Thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng đến phát triển bền vững ở Việt Nam
TCCS - Chuyển đổi xanh đang là xu thế phát triển của thế giới và là yêu cầu khách quan đối với Việt Nam để ứng phó với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên, là con đường tất yếu hướng đến phát triển bền vững. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được kết quả bước đầu trong chuyển đổi xanh, nhưng vẫn còn không ít hạn chế, đòi hỏi có lộ trình và giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh gắn với phát triển bền vững.
Thực trạng chuyển đổi xanh ở Việt Nam hiện nay
Chuyển đổi xanh là quá trình chuyển đổi mô hình phát triển từ “nâu” - dựa trên khai thác tài nguyên, phát thải cao, tiêu tốn năng lượng, sang “xanh” - dựa trên công nghệ sạch, ít phát thải, tuần hoàn, thân thiện với môi trường và hướng đến phát triển bền vững. Chuyển đổi xanh bao trùm nhiều vấn đề, liên quan đến sự lãnh đạo, quản lý của Nhà nước và vận hành của xã hội. Trong thời gian qua, chuyển đổi xanh ở nước ta thể hiện ở một số nội dung:
Chuyển đổi thể chế
Chuyển đổi thể chế trong chuyển đổi xanh chính là chuyển đổi cơ chế, chính sách, tạo lập khuôn khổ cho chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh”; chuyển đổi từ tư duy thành hành động thực tiễn, với mục tiêu và giải pháp rõ ràng trong thực hiện chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh...
Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 1-10-2021, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, nêu rõ: “Tăng trưởng xanh là một phương thức quan trọng để thực hiện phát triển bền vững, đóng góp trực tiếp vào giảm phát thải khí nhà kính để hướng tới nền kinh tế trung hòa các-bon trong dài hạn... Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị, toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp và cơ quan, tổ chức liên quan, được thúc đẩy bằng tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, bền vững”. Trên cơ sở đó, Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh đã được ban hành. Đặc biệt, cam kết về mục tiêu của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2021 (COP26) về việc đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đã thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính và hỗ trợ quốc tế để hiện thực hóa mục tiêu này.
Bộ, ngành, địa phương trên cả nước đã tích cực xây dựng và ban hành thể chế, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phù hợp với đặc thù địa phương. Thành phố Hà Nội ban hành Quy định về quy hoạch chung xây dựng Thủ đô với khu vực hành lang xanh; tỉnh Đồng Nai đưa mục tiêu tăng trưởng xanh vào Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh,... Về cơ bản, thể chế đã được chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh”, hình thành hành lang pháp lý để thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh trên phạm vi cả nước cũng như ở từng ngành, lĩnh vực và địa phương.
Chuyển đổi năng lượng
Hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp và sự vận hành của phương tiện giao thông là tác nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường, do việc sử dụng nguồn năng lượng truyền thống, như than đá và xăng dầu. Việc chuyển đổi từ năng lượng truyền thống sang năng lượng tái tạo vừa bảo đảm giải quyết tốt vấn đề môi trường, vừa khai thác, tận dụng năng lượng tự nhiên. Việt Nam được nhiều tổ chức uy tín trên thế giới đánh giá là quốc gia có nhiều điều kiện thuận lợi và triển vọng về năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió và năng lượng mặt trời.
Từ chỗ chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng sản lượng điện, đến quý I năm 2025, năng lượng tái tạo đã chiếm 16% sản lượng điện toàn hệ thống(1). Đây là kết quả tích cực, thể hiện quyết tâm và tầm nhìn của Đảng, Nhà nước ta trong chuyển đổi năng lượng. Đối với năng lượng mặt trời, các địa phương đã chủ động khuyến khích, vận động doanh nghiệp tiến hành lắp đặt để phục vụ điện sinh hoạt, sản xuất. Tại Vĩnh Phúc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), hai doanh nghiệp lớn là Honda Việt Nam và Toyota Việt Nam đã lắp đặt hệ thống điện mặt trời, với tổng công suất hơn 6.000kWp. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 7-2023, có 80% số hệ thống năng lượng mặt trời lắp đặt tại hộ gia đình (429 hệ thống, tổng công suất hơn 27.000kWp)(2).
Ngành giao thông vận tải Việt Nam cũng tiên phong trong chuyển đổi năng lượng xanh, nhất là thông qua việc thực hiện Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí me-tan của ngành giao thông vận tải, ban hành theo Quyết định số 876/QĐ-TTg, ngày 22-7-2022, của Thủ tướng Chính phủ. Từ năm 2018, Việt Nam đã phân phối tiêu thụ trên toàn quốc xăng sinh học E5 với giá thấp hơn xăng A95 truyền thống, đồng thời có nhiều lợi ích khác, như giảm phát thải, tăng công suất, giảm tiêu hao nhiên liệu. Xe “thuần điện” của Vinfast cũng ngày càng phổ biến tại thị trường.
Chuyển đổi nông nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mô hình nông nghiệp xanh đang ngày càng được người nông dân quan tâm. Các địa phương, hợp tác xã đã tăng cường nâng cao nhận thức cho nông dân trong giảm lượng giống gieo sạ, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo “4 đúng”(3), giảm lượng phân bón vô cơ. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ - cách thức canh tác phổ biến của nông nghiệp xanh, cũng đã và đang được phát triển mạnh mẽ. Từ năm 2025, các vùng nguyên liệu hữu cơ đã bước vào giai đoạn chuyển mình rõ nét khi quá trình chuẩn hóa, tập trung hóa và gắn kết thị trường đã có đủ nền tảng chính sách và thực tiễn triển khai ở quy mô lớn(4).
Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, vận động nông dân thu gom các loại chất thải, bao bì chứa hóa chất bảo vệ thực vật vào bể chứa theo quy định cũng được quan tâm, chú trọng. Áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, thực hành sản xuất chăn nuôi tốt theo tiêu chuẩn VietGap, công nghệ cao, bảo đảm an toàn thực phẩm…
Ngành nông nghiệp Việt Nam cũng tích cực đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các nước có nền nông nghiệp tiên tiến, như Nhật Bản, Hàn Quốc và các thiết chế quốc tế, như Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD), Quỹ khí hậu xanh (GCF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),... để thu hút nguồn vốn, nhất là nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng xanh, phát triển thị trường, tiếp cận khoa học và công nghệ phục vụ cho mục tiêu phát triển của ngành; tạo điều kiện kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài trong phát triển chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản, thực phẩm xanh.
Chuyển đổi tín dụng, đầu tư
Trong những năm qua, hoạt động tín dụng xanh tại Việt Nam đã đạt được kết quả đáng ghi nhận. Giai đoạn 2017 - 2023, dư nợ cấp tín dụng xanh của hệ thống tăng trưởng bình quân hơn 22% mỗi năm. Tính đến ngày 31-12-2023, đã có 47 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, với dư nợ đạt 620.984 tỷ đồng, tăng 24% so với cuối năm 2022 và chiếm khoảng 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Chỉ tính riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), từ năm 2006 đã triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô tối thiểu 50.000 tỷ đồng phục vụ sản xuất “nông nghiệp sạch” vì sức khỏe cộng đồng.
Các khoản tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (gần 45%) và nông nghiệp xanh (gần 30%). Nhiều tổ chức tín dụng đã xây dựng gói tín dụng xanh và chương trình tín dụng xanh phù hợp với hoạt động kinh doanh và quá trình chuyển đổi xanh. Đến ngày 31-12-2023, dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt 2,84 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 20% tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế, tăng hơn 20% so với cuối năm 2022(5). Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2019 - 2023, Việt Nam đã phát hành khoảng 1,16 tỷ USD trái phiếu xanh. Kết quả này cho thấy nỗ lực và cam kết của tổ chức tín dụng trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh, góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.
Chuyển đổi lối sống
Người dân là chủ thể đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh, là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững, trực tiếp tác động cũng như thụ hưởng những thành quả từ lối sống xanh. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của chủ thể này, nhiều phong trào quan trọng về bảo vệ môi trường đã được phát động, như phong trào chống rác thải nhựa, với mô hình “Thùng rác công cộng”, “Khu dân cư phân loại rác”, “Ngôi nhà thu gom rác thải nhựa”, “Chợ giảm túi nilon”, “Đô thị giảm nhựa”, “Góc xanh thanh niên”, “Đổi rác lấy quà”...; Chương trình dán nhãn sinh thái, nhãn xanh năng lượng Việt Nam, khuyến khích doanh nghiệp thiết kế sản phẩm và tiến hành hoạt động theo hướng giảm tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường, đồng thời hình thành thị trường bền vững cho sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường qua cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và tiêu dùng... Đối với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, xanh hóa môi trường công sở trở thành xu hướng rộng rãi.
Xu hướng tiêu dùng xanh tại Việt Nam cũng phát triển mạnh trong những năm gần đây. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới tiêu dùng thông minh, bền vững cũng như sử dụng sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường ngay từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ và sử dụng sản phẩm. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, người dân và nhà đầu tư đã chuyển dần thói quen mua sắm bằng các kênh tiêu dùng “xanh” và ưu tiên lựa chọn sản phẩm góp phần bảo vệ sức khỏe.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực, chuyển đổi xanh ở Việt Nam đang đứng trước một số vấn đề cần quan tâm giải quyết:
Một là, thể chế chuyển đổi xanh cơ bản hình thành, tạo khung pháp lý nhất định, nhưng chưa đầy đủ, đôi lúc còn chậm trễ so với thực tiễn yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, từ thể chế tới hành động vẫn còn nhiều bất cập, nhất là hành động hiệu quả trong chuyển đổi xanh từ trung ương đến địa phương.
Hai là, năng lượng tái tạo hiện vẫn chiếm tỷ trọng tương đối thấp. Trong quý I năm 2025, mặc dù năng lượng tái tạo đã tăng tới 16% tổng sản lượng điện của cả nước, nhưng vẫn còn thấp so với nguồn cung năng lượng chủ yếu là nhiệt điện than (chiếm tỷ trọng 56,5%)(6).
Ba là, việc ứng dụng mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn đòi hỏi công nghệ hiện đại, dẫn tới chi phí đầu tư lớn. Đây là rào cản lớn đối với tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam.
Bốn là, còn thiếu thống nhất trong quy định cụ thể về danh mục, ngành, lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) xanh tại Việt Nam. Khung pháp lý chưa thực sự đầy đủ để quản lý và thúc đẩy phát triển fintech xanh. Việc thiếu định nghĩa và tiêu chuẩn chuẩn hóa cũng như chính sách thúc đẩy fintech xanh chưa được áp dụng một cách đồng bộ khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thực hiện quy định, đồng thời tạo tâm lý e ngại ở nhà đầu tư và người dùng.
Năm là, sự phối hợp của bộ, ngành, địa phương có nơi, có lúc chưa hiệu quả, dẫn đến khó khăn nhất định đối với doanh nghiệp; kết cấu hạ tầng phục vụ, hỗ trợ kinh tế xanh chưa được phát triển đồng bộ tại một số địa bàn, khu vực, gây ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Sáu là, nhiều nông dân còn lúng túng trong áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ, sản phẩm còn hạn chế về khả năng cạnh tranh, dẫn đến thu nhập của đa số nông dân còn bấp bênh, chậm được cải thiện.
Bảy là, ý thức bảo vệ môi trường, lối sống xanh, tiêu dùng xanh chưa trở thành nếp sống, văn hóa trong nhân dân...
Việc chuyển đổi xanh ở Việt Nam đứng trước cơ hội và thách thức sau:
Về cơ hội
Lợi thế quốc gia đi sau: Mặc dù Việt Nam là nước đi sau, tiếp cận chuyển đổi xanh muộn hơn so với một số quốc gia trên thế giới, song với tiềm lực và vị thế đạt được sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển một nền kinh tế xanh toàn diện, hướng tới sự phát triển bền vững, đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững.
Quyết tâm chính trị cao và sự hỗ trợ từ quốc tế: Với chủ trương “không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”, Việt Nam đề ra mục tiêu tổng quát, xác định chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh phải góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được sự thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa các-bon và đóng góp vào mục tiêu giảm sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu. Từ mục tiêu và quyết tâm đó, Việt Nam đã tập trung thực hiện nhiều giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, thực hiện cam kết trung hòa các-bon... Chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế xanh cũng được xác định là lĩnh vực đột phá trong hợp tác quốc tế, là cam kết chung của Việt Nam - EU. Đây là động lực và là kinh nghiệm quý để Việt Nam kiên trì theo đuổi mục tiêu phát triển kinh tế xanh, bền vững và trung hòa các-bon vào năm 2050.
Sự chuẩn bị kỹ lưỡng nguồn nhân lực xanh: Sự hình thành và vận hành của nền kinh tế xanh đặt ra yêu cầu và đòi hỏi sự nỗ lực chung của mỗi cá nhân, doanh nghiệp, địa phương trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm và thực hiện hiệu quả kế hoạch, chương trình chuyển đổi xanh, phát triển bền vững. Thiếu nguồn nhân lực xanh không chỉ làm giảm hiệu quả sản xuất và đầu tư xanh, mà còn làm triệt tiêu niềm tin của xã hội vào chuyển đổi xanh. Hiểu rõ điều đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã tăng cường đào tạo nguồn nhân lực để đẩy mạnh chuyển đổi xanh, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngành, nghề gắn kết với phát triển nền kinh tế tuần hoàn, tạo nền tảng cho phát triển nhân lực xanh. Đặc biệt, có nhiều chương trình, sáng kiến mang tính tiên phong hướng tới phát triển bền vững, trong đó đáng chú ý là chương trình đào tạo nghề xanh, thúc đẩy kỹ năng số và tư duy thích ứng trong giới trẻ.
Về thách thức
Thách thức về đổi mới tư duy, nhận thức và hành vi ứng xử của các cá nhân, cộng đồng về chuyển đổi xanh. Trong xã hội, vẫn còn quan niệm coi phát triển xanh là nhiệm vụ của Nhà nước, dẫn đến việc chưa gắn chặt quyền lợi, trách nhiệm của mỗi người dân và doanh nghiệp. Không ít người cho rằng, lựa chọn sản phẩm xanh, công nghệ xanh đồng nghĩa với chi phí cao hơn, trong khi lợi ích lâu dài về kinh tế, sức khỏe và môi trường chưa được nhìn nhận một cách đầy đủ. Thói quen tiêu dùng, sản xuất truyền thống, cùng với tâm lý ngại thay đổi khiến việc áp dụng giải pháp thân thiện môi trường gặp nhiều rào cản. Ngoài ra, sự khác biệt về trình độ dân trí, thu nhập của người dân ở các vùng, miền cũng làm gia tăng khoảng cách trong tiếp cận và thực hành lối sống xanh. Chính vì vậy, đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức cần được coi là giải pháp mang tính nền tảng.
Yêu cầu lớn về vốn đầu tư: Theo nhiều nghiên cứu, có hai con đường chính để thực hiện việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh. Các nước phát triển có điều kiện tài chính, nguồn nhân lực và công nghệ có thể chuyển sang nền kinh tế xanh thông qua đầu tư, phát triển những lĩnh vực mới trong nền kinh tế nhằm thúc đẩy xã hội phát triển, môi trường bền vững; trong khi đó, các nền kinh tế đang phát triển phải tốn nhiều chi phí và thời gian hơn khi phải điều chỉnh dần để cơ cấu lại nền kinh tế truyền thống trở nên thân thiện hơn với môi trường. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2022, nhu cầu tài chính tăng thêm để Việt Nam xây dựng khả năng chống chịu và giảm phát thải khí nhà kính giai đoạn 2022 - 2040 lên đến 368 tỷ USD, trong đó việc thích ứng chiếm 4,7% và khử các-bon chiếm 2,1% GDP mỗi năm. Trong tổng số 368 tỷ USD, nguồn lực tài chính đến từ khu vực tư nhân chiếm gần 50% với 184 tỷ USD, nguồn từ khu vực công là 130 tỷ USD, 54 tỷ USD còn lại là nguồn lực từ bên ngoài(7).
Sự thiếu sẵn sàng của doanh nghiệp Việt Nam: Bộ tiêu chuẩn để đo lường yếu tố liên quan đến phát triển bền vững và ảnh hưởng, tác động của doanh nghiệp đến cộng đồng ESG (Environmental - Môi trường; Social - Xã hội và Governance - Quản trị) cũng là một thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi 57% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã xây dựng cam kết rõ ràng về ESG, thì 58% doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang tiếp cận theo hướng “quan sát và chờ đợi”. Điều này phần lớn là do hạn chế về nguồn lực, công nghệ lạc hậu, thiếu kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong chuyển đổi xanh cho toàn bộ máy vận hành(8).
Chưa rõ ràng, chuyên nghiệp trong thực hiện chuyển đổi xanh: Để thực hiện mục tiêu xanh hóa, bất kỳ ngành, lĩnh vực hay hoạt động nào đều cần có lộ trình, kế hoạch, điều kiện cần và đủ... Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, vẫn có nhiều bất cập giữa quyết tâm và hành động thực hiện chuyển đổi xanh. Yêu cầu đặt ra là trước hết Việt Nam làm rõ mục tiêu chuyển đổi xanh, gắn với tiêu chí phát triển bền vững, bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân,...
Lộ trình chuyển đổi xanh và một số giải pháp hướng đến phát triển bền vững ở Việt Nam
Lộ trình chuyển đổi xanh
Để hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam cần một lộ trình chuyển đổi xanh toàn diện, có bước đi phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa khung chính sách, đổi mới công nghệ, nguồn lực tài chính và sự tham gia tích cực của toàn xã hội.
Trong ngắn hạn, đến năm 2030, nhiệm vụ quan trọng nhất là hoàn thiện khung pháp lý để tạo nền tảng cho kinh tế xanh vận hành, bao gồm việc ban hành và thực thi đồng bộ cơ chế, chính sách về kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh, tín dụng xanh, thị trường trái phiếu xanh, cùng với việc chuẩn hóa hệ thống kế toán các-bon để đo lường và quản lý phát thải. Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, ngày 7-1-2022, của Chính phủ, về Quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã bước đầu tạo hành lang pháp lý cho thị trường tín chỉ các-bon, song trong giai đoạn tới cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế vận hành thị trường trong nước, đồng thời tăng cường kết nối với thị trường quốc tế. Song song với đó, Việt Nam cần đẩy mạnh đầu tư vào năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, cùng với phát triển hệ thống hạ tầng xanh, đô thị bền vững và giao thông công cộng thân thiện với môi trường. Chính sách thuế, tín dụng nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, năng lượng tái tạo phải được áp dụng rộng rãi, nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia tích cực vào tiến trình chuyển đổi xanh.
Trong trung hạn, từ năm 2030 đến 2045, trọng tâm chuyển đổi cần đặt vào việc cơ cấu lại ngành công nghiệp và nền kinh tế theo hướng phát thải thấp và hàm lượng công nghệ cao. Các ngành công nghiệp nặng truyền thống, như thép, xi măng, hóa chất phải áp dụng công nghệ tiên tiến, quy trình sản xuất sạch hơn, sử dụng vật liệu tái chế và năng lượng tái tạo để giảm phát thải. Đồng thời, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp thông minh trở thành động lực tăng trưởng mới. Ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý năng lượng, chuỗi cung ứng xanh, sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tác động đối với môi trường. Hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao với năng lượng sạch và công nghiệp xanh để lan tỏa ra toàn nền kinh tế.
Trong dài hạn, đến năm 2050, mục tiêu là hoàn thiện hệ sinh thái kinh tế xanh, với năng lượng sạch chiếm trên 80% tổng công suất; các ngành công nghiệp được vận hành dựa trên công nghệ các-bon thấp, đô thị thông minh phát triển đồng bộ, giao thông xanh trở thành phương thức chủ đạo. Hệ sinh thái này không chỉ bao gồm hạ tầng năng lượng và công nghiệp, mà còn phải gắn liền với một xã hội tiêu dùng xanh, trong đó hành vi, lối sống của người dân hướng đến tiết kiệm năng lượng, giảm chất thải nhựa, ưu tiên sản phẩm thân thiện với môi trường. Đây cũng là giai đoạn quyết định để Việt Nam đạt mục tiêu cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Như vậy, lộ trình chuyển đổi xanh của Việt Nam phải được triển khai theo hướng tuần tự, nhưng có bước đột phá, với sự kết hợp giữa mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Mỗi giai đoạn đều có trọng tâm riêng, nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là xây dựng một nền kinh tế các-bon thấp, hiện đại, bền vững và khả năng cạnh tranh cao trong môi trường toàn cầu hóa. Đây không chỉ là yêu cầu cấp bách của thời đại, mà còn là sự lựa chọn chiến lược để bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh môi trường và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thế kỷ XXI.
Giải pháp thúc đẩy chuyển đổi xanh
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, để thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng đến phát triển bền vững ở Việt Nam, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách tổng thể về chuyển đổi xanh, hình thành hệ sinh thái chuyển đổi xanh, tạo cơ chế gắn bó mật thiết giữa các chủ thể liên quan trong chuyển đổi xanh. Cần nghiên cứu ban hành nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị về chuyển đổi xanh. Tích hợp nội dung chuyển đổi xanh vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả ngành, lĩnh vực, địa phương và tổ chức thực hiện nghiêm trong thực tiễn.
Thứ hai, tăng cường nhận thức và hành động trong quyết tâm thực hiện chuyển đổi xanh. Gắn chuyển đổi xanh với hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam, trở thành chuẩn mực văn minh của thời đại mới. Đẩy mạnh tuyên truyền về chuyển đổi xanh trong cơ sở giáo dục và đào tạo để nâng cao nhận thức của học sinh, sinh viên; đồng thời, phát động phong trào xanh hóa trong gia đình, nâng cao ý thức thu gom rác thải, hình thành lối sống sinh hoạt xanh, sạch, đẹp của người dân... Đối với doanh nghiệp, phát triển thương hiệu xanh không chỉ là vấn đề đạo đức, mà phải trở thành “luật chơi” mới. Ban hành các chính sách ưu đãi thuế và đầu tư để khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, có dự án tác động tích cực đối với môi trường.
Thứ ba, xây dựng quỹ hỗ trợ để đầu tư vào dự án năng lượng tái tạo và công nghệ xanh, quản lý tài nguyên và giảm thiểu chất thải. Quỹ này có thể được tài trợ bằng nguồn tài trợ từ cả trong nước và quốc tế. Đồng thời, thành lập Quỹ phát triển xanh để bảo lãnh cho doanh nghiệp thực sự có dự án xanh. Số trái phiếu được phát hành dài hạn, lãi suất thấp, có bảo lãnh từ quỹ sẽ tạo được niềm tin cho nhà đầu tư góp vốn. Có kế hoạch chuẩn bị nguồn nhân lực cho chuyển đổi xanh thông qua đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đầu tư vào nguồn lực con người thông qua hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài, tận dụng nguồn hỗ trợ đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, như “Chương trình quốc gia về nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam”; “Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia”; “Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia”; “Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia”... Tăng cường đào tạo ngành, nghề xanh, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản trị điều hành về chuyển đổi xanh, tăng trưởng xanh.
Thứ tư, xác định rõ trọng tâm trong từng ngành, lĩnh vực để có chiến lược chuyển đổi xanh thực chất, hiệu quả. Đối với ngành năng lượng, tiếp tục tạo hành lang pháp lý đủ mạnh và cơ chế tối ưu để nghiên cứu công nghệ nhiên liệu xanh, như hydrogen xanh, amoniac, nhiên liệu sinh học...; thúc đẩy quá trình xanh hóa trong sản xuất, kinh doanh trên cơ sở khuyến khích doanh nghiệp sử dụng năng lượng tái tạo thông qua mô hình xây dựng - cho thuê - chuyển giao BLT (Build - Lease - Transfer) đã được triển khai ở một số quốc gia, nhằm giúp doanh nghiệp sử dụng điện sạch với chi phí thấp(9). Xác định danh mục và quy chuẩn triển khai giải pháp kỹ thuật để quản lý môi trường, gắn với hoạt động công nghiệp, xanh hóa sản xuất, thay đổi lối sống, tiêu dùng. Xử lý triệt để “điểm đen” ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí tại đô thị, ô nhiễm nguồn nước... Tích cực chuyển đổi sang sử dụng phương tiện giao thông công cộng dùng nhiên liệu sạch; có chiến lược rõ ràng trong phát triển ngành sản xuất phương tiện giao thông điện, sử dụng nhiên liệu xanh. Quy hoạch và phát triển đô thị theo hướng thông minh, hiện đại, có năng lực chống chịu với biến đổi khí hậu, rà soát hạ tầng kỹ thuật đô thị, như hệ thống xử lý nước thải, rác, thiết bị chiếu sáng, cây xanh. Triển khai nông nghiệp xanh quy mô lớn trên cơ sở kế thừa thành tựu của quá trình tích tụ ruộng đất, hình thành trang trại sản xuất xanh quy mô lớn, khu chăn nuôi tập trung hiện đại; thí điểm công nghệ mới trong chăn nuôi, trồng trọt, chế biến nông, lâm, thủy sản.
Thứ năm, tiến hành hiệu quả, đồng bộ, thống nhất xu hướng “chuyển đổi kép” - chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, đặt chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào trọng tâm phát triển của tất cả ngành, lĩnh vực. Xác định chuyển đổi số, chuyển đổi xanh là mục tiêu, định hướng, xu thế phát triển của đất nước, là con đường để Việt Nam đạt đến sự thịnh vượng. Khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân trong tìm tòi giải pháp, phương pháp mới để vận dụng vào thực tiễn; kết hợp chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong phát triển kinh tế - xã hội. Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nhất là doanh nghiệp khởi nghiệp, trên tinh thần chấp nhận rủi ro, chấp nhận mạo hiểm./.
--------------------------
(1) Xem: Lan Anh: “Quý I/2025, năng lượng tái tạo chiếm 16% tổng sản lượng điện toàn hệ thống”, Tạp chí điện tử Năng lượng sạch Việt Nam, ngày 4-4-2025, https://nangluongsachvietnam.vn/d6/vi-VN/news/Quy-I2025-nang-luong-tai-tao-chiem-16-tong-san-luong-dien-toan-he-thong-6-8-28130
(2) Xem: Lã Hồng Kỳ: “Hiện trạng và giải pháp phát triển điện mặt trời mái nhà”, Tạp chí Môi trường điện tử, ngày 16-4-2024, https://tapchimoitruong.vn/chuyen-muc-3/hien-trang-va-giai-phap-phat-trien-dien-mat-troi-mai-nha-29881
(3) 4 đúng: 1- Đúng thuốc (chọn đúng loại thuốc phù hợp với đối tượng và mức độ gây hại); 2- Đúng lúc (phun thuốc vào thời điểm sinh vật gây hại dễ bị tiêu diệt nhất); 3- Đúng liều lượng, nồng độ (dùng thuốc đủ mạnh, nhưng không được gây độc); 4- Đúng cách (sử dụng đúng kỹ thuật, phương pháp và quy trình an toàn)
(4) Xem: Thu Huyền: “Những dấu ấn của nông nghiệp hữu cơ Việt Nam năm 2025”, Tạp chí điện tử Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, https://nongnghiephuuco.vn/nhung-dau-an-cua-nong-nghiep-huu-co-viet-nam-nam-2025-10945.html
(5) Xem: Anh Minh: “Khẩn trương gỡ vướng về cơ chế để phát triển tín dụng xanh, trái phiếu xanh”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 3-4-2024, https://baochinhphu.vn/khan-truonggo-vuong-ve-co-che-de-phat-trien-tin-dung-xanh-trai-phieu-xanh-102240403163357905.htm
(6) Xem: Lan Anh: “Quý I/2025, năng lượng tái tạo chiếm 16% tổng sản lượng điện toàn hệ thống”, Tlđd
(7) Xem: Nguyệt Hà: “Doanh nghiệp chuyển đổi xanh “vấp” phải 3 thách thức lớn”, Tạp chí VnEconomy điện tử, ngày 6-8-2024, https://vneconomy.vn/doanh-nghiep-chuyen-doi-xanh-vap-phai-3-thach-thuc-lon.htm
(8) Xem: Báo cáo “Mức độ sẵn sàng thực hành ESG” của PwC, ngày 21-3-2023
(9) Xem: Phan Thị Sông Thương, Nguyễn Tất Trường: “Một số vấn đề về phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, tiềm năng và hàm ý giải pháp”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 28-3-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/906102/mot-so-van-de-ve-phat-trien-nang-luong-tai-tao-o-viet-nam-hien-nay--thuc-trang,-tiem-nang-va-ham-y-giai-phap.aspx
Kinh nghiệm của Bhutan trong thực hiện mục tiêu hạnh phúc và một số gợi mở đối với Việt Nam  (01/03/2026)
Phát triển bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Quảng Ninh - thực trạng và những vấn đề đặt ra  (29/12/2025)
Thu hút đầu tư cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững  (18/12/2025)
Tập trung phát triển các đảo ven bờ tỉnh Quảng Ninh - Hướng tới xây dựng trung tâm kinh tế biển hiện đại và phát triển bền vững  (01/12/2025)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Thanh thiếu niên hai nước tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước*
- Giá trị văn hóa trong phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Hồng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm