Tỉnh Lâm Đồng nâng cao chất lượng quản trị địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới phồn vinh, hạnh phúc
TCCS - Việc hợp nhất ba tỉnh Lâm Đồng (cũ), Bình Thuận, Đắk Nông thành tỉnh Lâm Đồng giúp khai thác hiệu quả tiềm năng, mở ra không gian kinh tế liên kết, đa trung tâm, phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra thách thức về thể chế, năng lực cán bộ và áp lực xã hội - môi trường cần sớm được tháo gỡ. Trong bối cảnh đó, nâng cao chất lượng quản trị là yêu cầu cấp thiết để tỉnh Lâm Đồng hiện thực hoá khát vọng đến năm 2030 trở thành tỉnh phát triển khá, là một trong những cực tăng trưởng năng động của khu vực trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Những kết quả tích cực
Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đề ra nhiệm vụ “Ðổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tập trung quản lý phát triển; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân”(1). Theo đó, chất lượng quản trị địa phương cần được đánh giá tổng thể trên các phương diện: quản lý phát triển; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; nâng cao tính minh bạch; trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân.
Quán triệt Nghị quyết, tỉnh Lâm Đồng dựa trên cơ sở các chiến lược đã hoạch định của từng địa phương để triển khai ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường và phân bổ nguồn lực hiệu quả, tăng cường liên kết vùng, nâng cao chất lượng quản trị, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng. Nhờ vậy, tỉnh Lâm Đồng (cũ) có tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP đạt khá, giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng bình quân đạt 6,57%, tỉnh Bình Thuận tăng 6,20% và tỉnh Đắk Nông đạt 6,86%. Tương ứng, GRDP bình quân đầu người tăng nhanh, năm 2020, tỉnh Lâm Đồng (cũ) đạt 62,9 triệu đồng/năm, tỉnh Bình Thuận là 69,2 triệu đồng/năm, tỉnh Đắk Nông đạt 48,14 triệu đồng, đến năm 2025, tương ứng lần tượt tăng lên 112,8 triệu đồng/năm, 114,2 triệu đồng/năm và 94,24 triệu đồng/năm(2).
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phù hợp với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Các văn bản của tỉnh đã được kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ quy trình luật định. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Lâm Đồng ban hành 1.000 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) là 431 văn bản, tỉnh Đắk Nông là 271 văn bản và tỉnh Bình Thuận là 298 văn bản. Công tác kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật được tăng cường; chủ động, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tham mưu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý kịp thời những nội dung văn bản, quy định có dấu hiệu trái pháp luật, còn hạn chế, vướng mắc, không rõ ràng, cụ thể, khả thi. Tổ chức và vận hành bộ máy chính quyền địa phương theo đúng quy định của pháp luật.
Bộ máy chính quyền địa phương tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn, giảm đầu mối trung gian. Công tác phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước được chú trọng; tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức bảo đảm quy định; thực hiện tốt việc xây dựng đề án vị trí việc làm và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức; quan tâm đến công tác thu hút nguồn nhân lực, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức để nâng cao trình độ, chất lượng, năng lực thực hiện nhiệm vụ.
Thực thi công vụ đúng pháp luật, vai trò, trách nhiệm, chất lượng; hiệu quả tham mưu, đề xuất giải quyết công việc của cơ quan, địa phương, đơn vị được nâng cao; phát huy tinh thần trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, góp phần giải quyết dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, nhiệm vụ tồn đọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Công tác thanh, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được tăng cường, tiến hành có trọng tâm, trọng điểm. Thanh tra tỉnh đã thực hiện 15.223 cuộc thanh tra hành chính; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) thực hiện 4.736 cuộc, tỉnh Bình Thuận thực hiện 9.610 cuộc, tỉnh Đắk Nông thực hiện 877 cuộc thanh tra hành chính; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành(3). Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện sai phạm, kiến nghị xử lý theo quy định và chuyển cơ quan điều tra xử lý; góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chấp hành chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội tại địa phương.
Tỉnh Lâm Đồng luôn thực hiện minh bạch trong cung cấp thông tin công; lập và thực hiện ngân sách địa phương; đầu tư công và quản lý dự án; tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ; quy trình ra quyết định của chính quyền địa phương; giải quyết thủ tục hành chính. Điểm số công khai, minh bạch của tỉnh Lâm Đồng từ năm 2020 - 2024 cũng có những cải thiện nhất định, năm 2020 điểm số công khai, minh bạch là 4,9(4) đến năm 2024 là 5,2(5).
Chính quyền địa phương tỉnh Lâm Đồng đẩy mạnh trách nhiệm giải trình liên quan đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện theo quy định pháp luật; cả hệ thống chính trị vào cuộc; các cấp, các ngành đã cố gắng, nỗ lực triển khai thực hiện đạt được những kết quả quan trọng, tích cực. Tỉnh đã tổ chức tiếp 42.380 lượt công dân với 51.607 người được tiếp. Tổng số đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết là 4.703 đơn; đã giải quyết 4.539 đơn, đạt 96,5%(6). Các vụ việc khiếu nại, tố cáo, đặc biệt các vụ việc tồn đọng, phức tạp, đông người, kéo dài được giải quyết, hạn chế phát sinh điểm nóng, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, giữ vững ổn định an ninh, trật tự, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị địa phương ngày càng được đề cao. Đây không chỉ là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn là yêu cầu khách quan để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, bảo đảm công bằng, minh bạch và phát triển bền vững.
Tồn tại, hạn chế và những thách thức đặt ra
Thứ nhất, vẫn còn một số văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ban hành chưa bảo đảm tính thống nhất với văn bản pháp luật của Trung ương. Kỷ luật, kỷ cương hành chính của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; cải cách thủ tục hành chính còn chậm; chưa quyết liệt trong chuyển đổi số...
Thứ hai, có lúc, có nơi thông tin chưa được công khai kịp thời. Một số kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, danh mục dự án đầu tư công chậm được đăng tải trên cổng thông tin điện tử hoặc công bố chưa đúng quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Một số thông tin về quy hoạch đất đai chưa rõ ràng. Ở một số địa bàn, người dân phải thông qua nhiều cấp, nhiều khâu mới tiếp cận được bản đồ quy hoạch, một nguyên nhân gây ra tình trạng khiếu kiện về đền bù, giải phóng mặt bằng gia tăng. Điểm số trung bình về công khai, minh bạch của 3 tỉnh (trước khi sáp nhập) đều thấp hơn so với điểm trung bình cả nước.
Thứ ba, công tác giải trình của cơ quan hành chính chưa đầy đủ. Một số quyết định hành chính quan trọng (về quy hoạch, phân bổ ngân sách, lựa chọn nhà đầu tư) chưa được thông tin rõ ràng với người dân trước khi ban hành. Điểm trách nhiệm giải trình với người dân giai đoạn 2020 - 2024 của tỉnh Lâm Đồng thấp hơn so với điểm trung bình của cả nước, trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) là 4,45 điểm; tỉnh Đắk Nông là 4,32 điểm và tỉnh Bình Thuận là 4,43 điểm. Mức điểm lại theo hướng giảm điểm so với thời điểm ban đầu, phản ánh mức độ trách nhiệm giải trình chưa có cải thiện bền vững.
Thứ tư, mặc dù tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động nhằm mở rộng quyền tham gia của người dân vào quá trình quản trị, nhưng vẫn còn tồn tại các hạn chế chủ yếu như: Tỷ lệ người dân tham gia họp thôn/tổ dân phố còn thấp; tham gia xây dựng chính sách còn có phần hình thức; tiếp cận thông tin để tham gia còn khó khăn.
Bên cạnh đó, việc quản trị địa phương ở tỉnh Lâm Đồng còn tồn tại những thách thức đặt ra: (i) Hệ thống văn bản, quy hoạch, chính sách của ba tỉnh cũ không đồng bộ, dẫn đến chồng chéo, kém hiệu quả; (ii) Các tỉnh có thế mạnh khác nhau: tỉnh Lâm Đồng (cũ) phát triển mạnh về nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái; tỉnh Bình Thuận có lợi thế biển, công nghiệp năng lượng tái tạo; tỉnh Đắk Nông sở hữu tài nguyên bô-xít và tiềm năng thủy điện. Tuy nhiên, sự chênh lệch phát triển giữa ba vùng tạo ra nguy cơ thiếu cân đối trong phân bổ ngân sách, đầu tư và chính sách ưu tiên; (iii) Diện tích tỉnh Lâm Đồng lớn nhất cả nước, trải dài từ Tây Nguyên đến duyên hải Nam Trung Bộ. Đây là một địa bàn rộng lớn, đa dạng về địa hình, gây khó khăn cho việc điều phối dịch vụ công, phòng, chống thiên tai và kết nối hạ tầng; (iv) Sự khác biệt về bản sắc văn hóa giữa cư dân miền biển, miền núi và cao nguyên đòi hỏi chính sách quản trị phải linh hoạt và tôn trọng sự đa dạng. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn có tỷ lệ hộ nghèo cao, trong khi khu vực ven biển có cơ cấu dân cư đô thị hóa mạnh hơn. Điều này dễ tạo ra “khoảng cách phát triển xã hội” nếu không có chiến lược phân bổ nguồn lực hợp lý; (v) Đối diện với áp lực từ khai thác bô-xít, nạn phá rừng và ô nhiễm du lịch, công nghiệp nhiệt điện và nuôi trồng thủy sản ven biển, đòi hỏi mô hình quản trị môi trường liên vùng. Nếu không có cơ chế điều phối, nguy cơ xung đột môi trường sẽ gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển bền vững của tỉnh.
Tiếp tục nâng cao chất lượng quản trị địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới
Tỉnh Lâm Đồng giữ vị trí địa chính trị quan trọng, với không gian trải dài từ cao nguyên đến biển, giàu tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh thái. Tỉnh có tiềm năng phát triển toàn diện trên cả ba trụ cột kinh tế: nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ. Hạ tầng chiến lược gồm cảng biển, sân bay, cao tốc, quốc lộ tạo kết nối vùng và quốc gia. Tỉnh còn nổi bật với các khu du lịch quốc gia, di sản văn hóa phong phú, cùng lợi thế trong công nghiệp khai khoáng (bô-xít, ti-tan), năng lượng, nuôi trồng và chế biến hải sản, nông nghiệp công nghệ cao. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, để nâng cao chất lượng quản trị địa phương, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế quản trị để tạo ra bộ khung pháp lý thống nhất, đồng bộ. Có thể thành lập tổ công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Sở Tư pháp chủ trì, có sự tham gia của các sở, ngành, hội đồng nhân dân và mặt trận Tổ quốc các cấp. Quá trình rà soát nên phân loại văn bản thành bốn nhóm: tiếp tục áp dụng, sửa đổi bổ sung, hợp nhất hoặc bãi bỏ. Nghiên cứu, ban hành “Bộ quy tắc chuyển tiếp” để điều chỉnh khoảng trống pháp lý trong giai đoạn 12 - 18 tháng đầu sau sáp nhập. Quy tắc này cần xác định rõ nguyên tắc áp dụng văn bản cũ, ưu tiên quy định phù hợp nhất với pháp luật cấp trên và có lợi cho người dân, doanh nghiệp. Ngoài ra, tỉnh cần xây dựng Bộ chuẩn dịch vụ công thống nhất toàn tỉnh về mức phí, thời gian xử lý, quy trình thực hiện, bảo đảm công bằng và thuận lợi trong giải quyết thủ tục.
Hai là, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát, phù hợp điều kiện năng lực thực tế của từng địa phương, tránh tình trạng “trao quyền đồng loạt” dẫn đến quá tải. Theo đó, những địa phương có đủ nguồn lực và trình độ quản trị sẽ được trao quyền rộng hơn, còn những địa phương hạn chế cần được hỗ trợ nâng cao năng lực trước khi tiếp nhận thêm thẩm quyền. Cách tiếp cận thí điểm theo từng lĩnh vực (“làm thử - đánh giá - nhân rộng”) giúp kiểm chứng hiệu quả trước khi mở rộng toàn tỉnh. Để bảo đảm công bằng, cần đánh giá độc lập, khách quan từ bên ngoài. Quan trọng hơn, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực, cần thiết lập cơ chế minh bạch, gắn trách nhiệm giải trình với từng cấp chính quyền, đồng thời xây dựng hệ thống giám sát thường xuyên nhằm ngăn ngừa lạm quyền, cục bộ địa phương và tham nhũng.
Ba là, cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ công trên nguyên tắc đơn giản hóa, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Cần rà soát toàn bộ thủ tục hành chính hiện hành, loại bỏ thủ tục không cần thiết, gộp bỏ thủ tục trùng lặp, đồng thời chuẩn hóa biểu mẫu, hồ sơ, thời hạn giải quyết. Xây dựng Bộ chuẩn dịch vụ công áp dụng thống nhất toàn tỉnh, trong đó xác định rõ mức phí, thời gian xử lý, quy trình cho các thủ tục phổ biến như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng, đăng ký kinh doanh. Đẩy mạnh số hóa, trực tuyến hóa các thủ tục ở mức độ 3, 4, triển khai cơ chế một cửa điện tử liên thông đến tận cấp xã, kết nối dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế giám sát xã hội đối với cải cách thủ tục hành chính. Công khai tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn, trễ hạn; phát triển đường dây nóng, chatbot, ứng dụng di động để người dân phản ánh trực tiếp tình trạng giải quyết thủ tục.
Bốn là, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tỉnh cần tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” gắn với xây dựng khu công nghệ cao, phát triển các lĩnh vực trọng điểm như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, blockchain, tự động hóa. Chuyển đổi số phải được thực hiện toàn diện trên ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, trong đó ưu tiên phát triển nhân lực số và đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, công chức. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp và phát triển thương hiệu sản phẩm đặc trưng của tỉnh. Quản trị địa phương trong kỷ nguyên số không chỉ dựa trên văn bản hành chính mà còn gắn với hệ thống dữ liệu mở, công cụ phân tích thông minh và ứng dụng công nghệ trong điều hành.
Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tránh trùng lặp, chồng chéo, đồng thời xác định rõ vị trí việc làm. Xây dựng khung năng lực cho từng nhóm cán bộ, từ đó triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về quản lý hiện đại, kỹ năng số, ngoại ngữ, phân tích dữ liệu và kỹ năng làm việc với cộng đồng dân tộc thiểu số. Thực hiện cơ chế luân chuyển, biệt phái để cán bộ có cơ hội rèn luyện thực tiễn. Đặc biệt, cần đổi mới cơ chế đánh giá thông qua hệ thống KPI, gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và liêm chính công vụ; xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.
Sáu là, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Công khai toàn diện ngân sách, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án đầu tư và chính sách mới ban hành trên cổng thông tin điện tử. Dữ liệu được cung cấp theo định dạng mở (open data) để thuận lợi cho tra cứu và phân tích. Trách nhiệm giải trình cần được thực hiện định kỳ và đột xuất. Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức họp báo hằng quý, đối thoại với các đối tượng cụ thể, trả lời chất vấn tại Hội đồng nhân dân, đồng thời công khai nội dung giải trình cho báo chí và người dân. Ứng dụng công nghệ số trong giám sát ngân sách, đầu tư công, sử dụng AI để phát hiện dấu hiệu bất thường. Cần thiết lập cơ chế bảo vệ người tố cáo, đồng thời khuyến khích phản hồi từ xã hội nhằm ngăn ngừa sai phạm và cải thiện chính sách.
Bảy là, phát huy sự tham gia của người dân. Mở rộng kênh tham vấn trong quá trình hoạch định chính sách thông qua hội nghị, diễn đàn đối thoại, công khai dự thảo chính sách và lấy ý kiến trực tuyến. Trong giám sát, người dân có thể tham gia trực tiếp thông qua Ban giám sát cộng đồng ở thôn, tổ dân phố hoặc gián tiếp qua ứng dụng di động phản ánh về công trình, dịch vụ công, môi trường. Ngoài ra, tỉnh nên duy trì cơ chế họp dân định kỳ để báo cáo tình hình, tiếp thu phản ánh, đồng thời phát triển ứng dụng “Chính quyền lắng nghe” để người dân gửi kiến nghị, theo dõi trạng thái xử lý. Đây là cơ sở để quản trị địa phương trở nên minh bạch, dân chủ và gần gũi với cộng đồng./.
--------------------------
(1) Xem: Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”
(2) Tỉnh ủy Lâm Đồng: Báo cáo của Tỉnh ủy Lâm Đồng về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, tr. 2, 16
(3) Tỉnh ủy Lâm Đồng: Báo cáo của Tỉnh ủy Lâm Đồng về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, tr. 19
(4) Trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) đạt 4,69; tỉnh Đắk Nông đạt 4,95; tỉnh Bình Thuận đạt 5,07
(5) Tỉnh Lâm Đồng (cũ), tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận lần lượt đạt 4,67, 4,71 và 6,23
(6) Tỉnh ủy Lâm Đồng: Báo cáo của Tỉnh ủy Lâm Đồng về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, tr. 1
Các chính đảng, tổ chức và bạn bè quốc tế gửi thư, điện chúc mừng tới Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam  (26/01/2026)
Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo  (22/01/2026)
- Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
- Phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong giai đoạn phát triển mới
- Truyền thông chiến lược - Định vị QUAD trong cục diện khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rộng mở
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm nhằm tập trung nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Tỉnh Lâm Đồng nâng cao chất lượng quản trị địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới phồn vinh, hạnh phúc
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm