Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
TCCS - Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề cập đến nhiệm vụ xây dựng đồng bộ thể chế phát triển tổng hợp về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái. Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Nhận thức chung về bản chất, đặc điểm của thể chế phát triển văn hóa
Thể chế phát triển văn hóa (gọi tắt là thể chế văn hóa) có những đặc điểm chung và đặc điểm riêng so với thể chế phát triển nói chung, thể chế phát triển các lĩnh vực khác. Trên thực tế, thể chế phát triển văn hóa là một bộ phận hợp thành hữu cơ (hay một thể chế thành phần) của thể chế phát triển tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội. Có thể hiểu, thể chế phát triển là phương thức vận hành (vận động) của một cấu trúc xã hội, trong đó các chủ thể hoạt động và tương tác với nhau theo những quy định (quy tắc) xác định, trong những môi trường cụ thể (một lĩnh vực cụ thể hay tổng hợp nhiều lĩnh vực), nhằm đưa cấu trúc xã hội đó vào một trạng thái - trình độ phát triển nào đó với những mục tiêu đặt ra. Như vậy, thể chế phát triển là một cấu trúc đồng bộ bởi 3 thành tố chính: (i) Các chủ thể tham gia (gọi là “người chơi”); (ii) Khung khổ pháp luật, cơ chế, chính sách để các chủ thể hoạt động (gọi là “luật chơi”); (iii) Nội dung và môi trường (lĩnh vực) mà các chủ thể hoạt động (gọi là “sân chơi”).
Như vậy, thể chế là sự vận hành đồng bộ của một cấu trúc xã hội, trong đó bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa “người chơi”, “luật chơi” và “sân chơi”. Quan niệm đó cho phép nhìn nhận thể chế trong sự vận động, phát triển. Nội dung cốt lõi của thể chế phát triển là chế định đồng bộ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm giải trình của tất cả các chủ thể liên quan phù hợp với từng lĩnh vực và trình độ phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Từ khái niệm chung về thể chế phát triển, có thể thấy, thể chế phát triển văn hóa cũng có cấu trúc cơ bản, gồm các chủ thể tham gia liên quan đến hoạt động văn hóa, khung pháp lý cho hoạt động của các chủ thể, cho sự vận hành các hoạt động văn hóa và nội dung (lĩnh vực) văn hóa, trong đó các chủ thể hoạt động theo khung pháp lý quy định. Cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có quan niệm chính thức, thống nhất về thể chế phát triển văn hóa. Hiện nay, trong giới nghiên cứu khoa học và quản lý có đề cập nhiều đến thể chế phát triển văn hóa, tuy nhiên, đang có những quan niệm khác nhau.
Có thể khái quát thành ba loại quan niệm chủ yếu sau: (1) Thể chế phát triển văn hóa là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa; (2) Thể chế phát triển văn hóa là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa và gắn với đó là hệ thống các tổ chức, đơn vị hoạt động văn hóa; (3) Đồng nhất thể chế văn hóa với hệ thống các thiết chế văn hóa. Rõ ràng, những quan niệm đó về thể chế phát triển văn hóa chưa đầy đủ (so với nội hàm khái niệm thể chế phát triển nêu trên).
Có thể đưa ra khái niệm thể chế phát triển văn hóa (gọi tắt là thể chế văn hóa) như sau: Thể chế phát triển văn hóa là phương thức vận hành của một cấu trúc xã hội hữu cơ gồm hệ thống các chủ thể tham gia (liên quan) đến hoạt động văn hóa, trong đó các chủ thể hoạt động và tương tác với nhau theo những khung khổ pháp lý xác định, trong những môi trường (lĩnh vực) hoạt động văn hóa xác định, nhằm tạo được động lực phát triển văn hóa, đạt được những mục tiêu đặt ra. Quan niệm trên cho phép nhìn nhận thể chế văn hóa như một cấu trúc văn hóa - xã hội trong sự vận động, phát triển, trong đó sự tương tác hữu cơ giữa các chủ thể liên quan với nhau theo một hệ thống các quy định (quy tắc) xác định, nhằm đạt mục tiêu đặt ra.
Thể chế văn hóa có những đặc điểm chung của thể chế phát triển, đồng thời, do đặc điểm và tính chất của hoạt động văn hóa, thể chế văn hóa có những đặc điểm riêng sau:
Một là, thể chế văn hóa liên quan trực tiếp đến lĩnh vực đời sống tinh thần, hoạt động xã hội và sản xuất của tất cả các chủ thể trong xã hội và toàn xã hội; chứa đựng những giá trị phát triển cốt lõi, tạo động lực nội sinh cho sự phát triển. Trọng tâm của thể chế văn hóa phải hướng tới, thúc đẩy phát triển, kích hoạt và phát huy cao các giá trị văn hóa, xã hội, con người, góp phần tạo động lực phát triển (của cá nhân, gia đình, tập thể, đơn vị, cộng đồng dân cư và của cả dân tộc) trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hai là, do liên quan trực tiếp đến phát huy năng lực sáng tạo, lan tỏa các giá trị trong hoạt động văn hóa, nên thể chế văn hóa phải tạo được không gian và môi trường tự do sáng tạo phù hợp trong hoạt động văn hóa của tất các chủ thể; đồng thời, phải hạn chế, khắc phục tác động tiêu cực trong các hoạt động văn hóa.
Ba là, do liên quan đến phát huy trí tuệ sáng tạo của con người - lĩnh vực tinh thần, tư tưởng, đạo đức, nên thể chế văn hóa phải đề cao phát triển giá trị con người, giá trị sáng tạo, giá trị xã hội, giá trị cộng đồng, giá trị quốc gia - dân tộc, đặc biệt là những giá trị phát triển đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.
Bốn là, sức mạnh nội sinh của văn hóa được thể hiện không chỉ ở giá trị phát triển của từng chủ thể cụ thể, từng đơn vị cụ thể, mà còn được thể hiện ở sự liên kết - kết nối - tích hợp thành giá trị phát triển của cộng đồng, của của quốc gia - dân tộc. Do đó, thể chế văn hóa còn là cơ chế kết nối, tích hợp, nâng tầm các giá trị phát triển của các chủ thể thành giá trị phát triển chung.
Năm là, sự phát triển văn hóa của một quốc gia trong mỗi giai đoạn đều luôn chứa đựng sự “tương tác”, “sự đấu tranh”, “sự chuyển hóa” giữa các giá trị truyền thống, các giá trị chủ đạo hiện tại với các giá trị mới (là nhân tố thúc đẩy sự phát triển đáp ứng với yêu cầu mới). Thể chế văn hóa phải tạo được cơ chế để phát huy cao, tích hợp được các mặt tích cực của các giá trị trên, phát triển mạnh, phù hợp, hiệu quả các giá trị mới, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển.
Sáu là, văn hóa (các giá trị văn hóa) ngày càng trở thành một nhân tố hữu cơ, động lực bên trong góp phần điều tiết sự phát triển của tất cả các lĩnh vực trong xã hội; vì vậy, thể chế văn hóa không đơn thuần là thể chế về phát triển các lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật theo nghĩa hẹp; mà phải là một thể chế tổng hợp, kết nối sự phát triển giá trị văn hóa với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái… trong tất cả các lĩnh vực.
Bảy là, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, có hoạt động văn hóa vừa mang giá trị lợi ích chung của toàn xã hội (phúc lợi xã hội chung), có những hoạt động lại mang tính chất dịch vụ, hàng hóa. Thể chế văn hóa cũng chứa đựng những yếu tố của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, do liên quan trực tiếp đến giá trị con người, giá trị tinh thần, tư tưởng, đạo đức, truyền thống dân tộc, nên thể chế văn hóa không hoàn toàn tuân theo quy luật của thị trường như trong lĩnh vực kinh tế mà chứa đựng mối quan hệ đặc thù giữa Nhà nước, cơ chế thị trường và xã hội (các chủ thể tham gia hoạt động và thụ hưởng văn hóa).
Tám là, để tạo động lực phát triển bền vững, thể chế văn hóa phải tạo được cơ chế gắn kết hài hòa các giá trị về tinh thần, tư tưởng, đạo đức, lối sống của tất cả các chủ thể với các giá trị lợi ích (lợi ích kinh tế và các lợi ích khác), sự chia sẻ về trách nhiệm và lợi ích giữa các chủ thể liên quan; giữa cá nhân với tập thể, đơn vị, cộng đồng và quốc gia - dân tộc.
Chín là, trong điều kiện kinh tế thị trường, thể chế văn hóa không chỉ chứa đựng những nhân tố thuần túy về văn hóa, mà còn chứa đựng nhân tố về kinh tế như một thành tố hữu cơ (bên trong) của phát triển văn hóa, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội (như phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa); tạo nên mối quan hệ đặc thù giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển.
Mười là, trong thể chế văn hóa, mỗi chủ thể có vai trò và chức năng khác nhau, trong đó Nhà nước là một chủ thể (người chơi) có vị trí đặc biệt về tư cách đa diện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong thể chế nhà nước pháp quyền, Nhà nước đồng thời “đóng nhiều tư cách” trong thể chế văn hóa: Người quyết định “luật chơi”, người quản lý - tổ chức thực thi “luật chơi”, người kiểm soát quá trình thực thi “luật chơi”, người đầu tư phát triển các nguồn lực văn hóa, là “người chơi” khi thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với các chủ thể khác và toàn xã hội trong thực thi các “luật chơi” về phát triển văn hóa.
Mười một là, trong điều kiện kinh tế thị trường, xét theo mức độ tiếp cận cơ chế thị trường, các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa với nhiều cấp độ khác nhau: Hoàn toàn mang tính chất cộng đồng - xã hội, không vì lợi nhuận, “bán” vì lợi nhuận (không hoàn toàn theo cơ chế thị trường), vì lợi nhuận (hoàn toàn theo cơ chế thị trường). Thể chế văn hóa phải có cơ chế phù hợp bao quát đầy đủ các cấp độ này, để thúc đẩy phát triển hiệu quả các lĩnh vực, loại hình, chủ thể hoạt động văn hóa.
Mười hai là, tính chất và trình độ của thể chế văn hóa phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm hoạt động văn hóa (chung và từng lĩnh vực), trình độ phát triển văn hóa và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mức độ hội nhập quốc tế.
Mười ba là, mục tiêu bao trùm của phát triển văn hóa là xây dựng một nền văn hóa “tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, “dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học”, góp phần tạo động lực nội sinh cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững. Vì vậy, thể chế văn hóa, về bản chất, phải là thể chế tạo động lực phát triển cả về giá trị con người, giá trị đạo đức - xã hội, giá trị kinh tế, giá trị môi trường sinh thái.
Mười bốn là, thể chế phát triển văn hóa chứa đựng hai thành tố cơ bản, đó là: (i) Thể chế chính thức, bao gồm toàn bộ chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa (các lĩnh vực văn hóa) của Nhà nước; các chế định này mang tính pháp lý mà tất cả các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa (trực tiếp hay gián tiếp, sáng tạo văn hóa hay thụ hưởng văn hóa) đều phải tuân theo. (ii) Các thể chế phi chính thức, bao gồm các “khế ước xã hội”, thỏa thuận xã hội, chuẩn mực xã hội, thể hiện ý chí chung của toàn thể cộng đồng, được toàn thể cộng đồng công nhận, coi đó là những giá trị điều tiết mọi hành vi, hoạt động, ứng xử chung của cộng đồng, của mỗi đơn vị, cá nhân. Trong văn hóa, thể chế phi chính thức thường tồn tại dưới dạng các giá trị đạo đức, ứng xử, hương ước, tập tục. Phần lớn các thể chế phi chính thức thường hướng tới bảo vệ các giá trị truyền thống; các giá trị này có thể mang yếu tố tích cực đối với quá trình phát triển, nhưng trong nhiều trường hợp cũng mang các yếu tố tiêu cực.
Trong quá trình phát triển, thể chế chính thức và thể chế phi chính thức luôn có mối quan hệ, tương tác hữu cơ với nhau: Thể chế chính thức có vai trò “bảo vệ”, hỗ trợ cho thể chế phi chính thức khi các thể chế phi chính thức hướng tới thúc đẩy phát triển các giá trị tích cực; ngược lại, thể chế chính thức sẽ có vai trò hạn chế, triệt tiêu các tác động tiêu cực do thể chế phi chính thức tạo ra. Trong thực tiễn, để lan tỏa sâu rộng các giá trị văn hóa trong xã hội, tạo thành sức mạnh nội sinh, các thể chế chính thức cũng thường “kết nối” với các thể chế phi chính thức để tạo cơ chế phát triển sâu rộng và hiệu quả hơn.
Mười lăm là, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự phát triển kinh tế và phát triển văn hóa không thể chỉ xem xét “độc lập tương đối” và “tương tác với nhau” của hai lĩnh vực này. Trên thực tế, phát triển kinh tế và phát triển văn hóa “thẩm thấu”, đan xen nhau, trở thành nội dung bản chất “của nhau” trong quá trình phát triển. Do đó, trong thể chế phát triển kinh tế sẽ phải bao hàm nội dung, mục tiêu và cơ chế phát triển các giá trị văn hóa; ngược lại, trong thể chế phát triển văn hóa phải bao hàm nội dung, mục tiêu và cơ chế phát triển các giá trị kinh tế (theo những yêu cầu và cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào từng lĩnh vực văn hóa). Điều này được thể hiện rõ ở phát triển văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, văn hóa sản xuất - kinh doanh, được thể hiện ở giá trị thương hiệu sản phẩm, dịch vụ đưa ra thị trường, thể hiện trong chất lượng sản phẩm, chữ tín, uy tín, lòng tin của xã hội đối với doanh nghiệp; cao hơn nữa còn thể hiện giá trị, uy tín, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, của cả quốc gia - dân tộc.
Trong thể chế phát triển tổng hợp của một đất nước, thể chế văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện ở những phương diện chủ yếu sau:
(1) Thể chế văn hóa xác định đường lối, chiến lược, mô hình, mục tiêu phát triển văn hóa phù hợp trong từng giai đoạn, trong từng lĩnh vực; hướng tới phát triển các giá trị con người, giá trị xã hội tốt đẹp, lành mạnh.
(2) Thể chế văn hóa xác lập nền tảng pháp lý cho cấu trúc và vận hành của hệ thống tổ chức, các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa của một quốc gia; xác lập cơ chế phát triển, cơ chế lan tỏa, “thẩm thấu” trở thành động lực nội sinh trong tất cả các chủ thể, các lĩnh vực.
(3) Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý, điều kiện và môi trường thúc đẩy phát triển tư duy và năng lực đổi mới sáng tạo trong phát triển văn hóa - hạt nhân cốt lõi tạo nên động lực phát triển văn hóa của tất cả các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa ở các cấp độ khác nhau (cá nhân, gia đình, đơn vị, cộng đồng, tập thể, lĩnh vực, quốc gia…).
(4) Thể chế văn hóa xác lập địa vị, vai trò, trách nhiệm, quyền và lợi ích, trách nhiệm xã hội của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa trong quá trình phát triển, nhất là vai trò của Nhà nước, các tổ chức, các cá nhân tham gia hoạt động văn hóa. Tạo lập khung pháp lý và điều kiện để kiến tạo và phát triển năng lực sáng tạo văn hóa của các chủ thể; liên kết các chủ thể, các nguồn lực, các yếu tố theo những mô hình phát triển văn hóa có hiệu quả.
(5) Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý và cơ chế hiện thực hóa mối quan hệ mang tính đặc thù giữa Nhà nước - thị trường - các chủ thể hoạt động văn hóa (chung và trong từng lĩnh vực); phát huy hiệu quả vai trò của Nhà nước, vai trò của cơ chế thị trường, vai trò của các chủ thể hoạt động văn hóa và vai trò của xã hội để tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển văn hóa theo đúng định hướng. Tạo lập môi trường lành mạnh, bình đẳng, minh bạch, phù hợp, hiệu quả đối với các chủ thể hoạt động văn hóa trong từng lĩnh vực; thúc đẩy phát triển hiệu quả thị trường văn hóa, công nghiệp văn hóa.
(6) Thể chế văn hóa xác lập đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên kết hữu cơ giữa phát triển văn hóa với phát triển các lĩnh vực khác của xã hội, nhất là trong kinh tế, chính trị, đạo đức, lối sống xã hội; góp phần tạo động lực phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững đất nước. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, kinh tế và văn hóa thẩm thấu vào nhau, thể chế phát triển tổng hợp hai lĩnh vực này có thể gọi là thể chế phát triển kinh tế - văn hóa, hoặc thể chế phát triển văn hóa - kinh tế, tùy theo lĩnh vực nào đóng vai trò chủ đạo chi phối trong quá trình phát triển.
(7) Tạo lập cơ sở pháp lý, cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho sự phát triển văn hóa theo các mục tiêu đặt ra; thúc đẩy phát triển tiềm lực văn hóa; đặc biệt là thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
(8) Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý cho hội nhập và hợp tác quốc tế về văn hóa; tiếp thu có chọn lọc, phù hợp, sáng tạo, hiệu quả các giá trị văn hóa của nhân loại; đồng thời đưa văn hóa Việt Nam hội nhập với thế giới với bản sắc đặc trưng của mình; để văn hóa thực sự đóng vai trò quan trọng vào kiến tạo môi trường hòa bình, hợp tác; góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước nhanh, bền vững, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tăng tốc.
9) Điều cốt lõi của thể chế văn hóa không đơn thuần là phát triển các hoạt động, các sản phẩm và dịch vụ văn hóa phục vụ mọi đối tượng trong xã hội (“văn hóa cho”); mà là thúc đẩy hình thành và phát triển các giá trị nội tại (“văn hóa của”), mang tính bản chất con người, giá trị sống, giá trị xã hội, giá trị phát triển lành mạnh của mọi chủ thể trong xã hội, tạo động lực nội sinh cho sự phát triển của tất cả các chủ thể, các tổ chức, cộng đồng dân cư và của toàn xã hội.
(10) Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thể chế văn hóa có vai trò tạo động lực phát triển các giá trị tinh thần, đạo đức, ý thức xã hội, ý thức công dân, ý thức dân tộc, trách nhiệm xã hội…, góp phần tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia - dân tộc; trực tiếp tham gia vào phát triển “sức mạnh cứng” của đất nước thông qua quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Cấu trúc và cơ chế tác động của thể chế văn hóa
Thứ nhất, cấu trúc của thể chế văn hóa
Cấu trúc của thể chế phát triển văn hóa có thể được xem xét theo hai cách tiếp cận: Cách tiếp cận về cơ cấu các thành tố tạo nên thể chế và cách tiếp cận theo chức năng của thể chế.
Một là, cấu trúc thể chế văn hóa theo cách tiếp cận cơ cấu các thành tố tạo nên thể chế văn hóa.
Có thể khái quát, xác định cấu trúc thể chế văn hóa bao gồm ba thành tố cấu thành chủ yếu: Các chủ thể tham gia vào lĩnh vực hoạt động văn hóa (“người chơi”); hệ thống quy tắc vận hành và tương tác giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động (“luật chơi”); nội dung (lĩnh vực) văn hóa mà các chủ thể tham gia hoạt động (“sân chơi”). Tuy nhiên gần đây, nhiều nghiên cứu và thực tiễn cho thấy, hệ thống “luật chơi” có thể được ban hành khá đầy đủ và phù hợp, nhưng thể chế vẫn không được vận hành hiệu quả, nếu trong đó thiếu các chế tài đủ mạnh để kiểm soát việc thực thi và buộc các chủ thể phải tuân thủ “luật chơi”. Về thực chất, đây cũng là một bộ phận của “luật chơi”, nhưng do yêu cầu khách quan nên có thể tách ra và nhấn mạnh thành chế tài thực thi thể chế. Như vậy về tổng thể, thể chế văn hóa bao gồm ba (hoặc bốn) thành tố cấu thành quan trọng, đó là: Các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa (“người chơi”), các quy định pháp lý làm cơ sở cho sự hoạt động của các chủ thể (“luật chơi”), nội dung hay lĩnh vực hoạt động văn hóa (“sân chơi”) và chế tài thực thi thể chế văn hóa. Khái niệm các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa được hiểu là tất cả các chủ thể liên quan đến lãnh đạo - quản lý phát triển văn hóa, các chủ thể trực tiếp hay gián tiếp tham gia các hoạt động văn hóa, các chủ thể “hưởng thụ” các sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa.
Như vậy, xét về cấu trúc, các thành tố hợp thành tạo nên thể chế văn hóa cũng có cấu trúc phức tạp, không đơn nhất. Cần nhận thức rõ các cấu trúc này trong thể chế văn hóa.
Hai là, về cấu trúc các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa.
Các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa có thể được phân theo chức năng của từng loại chủ thể như sau:
(i) Đảng (các cấp ủy) với vai trò lãnh đạo đường lối, chủ trương, định hướng phát triển văn hóa.
(ii) Nhà nước với vai trò quản lý phát triển văn hóa. Trong nhà nước có các chủ thể (cơ quan, đơn vị, tổ chức) thực hiện các chức năng khác nhau: Các chủ thể có chức năng quyết định (ban hành) “luật chơi” (luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa); các chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo - quản lý thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; các chủ thể kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; các chủ thể trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ hoạt động văn hóa.
(iii) Các chủ thể hoạt động văn hóa, bao gồm các chủ thể sau: Các cá nhân hoạt động văn hóa (chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp); các đơn vị hoạt động văn hóa (chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp); các thiết chế văn hóa; các đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội; các tổ chức văn hóa - xã hội, cộng đồng dân cư;
(iv) Các chủ thể hưởng thụ văn hóa (hay chịu tác động của hoạt động văn hóa), có thể bao gồm các chủ thể sau: Các cá nhân; gia đình; các tổ chức, đơn vị trong xã hội; cộng đồng dân cư…
Việc phân định các loại chủ thể nêu trên cho thấy rõ chức năng của từng loại chủ thể trong hoạt động văn hóa. Trên thực tế, nhiều chủ thể vừa là chủ thể trực tiếp hoạt động văn hóa, đồng thời là chủ thể hưởng thụ văn hóa.
Ba là, về cấu trúc hệ thống khung pháp lý (“luật chơi”) trong thể chế văn hóa.
Khung pháp lý trong thể chế văn hóa không chỉ dừng lại ở các quy định chung về phát triển văn hóa mà cần phải có quy định pháp lý về hoạt động văn hóa tương ứng đối với từng loại chủ thể, loại hình văn hóa. Riêng đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động văn hóa, có thể khái quát các quy định pháp lý sau:
+ Các quy định vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của Đảng (các tổ chức đảng, các cấp ủy) về lãnh đạo phát triển văn hóa.
+ Các quy định pháp lý về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của Nhà nước (các tổ chức nhà nước) về quản lý phát triển văn hóa (về trách nhiệm quyết định hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; về trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển văn hóa; về trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp lý và cơ chế, chính sách phát triển văn hóa…).
+ Hệ thống các quy định pháp lý phù hợp đối với các chủ thể hoạt động văn hóa trong các lĩnh vực văn hóa, gồm hệ thống các quy định pháp lý cho các chủ thể hoạt động văn hóa sau: Các đơn vị hoạt động văn hóa chuyên nghiệp (trong các lĩnh vực văn hóa); các cá nhân hoạt động văn hóa chuyên nghiệp; các thiết chế văn hóa; các tổ chức, đơn vị xã hội; các cộng đồng dân cư…
+ Các quy định pháp lý đối với các chủ thể hưởng thụ văn hóa, gồm: các cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, các tổ chức, đơn vị trong xã hội…
Vấn đề cốt lõi của hệ thống quy định pháp lý (“luật chơi”) là chế định đồng bộ về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội đối với từng loại chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực văn hóa phù hợp với bản chất, tính chất và hình thức thể hiện của văn hóa nói chung và phù hợp đối với từng loại hình văn hóa.
Bốn là, về nội dung (lĩnh vực) văn hóa mà các chủ thể tham gia hoạt động (“sân chơi”).
Trong thể chế văn hóa, việc xác định mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa, với các quy định pháp lý về các hoạt động văn hóa không thể chỉ dừng ở các quy định chung, mà còn phải được thể hiện phù hợp đối với từng nội dung (lĩnh vực) văn hóa (được gọi là “sân chơi”). Trong mỗi lĩnh vực văn hóa (văn hóa truyền thống với nhiều loại khác nhau, điện ảnh, sân khấu, văn học, hội họa, điêu khắc…) đều có nội dung, tính chất hoạt động, cơ chế sáng tạo và hình thức đi vào cuộc sống khác nhau. Điều này đòi hỏi phải chế định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm xã hội của các chủ thể, gắn liền với các quy định pháp lý hoạt động phù hợp đối với từng lĩnh vực văn hóa. Do đó, việc nhận thức rõ bản chất, nội dung, tính chất, tác động và cơ chế hoạt động của từng lĩnh vực văn hóa, để trên cơ sở đó chế định thể chế phát triển phù hợp, hiệu quả là một nhiệm vụ quan trọng.
Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự thay đổi mô hình và phương thức sản xuất xã hội, trí tuệ nhân tạo, sự thay đổi cấu trúc xã hội… làm thay đổi sâu sắc “sân chơi” văn hóa; sẽ đưa đến yêu cầu và thực tiễn sự ra đời của nhiều hình thức, mô hình văn hóa mới, giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội mới (cả tích cực và không tích cực). Trong cơ chế thị trường, sự phát triển văn hóa gắn liền hữu cơ với sự phát triển của các lĩnh vực khác, đặc biệt là kinh tế. Văn hóa không chỉ “thẩm thấu” vào kinh tế, trở thành một yếu tố hữu cơ của phát triển kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế, làm cho kinh tế mang giá trị (“bộ mặt”) con người hơn; mà văn hóa còn trở thành một lĩnh vực kinh tế, kinh tế văn hóa, thị trường văn hóa. Đồng thời, kinh tế thị trường cũng thấm sâu vào văn hóa, trở thành nguồn lực phát triển văn hóa, hình thành các cơ chế phát triển kết hợp hữu cơ giữa kinh tế và văn hóa, văn hóa và kinh tế với những cấp độ và hình thức khác nhau tạo nên các giá trị phát triển tổng hợp về văn hóa - kinh tế - xã hội. Việc các giá trị đó đưa đến các tác động tích cực hay tiêu cực đối với sự phát triển phụ thuộc vào thể chế phát triển. Vì vậy, việc đổi mới và nâng cao nhận thức, năng lực về vị trí, vai trò, chức năng của tất cả các chủ thể liên quan đến hoạt động và phát triển văn hóa; gắn liền với đó là chế định đồng bộ hệ thống “luật chơi” phù hợp, hiệu quả để thúc đẩy phát triển văn hóa trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới là một yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết, trọng yếu.
Năm là, cấu trúc thể chế văn hóa theo cách tiếp cận chức năng thể chế.
Theo cách tiếp cận chức năng, thể chế văn hóa có cấu trúc ngang - dọc, đan xen lẫn nhau, từ trên xuống dưới theo các chức năng khác nhau của thể chế, của từng lĩnh vực văn hóa. Các chức năng khác nhau của thể chế có thể được phân định theo các tiêu chí khác nhau theo các yếu tố tạo nên thể chế, bảo đảm thể chế vận hành có hiệu quả.
Có thể khái quát như sau: Thể chế về xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của từng loại chủ thể tham gia hoạt động văn hóa nói chung, phù hợp đối với từng lĩnh vực văn hóa; thể chế tài chính cho phát triển văn hóa nói chung và cho phát triển từng lĩnh vực văn hóa (có sự khác nhau); thể chế về cơ chế thị trường trong phát triển văn hóa (các lĩnh vực văn hóa); thể chế thúc đẩy phát triển sáng tạo các lĩnh vực văn hóa cụ thể; thể chế về đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa; thể chế về cơ chế tự chủ của các đơn vị hoạt động văn hóa; thể chế về phát triển các trụ cột văn hóa, phát triển từng lĩnh vực văn hóa; thể chế về phát triển công nghiệp văn hóa; thể chế về phát triển văn hóa trong hệ thống chính trị (phát triển văn hóa lãnh đạo của Đảng; văn hóa nhà nước pháp quyền - kiến tạo - quản trị phát triển “của dân, do dân, vì dân”; thể chế phát triển văn hóa doanh nghiệp - văn hóa doanh nhân; thể chế về phát triển văn hóa trong cộng đồng dân cư, trong các tổ chức, đơn vị trong xã hội; thể chế về phát triển nguồn lực con người cho phát triển văn hóa; thể chế hội nhập quốc tế về văn hóa;….
Như vậy, nhìn nhận cấu trúc của thể chế văn hóa về mặt lý luận và thực tiễn đều phải có sự tổng hợp đồng bộ theo cách tiếp cận cấu trúc thành tố và theo cách tiếp cận chức năng trong quá trình xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách cũng như trong quá trình quản lý, tổ chức thực hiện.
Thứ hai, cơ chế tác động của thể chế văn hóa với các thể chế phát triển khác
Cơ chế tác động của thể chế văn hóa được hiểu là cơ chế tương tác (chế định) lẫn nhau giữa thể chế văn hóa với tất cả các thể chế phát triển các lĩnh vực khác trong thể chế phát triển tổng hợp đất nước, trước hết là các thể chế cơ bản sau: Thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế xã hội (theo nghĩa rộng) và thể chế bảo vệ môi trường sinh thái. Trong đó: (i) Thể chế chính trị đóng vai trò xác định định hướng phát triển, mục tiêu phát triển, khung khổ pháp lý (luật pháp, cơ chế, chính sách) phát triển tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn hóa. (ii) Thể chế kinh tế đóng vai trò xác định nội dung kinh tế, giá trị và lợi ích kinh tế trong tương quan với giá trị văn hóa, chế định hình thức và mức độ vận dụng cơ chế thị trường trong phát triển văn hóa (trong từng lĩnh vực văn hóa); đồng thời xác định cơ chế sử dụng (ứng dụng) và phát triển các giá trị văn hóa trong phát triển kinh tế, góp phần tạo động lực phát triển hiệu quả kinh tế. (iii) Thể chế xã hội (theo nghĩa rộng phát triển các lĩnh vực xã hội) đóng vai trò hình thành và định hướng các giá trị xã hội trong quá trình phát triển; đặt ra các yêu cầu đối với phát triển giá trị con người và văn hóa đáp ứng yêu cầuu phát triển xã hội trong mỗi giai đoạn; xác định các giá trị văn hóa trong quá trình phát triển xã hội theo yêu cầu mới. Đồng thời, hình thành đồng bộ thể chế phát triển xã hội để thúc đẩy việc phát huy các giá trị văn hóa, nhất là các giá trị mới; hạn chế các tác động tiêu cực của các giá trị văn hóa không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu phát triển. (iv) Thể chế môi trường sinh thái có chức năng cơ bản là tạo lập các giá trị sống của con người, của các chủ thể trong xã hội, của các cộng đồng dân cư, của nền sản xuất xã hội, sản xuất và tiêu dùng “xanh”, của toàn xã hội, gắn hài hòa với tự nhiên (thiên nhiên), không gây ảnh hưởng đến môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững cũng chứa đựng những giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội trong toàn bộ sự phát triển của các lĩnh vực; là những giá trị cao cả chung của nhân loại, đồng thời là giá trị đặc trưng của Việt Nam trong quá trình phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Thể chế văn hóa có chức năng cơ bản là tạo lập, bảo vệ, phát triển các giá trị con người, các giá trị văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Vừa bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa phát huy cao các giá trị đang đóng vai trò chủ đạo, nòng cốt đối với sự phát triển hiện nay, vừa đẩy mạnh hình thành các giá trị mới, góp phần tạo động lực phát triển mang tính bứt phá theo chiều sâu, dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn lực con người chất lượng cao, trình độ cao ở mọi cấp độ trong mọi lĩnh vực, chủ thể, mục tiêu và động lực cốt lõi của quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thể chế văn hóa chịu sự chế định, tương tác, gắn bó hữu cơ với tất cả các thể chế phát triển khác, nhất là các thể chế cơ bản trên. Một mặt, lấy các giá trị phát triển của các lĩnh vực khác để làm cơ sở hình thành và phát triển các giá trị con người, giá trị văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển; mặt khác, việc hình thành các giá trị văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn mới (chung và trong lừng lĩnh vực) sẽ là cơ sở hình thành “động lực nội sinh, hệ điều tiết” trong sự phát triển của tất cả các lĩnh vực.
Tuy nhiên, sự phát triển và tương tác giữa các thể chế phát triển các lĩnh vực với nhau và với thể chế văn hóa không phải là một chiều; trên thực tế vừa là quá trình thẩm thấu, chuyển hóa lẫn nhau, tác động tương hỗ với nhau, hình thành các giá trị động lực thúc đẩy phát triển đất nước theo những mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, hòa bình, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”. Mặt khác còn là quá trình “đấu tranh” loại bỏ các giá trị không phù hợp, tác động tiêu cực, làm suy yếu động lực phát triển trong mỗi lĩnh vực và trong thể chế phát triển chung của các nước.
Thứ ba, về cơ chế tác động nội tại của thể chế văn hóa
Cơ chế tác động nội tại của thể chế văn hóa được thể hiện chủ yếu ở sự tương tác giữa các thành tố cơ bản: Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển văn hóa; vai trò quản lý của Nhà nước đối với phát triển văn hóa; vai trò, chức năng của các chủ thể tham gia phát triển văn hóa; khung pháp lý cho các chủ thể và các hoạt động văn hóa; tương ứng với đó là nội dung (các lĩnh vực) văn hóa. Tính hiệu lực, hiệu quả của thể chế văn hóa được thể hiện ở sự đồng bộ, phù hợp giữa các thành tố cơ bản đó, phù hợp với bản chất, tính chất, đặc điểm của văn hóa nói chung và của từng lĩnh vực văn hóa.
Trước hết về sự đồng bộ giữa nội dung, cơ chế hoạt động của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa. Tham gia vào phát triển văn hóa gồm các chủ thể cơ bản sau: Đảng là chủ thể lãnh đạo đường lối, chủ trương, định hướng phát triển các giá trị văn hóa, con người; Nhà nước là chủ thể cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối, chủ trương phát triển văn hóa của Đảng thành mục tiêu, nhiệm vụ, luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; lãnh đạo - chỉ đạo - tổ chức - quản lý triển khai thực hiện trong thực tiễn; các chủ thể hoạt động văn hóa (bao gồm tất cả chủ thể từ cá nhân, đến tổ chức hoạt động văn hóa chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp; các thiết chế văn hóa; các đơn vị trong xã hội, cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội với tính cách là chủ thể hoạt động văn hóa); các chủ thể thụ hưởng giá trị văn hóa (không thụ động hoặc thụ động).
Các chủ thể hoạt động văn hóa (chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp) và các nội dung, sản phẩm, dịch vụ văn hóa được tạo ra đều phải nằm trong các khung pháp lý xác định - KPL (thường được gọi là “luật chơi”) bao gồm các quy định pháp lý chính thức, cơ chế thị trường và quy định phi chính thức. Mức độ tham gia vào cơ chế thị trường của các hoạt động văn hóa, sản phẩm, dịch vụ văn hóa khác nhau, từ hoạt động của nhân dân mang tính tự nguyện không thu phí; đến dịch vụ công phục vụ miễn phí, dịch vụ công thu phí thấp, đến dịch vụ được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thị trường của tất cả chủ thể tham gia hoạt động văn hóa theo quy định của pháp luật. Các hoạt động văn hóa của tất cả chủ thể (dù khác nhau về hình thức) đều được thể hiện ở sản phẩm văn hóa đưa ra cho xã hội với nội dung và giá trị xác định. Cốt lõi chung của các sản phẩm văn hóa (hay hoạt động văn hóa) của tất cả các chủ thể là các giá trị văn hóa đưa lại cho xã hội, tạo động lực phát triển trong tất cả lĩnh vực với tính cách là động lực nội sinh.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, yếu tố thị trường, cơ chế thị trường trở thành một trong những động lực nội tại quan trọng của phát triển văn hóa (cùng với hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chính thức và các quy định phi chính thức trong xã hội). Như vậy, văn hóa không thể chỉ được xem là yếu tố “bên ngoài” tác động đến phát triển văn hóa; ngược lại, kinh tế không chỉ được xem là nguồn lực “vật chất” cho phát triển văn hóa. Kinh tế và văn hóa cần phải (trên thực tế) là những nội dung mang tính bản chất trong quá trình phát triển, tạo nên hợp lực phát triển nhanh, bền vững cả về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Các nội dung và hoạt động văn hóa, các sản phẩm, dịch vụ văn hóa dù dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng đều có một điểm chung nhất là tạo nên các giá trị tinh thần, đạo đức, vật chất, pháp lý, giá trị sống của mỗi con người, gia đình, cộng đồng dân cư, tất các tổ chức, đơn vị trong xã hội và quốc gia - dân tộc.
Xét trên bình diện chung nhất, khái quát nhất, cấu trúc và cơ chế vận hành của thể chế văn hóa có thể được mô tả như hình dưới đây:
Mô hình trên thể hiện những mối quan hệ chủ yếu sau: Các chủ thể tham gia (trực tiếp hay gián tiếp) đến hoạt động văn hóa ở mọi cấp độ, cùng với khung pháp lý cho sự hoạt động của các chủ thể, tương thích với nội dung, hình thức của văn hóa nói chung (và từng lĩnh vực văn hóa nói riêng) tạo thành ba thành tố trụ cột cơ bản của thể chế văn hóa. Mỗi chủ thể tham gia có vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, lợi ích (theo nghĩa rộng), trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội khác nhau, nhưng liên quan hữu cơ với nhau; được thể hiện ở khung pháp lý hoạt động (bao gồm các quy định chính thức; các quy định phi chính thức; cơ chế thị trường). Hoạt động của các chủ thể, khung pháp lý phải tương thích với nội dung và hình thức thể hiện không chỉ đối với lĩnh vực văn hóa nói chung, mà còn phải tương thích đối với từng lĩnh vực văn hóa trong điều kiện và trình độ phát triển cụ thể. Các hoạt động văn hóa và sản phẩm, dịch vụ văn hóa là kết quả tương tác giữa các chủ thể theo các mục tiêu, yêu cầu, khung pháp lý xác định, phù hợp đối với từng lĩnh vực văn hóa trong từng giai đoạn phát triển.
Các chủ thể tham gia (đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, năng lực sáng tạo của các chủ thể hoạt động văn hóa) cùng với nền tảng pháp lý là cơ sở nền tảng để tạo động lực phát triển văn hóa (các lĩnh vực văn hóa). Tuy nhiên, sự phát triển văn hóa luôn mang tính động, gắn liền (và là hệ quả tác động trực tiếp) của sự phát triển thể chế kinh tế, thể chế chính trị, thể chế xã hội, của sự phát triển khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế. Vì vậy, nội dung, hình thức hoạt động văn hóa, sản phẩm và dịch vụ văn hóa không thể chỉ là “tĩnh tại, bất biến”, “luôn giữ vững truyền thống” một cách máy móc, siêu hình; mà luôn chứa đựng “tính động” theo nhịp độ, quy mô và trình độ phát triển của tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Khi các giá trị văn hóa mới được hình thành (hoặc đang hình thành) sẽ tác động trở lại các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa, từ đó đặt ra yêu cầu mới đối với việc thay đổi khung pháp lý (luật pháp, cơ chế, chính sách) phát triển văn hóa (gắn liền với các lĩnh vực khác); yêu cầu đổi mới, thay đổi, bổ sung, phát triển các nội dung và hình thức văn hóa mới trong các lĩnh vực. Các giá trị văn hóa sẽ thực hiện đóng vai trò “hệ điều tiết” đối với sự phát triển các lĩnh vực khác, mà trọng tâm là giữ gìn, phát triển, nâng cao, làm giàu thêm giá trị con người, giá trị xã hội, giá trị môi trường sinh thái trong quá trình phát triển.
Trước yêu cầu bức thiết của sự phát triển nhanh, bền vững đất nước khi bước sang kỷ nguyên mới, việc nhận thức đúng đắn, rõ ràng cấu trúc và cơ chế vận hành của thể chế văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực nhằm xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế văn hóa, góp phần quan trọng tạo động lực nội sinh cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới là nhiệm vụ rất quan trọng./.
--------------------------------
* Bài viết là sản phẩm của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: “Hoàn thiện thế chế phát triển văn hóa góp phần tạo động lực phát triển nhanh và bền vững đất nước trong điều kiện mới”, mã số KX.05.07/21-30
Lời cam kết của những người cộng sản Việt Nam  (13/02/2026)
Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng  (07/02/2026)
Những giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống  (02/02/2026)
Những giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống  (02/02/2026)
- Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
- Phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong giai đoạn phát triển mới
- Ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý bền vững tài nguyên biển Khánh Hòa: Kết quả bước đầu và yêu cầu đổi mới
- Quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới
- Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm