa nâng cao năng lực quản trị và trách nhiệm giải trình của tổ chức Hội.
Bốn là, nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật. Hội cần phát huy cao độ vai trò đại diện cho tiếng nói của các tầng lớp phụ nữ. Yêu cầu đặt ra là phải theo dõi sát sao và phản biện quyết liệt nhằm bảo đảm yêu cầu lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các dự án luật, chương trình phát triển kinh tế - xã hội ngay từ khâu soạn thảo, góp phần tạo công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ./.
-----------------------
* Nội dung bài viết thuộc Đề tài trọng điểm cấp bộ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: “Tổng kết nội dung, phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong 40 năm đổi mới 1986 - 2025”, thực hiện năm 2024 - 2025. Mã số HPN.BO.01/24
(1) Xem: Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, Cổng Thông tin điện tử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, ngày 11-3-2022, https://hoilhpn.org.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/nghi-quyet-%C4%91ai-hoi-%C4%91ai-bieu-phu-nu-toan-quoc-lan-thu-xiii-51518-1201.html
(2) Nghị định số 39/2015/NĐ-CP, ngày 27-4-2025, của Chính phủ, quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số
(3) Hội đề xuất mở rộng điều kiện hưởng chế độ thai sản cho phụ nữ điều trị vô sinh, hiếm muộn (Khoản 5 Điều 50); mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc để tạo cơ hội cho người lao động được hưởng đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, trong đó có chế độ thai sản; quy định thời gian điều chỉnh mức trợ cấp thai sản trong chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện theo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Khoản 2 Điều 95)
(4) Đề án ban hành kèm theo Quyết định số 664/QĐ-TTg, ngày 29-5-2008; Quyết định số 1891/QĐ-TTg, ngày 6-10-2017, số 1893/QĐ-TTg, ngày 13-11-2019
(5) Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Báo cáo Đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu căn cứ đề xuất nâng tuổi nghỉ hưu đối với nữ trí thức”, Hà Nội, 2011
(6) Nghị định số 53/2015/NĐ-CP, ngày 29-5-2015 và Nghị định số 83/2022/NĐ-CP, ngày 18-10-2022
(7) Gồm: Quyết định số 163/HĐBT ngày 19-10-1988, Nghị định số 19/2003/NĐ-CP, Nghị định số 56/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Đây là căn cứ pháp lý khẳng định quyền và trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam các cấp tham gia công tác quản lý nhà nước; tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các địa phương
(8)Như: Nghị quyết số 04/NQ-TW, của Bộ Chính trị ngày 12-7-1993; Chỉ thị số 28/CT-TW ngày 19-9-1993; Chỉ thị số 37/CT ngày 16-5-1994; Chỉ thị số 54/CT-TW. ngày 22-5-2000; Chỉ thị số 07/CT-TW ngày 25-1-2002; Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 16-5-1994; Nghị quyết số 11/NQ-BCT ngày 27-4-2007; Chỉ thị số 21/CT-TW ngày 20-1-2018…
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Giám sát của Quốc hội phải đi vào thực chất, kiến tạo phát triển  (07/08/2025)
Báo chí phản biện xã hội để tạo sự đồng thuận  (03/06/2025)
- Đồng chí Hồ Tùng Mậu - Tấm gương đạo đức sáng ngời của người chiến sĩ cộng sản và ý nghĩa với công cuộc đổi mới hiện nay
- Đồng chí Hồ Tùng Mậu - Nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam
- Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại: Trụ cột phát triển con người và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới
- Phát huy vai trò của ban chỉ huy quân sự cấp xã trong xây dựng “thế trận lòng dân” theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
- Mô hình quan hệ đối tác chiến lược từ thực tiễn quan hệ ASEAN - Nga
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm