Tiêu chí hiện thực hóa mục tiêu phát triển “hòa bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc” ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
TCCS - Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, việc xác lập mục tiêu phát triển giữ vai trò định hướng chiến lược; tuy nhiên, điều này chỉ có ý nghĩa khi mục tiêu được cụ thể hóa bằng hệ tiêu chí khoa học, khả thi và có thể kiểm chứng. Do đó, việc xác định các tiêu chí tương ứng không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là điều kiện để chuyển hóa khát vọng phát triển thành kết quả hiện thực, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách.
Tiêu chí “hòa bình”
Hòa bình là khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam, đồng thời là một giá trị cốt lõi của nhân loại. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hòa bình không chỉ là trạng thái “không có chiến tranh”, mà là một chỉnh thể bao gồm ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, quan hệ đối ngoại hòa bình, phát triển bền vững và nâng cao đời sống nhân dân. Mục tiêu “hòa bình” cần được xác lập trên các tiêu chí sau:
Một là, sự ổn định chính trị - xã hội. Một quốc gia thực sự hòa bình khi xã hội ổn định, không có xung đột, bạo loạn và có sự đồng thuận cao. Điều này được phản ánh qua niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và mức độ hài lòng đối với chính sách công, được thể hiện qua kết quả phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính, chuyển đổi số, nâng cao đạo đức công vụ. Như vậy, hòa bình không chỉ là “không có chiến tranh”, mà còn là bảo đảm ổn định chính trị và củng cố niềm tin của nhân dân - thước đo cơ bản của phát triển bền vững.
Hai là, hòa bình được bảo đảm bằng năng lực quốc phòng, an ninh vững mạnh. Một nền hòa bình bền vững phải gắn với khả năng răn đe, ngăn ngừa xung đột, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường an ninh, an toàn cho phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, tiêu chí hòa bình cần tính đến năng lực bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, kết hợp hiện đại hóa quốc phòng với “thế trận lòng dân” vững chắc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hòa bình còn bao hàm an ninh phi truyền thống, như an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh năng lượng, ứng phó biến đổi khí hậu và phòng, chống dịch bệnh. Kết quả kiểm soát đại dịch COVID-19 của Việt Nam là minh chứng rõ nét cho năng lực quản trị rủi ro và ứng phó thách thức - một tiêu chí quan trọng của hòa bình.
Ba là, hòa bình gắn liền với quan hệ quốc tế hòa hiếu, hợp tác, tin cậy. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước ngày càng gay gắt, giữ vững môi trường hòa bình đối ngoại vừa là yêu cầu, vừa là thách thức. Tiêu chí này được thể hiện ở vị thế, uy tín quốc tế và khả năng tham gia tích cực vào các thể chế đa phương. Việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi, đồng thời đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, là minh chứng cho đóng góp thiết thực vào hòa bình khu vực và toàn cầu. Hòa bình phải gắn trực tiếp với đời sống của nhân dân. Như vậy, hòa bình cần được đo bằng chất lượng cuộc sống, mức độ an toàn và sự yên ổn trong đời sống hằng ngày của mỗi người dân.
Tiêu chí “độc lập”
Độc lập là giá trị cốt lõi, thiêng liêng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập không chỉ là sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, mà còn là quyền tự quyết của dân tộc trong lựa chọn con đường phát triển, bảo đảm cho nhân dân được sống tự do, hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, qua đó nhấn mạnh độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết cho mọi mục tiêu phát triển. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, mục tiêu “độc lập” phải được xác lập qua các tiêu chí sau:
Một là, độc lập về chính trị. Biểu hiện trước hết là khẳng định chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc tự quyết - nguyên tắc bất khả xâm phạm, được thể hiện qua hiến pháp, pháp luật và việc tổ chức, vận hành bộ máy nhà nước theo đường lối do quốc gia tự xác lập, phù hợp với thực tiễn và lợi ích của nhân dân. Ở Việt Nam hiện nay, đó là kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, được khẳng định trong Cương lĩnh và các văn kiện đại hội Đảng; không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp hay áp đặt nào về mô hình chính trị, con đường phát triển. Thứ hai, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà nước bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, có phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Khi nhà nước vững mạnh, pháp luật nghiêm minh, kỷ cương được giữ vững thì độc lập chính trị có nền tảng bền chắc, hạn chế nguy cơ “diễn biến hòa bình” và sự chi phối từ bên ngoài. Thứ ba, khả năng tự quyết định về đường lối phát triển, chính sách đối nội, đối ngoại phù hợp lợi ích dân tộc, không phụ thuộc vào bên ngoài. Thực tiễn đổi mới cho thấy, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; vừa hội nhập sâu rộng, vừa giữ nguyên tắc “dựa vào sức mình là chính”, “không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. Đây là bằng chứng rõ nét cho bản lĩnh độc lập chính trị: chủ động hợp tác nhưng không để bất kỳ đối tác nào chi phối chiến lược phát triển đất nước.
Hai là, độc lập về kinh tế. Trong hệ tiêu chí xác lập mục tiêu “độc lập”, kinh tế giữ vai trò nền tảng vật chất bảo đảm cho các lĩnh vực khác. Nếu chính trị định hướng, quốc phòng - an ninh bảo vệ, văn hóa - xã hội tạo “sức mạnh mềm”, đối ngoại khẳng định vị thế, thì kinh tế là nguồn lực nuôi dưỡng tất cả. Biểu hiện trước hết là năng lực tự chủ, tự cường của nền kinh tế. Tự chủ không có nghĩa là khép kín, mà là khả năng kiểm soát và làm chủ những lĩnh vực then chốt, tránh tình trạng phụ thuộc tuyệt đối vào một đối tác hay một thị trường; bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng, tài chính và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trước biến động toàn cầu. Kinh nghiệm đại dịch COVID-19 hay các cuộc khủng hoảng tài chính trước đây và năng lượng hiện nay cho thấy, một quốc gia có nội lực kinh tế mạnh sẽ đứng vững trước thách thức, ngược lại sẽ dễ rơi vào thế bị động, tổn thương. Với Việt Nam, việc bảo đảm an ninh lương thực, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát nhiều năm qua hay ổn định giá xăng dầu hiện nay chứng minh cho bước tiến quan trọng của tiêu chí độc lập kinh tế. Thứ hai, độc lập kinh tế còn thể hiện ở hội nhập quốc tế chủ động, hiệu quả. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập chỉ có ý nghĩa khi vừa tận dụng cơ hội phát triển, vừa giữ vững bản lĩnh, không lệ thuộc. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mai tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), đồng thời kiên trì đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại để tránh phụ thuộc vào một thị trường. Đó là cách thức bảo đảm độc lập kinh tế trong điều kiện hội nhập sâu rộng gắn với tăng cường nội lực. Thứ ba, xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, bền vững - tiêu chí cốt lõi của độc lập kinh tế. Một nền kinh tế độc lập không chỉ có quy mô mà còn phải có chất lượng, khả năng tự cân đối và thích ứng linh hoạt, thể hiện ở phát triển công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, nông nghiệp hiện đại, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Thứ tư, độc lập kinh tế gắn với nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội. Thành quả phát triển phải được phân bổ hợp lý, hướng tới ổn định đời sống, thu hẹp bất bình đẳng, lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là nguồn lực, động lực quan trọng nhất cho sự phát triển.
Ba là, độc lập về quốc phòng - an ninh. Trong hệ tiêu chí xác định mục tiêu độc lập, vấn đề quốc phòng - an ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi không có độc lập bền vững nếu chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ không được bảo vệ, an ninh chính trị và trật tự xã hội không được giữ vững. Biểu hiện thứ nhất là khả năng bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời, dựa trên sức mạnh tổng hợp của đất nước, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Một quốc gia độc lập không thể để lãnh thổ bị xâm phạm hay an ninh bị chi phối. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược phức tạp, Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, đồng thời xử lý linh hoạt, giữ vững hòa bình, ổn định. Một trong những quan điểm lớn được Đảng ta nhiều lần khẳng định là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Thứ hai, xây dựng lực lượng quân sự hiện đại, an ninh tinh nhuệ và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ nằm ở trang bị mà trước hết ở “thế trận lòng dân”, ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thứ ba, khả năng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động phòng ngừa, đấu tranh với “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, tội phạm xuyên quốc gia và các thách thức an ninh phi truyền thống như khủng bố, tội phạm mạng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh.
Bốn là, độc lập về văn hóa - xã hội. Văn hóa là hồn cốt, bản sắc, là “căn cước” tinh thần của mỗi dân tộc, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Nếu mất đi bản sắc, bị hòa tan vào các nền văn hóa ngoại lai, hoặc xã hội rơi vào chia rẽ, phân hóa, thì độc lập cũng trở nên mong manh. Do đó, độc lập của một quốc gia không chỉ được đo bằng sức mạnh chính trị, kinh tế hay quân sự, mà còn được khẳng định bằng sức sống văn hóa và sự bền vững xã hội. Tiêu chí “độc lập về văn hóa - xã hội”, thể hiện trước hết ở khả năng bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Một dân tộc độc lập phải có nền văn hóa độc lập: ngôn ngữ, phong tục, truyền thống, hệ giá trị. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc giữ gìn bản sắc càng quan trọng bởi đó là “lá chắn mềm” để chống lại nguy cơ bị đồng hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam” khẳng định, văn hóa là “trụ cột”, “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nhiều năm qua, Việt Nam đã kiên trì xây dựng hệ giá trị Việt Nam thời kỳ mới, gồm yêu nước, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập - như một cột mốc khẳng định độc lập về văn hóa. Thứ hai, sự đoàn kết và ổn định xã hội là một tiêu chí quan trọng của độc lập văn hóa - xã hội. Một quốc gia chỉ thực sự độc lập khi trong lòng dân tộc không có sự chia rẽ nghiêm trọng về giai cấp, tôn giáo, dân tộc. Độc lập xã hội được thể hiện ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự bình đẳng giữa các dân tộc, sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là sức mạnh nội sinh để dân tộc trường tồn và phát triển. Thứ ba, độc lập về văn hóa - xã hội còn được hiện thực hóa qua việc bảo đảm công bằng, tiến bộ và an sinh xã hội. Phát triển kinh tế nếu không đi đôi với công bằng, nếu khoảng cách giàu nghèo gia tăng và các nhóm yếu thế bị bỏ lại phía sau, thì nền tảng độc lập sẽ bị xói mòn. Do đó, độc lập xã hội đòi hỏi phải gắn tăng trưởng với nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển giáo dục, y tế, phúc lợi và cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản theo nguyên tắc “không ai bị bỏ lại phía sau”. Ở bình diện sâu xa, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển; vì vậy, sự phát triển toàn diện của con người chính là thước đo cao nhất, bền vững nhất của độc lập về văn hóa - xã hội
Năm là, độc lập về đối ngoại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, đối ngoại trở thành trụ cột quan trọng để khẳng định và củng cố mục tiêu “độc lập”. Đảng ta khẳng định, cùng với quốc phòng, an ninh thì đối ngoại được coi là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”. Tiêu chí này trước hết thể hiện ở việc kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Việt Nam nhất quán phương châm “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây không chỉ là định hướng chiến lược mà còn là nguyên tắc bảo đảm độc lập trong xử lý các quan hệ quốc tế; thứ hai, độc lập đối ngoại được thể hiện ở năng lực hội nhập chủ động, hiệu quả, tham gia bình đẳng vào các cơ chế và “luật chơi” toàn cầu. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP cùng với mở rộng mạng lưới đối tác chiến lược, đối tác toàn diện cho thấy Việt Nam vừa hội nhập sâu rộng, vừa giữ vững nguyên tắc “không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác(1)”; thứ ba, uy tín và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Một quốc gia độc lập phải có tiếng nói được tôn trọng, có khả năng tham gia định hình các chuẩn mực và cơ chế hợp tác quốc tế. Nhiều năm qua, việc Việt Nam đảm nhiệm thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN, cũng như đăng cai nhiều sự kiện quốc tế lớn đã khẳng định rõ vị thế và năng lực đóng góp. Điều đó cho thấy, độc lập đối ngoại không chỉ là “không lệ thuộc”, mà còn là chủ động kiến tạo và dẫn dắt trong những vấn đề chung của khu vực và thế giới.
Tiêu chí “giàu mạnh”
Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, “giàu mạnh” là tiêu chí phản ánh trực tiếp tiềm lực quốc gia và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, giàu mạnh không thể giản lược thành thu nhập hay chỉ số GDP, mà phải được tiếp cận toàn diện trên các phương diện: Quy mô, chất lượng tăng trưởng, năng lực hội nhập, tính bền vững và khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, độc lập dân tộc phải gắn với ấm no, hạnh phúc của nhân dân; nếu nhân dân không được thụ hưởng thành quả phát triển, thì độc lập cũng không có ý nghĩa trọn vẹn. “Giàu mạnh” vừa là mục tiêu, vừa là thước đo thực chất của con đường phát triển.
Giàu mạnh thể hiện trước hết ở tiêu chí về sức mạnh kinh tế tổng hợp với quy mô và tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững. Tại Việt Nam, “quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD,… xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao”(2). Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng trưởng từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 của Việt Nam đạt khoảng 8.500 USD. Đây là bước tiến lớn thể hiện sức mạnh kinh tế, song vẫn cần những nỗ lực bền bỉ để thực hiện tiêu chí “giàu mạnh”. Thứ hai, giàu mạnh phải gắn liền với chất lượng tăng trưởng. Tăng trưởng dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ không tạo nền tảng bền vững. Chất lượng được phản ánh qua trình độ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất lao động và sức cạnh tranh. Việt Nam xếp hạng 67/141 về năng lực cạnh tranh toàn cầu (năm 2019) và đứng thứ 44/139 về đổi mới sáng tạo (năm 2025)(3), cho thấy xu hướng chuyển dịch đúng hướng, dù còn dư địa cải thiện. Thứ ba, giàu mạnh thể hiện ở năng lực bảo đảm an ninh kinh tế và sức chống chịu trước các cú sốc toàn cầu. Thực tiễn đại dịch COVID-19 và biến động kinh tế thế giới cho thấy, quốc gia có nội lực vững sẽ duy trì ổn định và phục hồi nhanh. Việt Nam duy trì tăng trưởng dương giai đoạn 2021 - 2025 (bình quân 6,2%/năm), riêng năm 2025 đạt 8,02%; quy mô thương mại thuộc nhóm 20 nước hàng đầu thế giới, phản ánh khả năng thích ứng và chống chịu ngày càng cao. Với thực tiễn này, việc đề xuất tốc độ tăng trưởng từ 10%/năm trở lên theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng là hoàn toàn khả thi. Thứ tư, giàu mạnh phải gắn với sức mạnh quốc phòng - an ninh và vị thế đối ngoại. Kinh tế phát triển nhưng quốc phòng - an ninh yếu kém thì không thể bảo đảm độc lập bền vững. Đảng xác định kết hợp chặt chẽ “kinh tế - quốc phòng - đối ngoại”, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, tăng cường quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên, tạo thế và lực tổng hợp cho quốc gia. Thứ năm, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội là tiêu chí giàu mạnh hướng đến. Giàu mạnh không chỉ ở tích lũy của cải, mà ở mức độ thụ hưởng công bằng của người dân. Quan điểm này cũng bác bỏ luận điệu xuyên tạc cho rằng, chủ nghĩa xã hội là “chia đều nghèo khổ”, đồng thời thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Thực tiễn cho thấy, đến hết năm 2025, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt 5.026 USD/người/năm(4); “tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025”(5), phản ánh tiến bộ rõ rệt trong hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, lấy con người làm trung tâm của phát triển. Như vậy, tiêu chí giàu mạnh phải gắn liền với thu nhập bình quân, với mức độ bao phủ an sinh xã hội và với sự thụ hưởng công bằng của nhân dân.
Tiêu chí “phồn vinh”
Nếu “giàu mạnh” nhấn mạnh sức mạnh kinh tế và tiềm lực quốc gia, thì “phồn vinh” có nội hàm rộng hơn, phản ánh sự phát triển hài hòa giữa vật chất và tinh thần, giữa công bằng xã hội và bền vững môi trường. Một quốc gia giàu mạnh chưa chắc đã phồn vinh, nhưng đã phồn vinh thì nhất định phải giàu mạnh. Vì vậy, “phồn vinh” là tiêu chí biểu đạt trình độ phát triển toàn diện, bền vững và nhân văn của chủ nghĩa xã hội. Nội hàm này được thể hiện qua các phương diện cơ bản sau:
Phồn vinh thể hiện trước hết ở sức sống cao và chất lượng cuộc sống tốt của đại bộ phận nhân dân. Điều đó biểu hiện ở khả năng tiếp cận công bằng các dịch vụ thiết yếu, như y tế, giáo dục, văn hóa, hạ tầng và chuyển đổi số. Theo Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2024 đạt 0,766, xếp thứ 93/193 quốc gia, thuộc nhóm có mức phát triển con người trên trung bình toàn cầu(6). Đây là tiến bộ quan trọng, song vẫn cần tiếp tục nâng cao để đạt ngưỡng “phát triển con người cao” (≥0,8) vào năm 2030 như mục tiêu Đại hội XIV đặt ra. Thứ hai, phồn vinh gắn liền với công bằng xã hội và phát triển bao trùm. Một xã hội không thể coi là phồn vinh nếu còn tồn tại bất bình đẳng sâu sắc hay những nhóm dân cư bị bỏ lại phía sau. Đảng ta nhất quán quan điểm kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; không đánh đổi công bằng để lấy tăng trưởng thuần túy. Đây là tiêu chí cốt lõi, phản ánh bản chất nhân văn của chế độ và là thước đo thực chất của phồn vinh. Thứ ba, phồn vinh phải gắn với môi trường sống trong lành và phát triển bền vững. Một xã hội phồn vinh là nơi con người được sống trong môi trường xanh, an toàn, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong điều kiện Việt Nam chịu nhiều tác động của thiên tai và nước biển dâng, tiêu chí này đòi hỏi đẩy mạnh giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, đô thị xanh và kinh tế tuần hoàn. Cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 (COP26) là minh chứng cho định hướng phát triển phồn vinh gắn với bền vững. Thứ tư, sự phát triển văn hóa và đời sống tinh thần. Một xã hội phồn vinh phải có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, đồng thời có khả năng lan tỏa giá trị ra thế giới. Việc Việt Nam có nhiều di sản được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận không chỉ khẳng định chiều sâu văn hóa, mà còn phản ánh sức sống và vị thế văn hóa trong dòng chảy toàn cầu. Thứ năm, thể chế hiệu lực, hiệu quả, minh bạch và hạ tầng hiện đại cũng là tiêu chí rất quan trọng của phồn vinh. Một quốc gia phồn vinh phải có nhà nước pháp quyền vững mạnh, pháp luật đồng bộ, cùng hệ thống hạ tầng phát triển, kết nối hiệu quả. Những nỗ lực thúc đẩy hạ tầng giao thông, logistics, chuyển đổi số và hạ tầng xanh, cùng với yêu cầu đột phá về thể chế, xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, thực chất, vì nhân dân phục vụ, chính là những chỉ dấu quan trọng hướng tới mục tiêu phồn vinh bền vững.
Tiêu chí “hạnh phúc”
Nếu hòa bình và độc lập là điều kiện, giàu mạnh và phồn vinh là động lực, thì hạnh phúc chính là mục tiêu tối hậu, “đích đến” của toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là sự kế thừa và phát triển nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng: Hạnh phúc phải gắn liền với độc lập, tự do, với quyền con người và sự phát triển toàn diện, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cao nhất của phát triển. Vì vậy, hạnh phúc không chỉ là trạng thái cảm xúc cá nhân, mà là tiêu chí chính trị - xã hội tổng hợp, phản ánh bản chất ưu việt của chế độ. Nội hàm tiêu chí này được thể hiện trên các phương diện cơ bản sau:
Trước hết, hạnh phúc là sự bảo đảm các nhu cầu cơ bản và quyền con người. Đó là quyền được ăn no, mặc ấm, được học hành, chăm sóc sức khỏe, được sống an toàn, được tôn trọng và phát triển. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu cao nhất mà Người nhấn mạnh là “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Như vậy, hạnh phúc trước hết được đo bằng mức độ bảo đảm các quyền cơ bản và điều kiện sống tối thiểu của mỗi người dân. Thứ hai, hạnh phúc thể hiện ở mức độ hài lòng, cảm nhận an toàn và niềm tin xã hội. Không chỉ dừng ở vật chất, hạnh phúc còn là sự yên tâm về tương lai, sự tin tưởng vào thể chế và mức độ hài lòng đối với chính sách công, dịch vụ xã hội. Quan điểm “lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo cao nhất” nhấn mạnh tính thực chất của tiêu chí này, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và hiệu quả phục vụ của bộ máy nhà nước. Thứ ba, hạnh phúc gắn với công bằng xã hội và cơ hội phát triển cho mọi người. Một xã hội phân hóa sâu sắc, bất bình đẳng kéo dài không thể tạo nền tảng hạnh phúc bền vững. Ngược lại, khi mỗi cá nhân được bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, việc làm, y tế, an sinh xã hội và được tham gia đời sống xã hội, thì hạnh phúc trở thành giá trị phổ quát. Các chỉ số như thu nhập, việc làm, tuổi thọ, bình đẳng giới, mức độ bao phủ an sinh… là những thước đo cụ thể phản ánh mức độ hiện thực hóa tiêu chí này. Thứ tư, hạnh phúc thể hiện ở chất lượng môi trường sống và mức độ gắn kết cộng đồng. Con người chỉ có thể thực sự hạnh phúc khi được sống trong môi trường an toàn, trong lành, hài hòa với thiên nhiên và trong một cộng đồng đoàn kết, nhân ái. Môi trường sống tốt bảo đảm sức khỏe thể chất và tinh thần, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với các rủi ro như ô nhiễm, dịch bệnh, biến đổi khí hậu. Cùng với đó, sự gắn kết cộng đồng thể hiện qua niềm tin xã hội, mức độ tham gia các hoạt động chung và tinh thần tương trợ tạo nên nền tảng ổn định và bền vững của hạnh phúc. Các chỉ số về mức độ trong sạch của không khí, nguồn nước, tỷ lệ cây xanh, diện tích không gian công cộng; tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động cộng đồng, chỉ số niềm tin xã hội, mức độ an toàn và an ninh tại nơi cư trú là những thước đo cụ thể về chất lượng sống và mối liên kết cộng đồng, nơi con người được sống khỏe mạnh, chan hòa và nhân văn. Đặc biệt, Chỉ số HDI của Việt Nam được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc. “Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021”(7). Kết quả này phản ánh sự cải thiện rõ rệt về chất lượng sống, sự ổn định chính trị - xã hội và hiệu quả của các chính sách an sinh. Đây là minh chứng quốc tế quan trọng, khẳng định định hướng phát triển lấy con người làm trung tâm, hướng tới mục tiêu cao nhất: Xây dựng một xã hội thực sự hạnh phúc, nơi mỗi người dân được sống an toàn, phát triển toàn diện và thụ hưởng công bằng thành quả của đổi mới.
Việc xác định tiêu chí cho mục tiêu “hòa bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc” là nhiệm vụ tất yếu để biến khát vọng phát triển thành hiện thực. Các tiêu chí này không chỉ là thước đo, mà còn là định hướng giá trị, phản ánh sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm kiên định và phát triển sáng tạo của Đảng ta trong kỷ nguyên mới. Thực hiện thành công các tiêu chí ấy chính là hiện thực hóa con đường xây dựng đất nước Việt Nam “đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao;… đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(8)./.
----------------------
(1) Xem: Chính sách quốc phòng Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng, https://www.bqp.vn/home/intro/detail?1dmy¤t=true&urile=wcm%3Apath%3A/mod/sa-mod-site/sa-qpvn/sa_qpvn_dnqp/sa-qpvn-dnqp-ctcs/chinh-sach-quoc-phong-viet-nam
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 47
(3) Xem: Thảo Lê: Báo cáo chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025: Việt Nam giữ vững vị trí 44/139, Báo Nhân dân, ngày 13-10-2025, https://nhandan.vn/bao-cao-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-gii-2025-viet-nam-giu-vung-vi-tri-44139-post908516.html#:~:text
(4) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 47
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 52
(6) Xem: Thông tấn xã Việt Nam: Việt Nam tăng 14 bậc về Chỉ số phát triển con người, Báo VietnamPlus, ngày 8-5-2024, https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-tang-14-bac-ve-chi-so-phat-trien-con-nguoi-post1037356.vnp
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 51
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 375
Quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới  (19/02/2026)
Tuyên ngôn Độc lập và bài học về ý chí, khát vọng dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước  (28/08/2025)
Nghĩa vụ của Nhà nước về bảo đảm, bảo vệ quyền con người của người tiêu dùng thực phẩm  (27/08/2025)
Xây dựng con người “Thủ đô xã hội chủ nghĩa” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh  (05/08/2025)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Thanh thiếu niên hai nước tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước*
- Tiếp cận toàn diện trong quản lý phát triển xã hội - Nhìn từ quan niệm và nội dung cốt lõi của các lý thuyết phát triển đương đại
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm