Hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới

TS TRƯƠNG QUANG HOÀN - TS PHẠM THỊ MÙI
Viện Nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
21:39, ngày 13-03-2026

TCCS - Cơ chế hợp tác song phương Việt Nam - Lào trong lĩnh vực kinh tế và kết cấu hạ tầng được hình thành trên nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện, được thể chế hóa qua nhiều hiệp định và cơ chế phối hợp giữa hai nước. Những năm qua, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, giao thông và năng lượng không ngừng được mở rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống người dân vùng biên và củng cố quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia. Trong bối cảnh mới, để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức, cần tiếp tục đổi mới cơ chế hợp tác, nâng cao hiệu quả và tăng cường nguồn lực cho kết nối kinh tế và kết cấu hạ tầng giữa hai nước.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone_Ảnh: baochinhphu.vn

Một số cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng giữa Việt Nam - Lào

Quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào là một trong những mối quan hệ đặc biệt, bền chặt và toàn diện nhất trong khu vực Đông Nam Á. Hai nước không chỉ là láng giềng gần gũi, mà còn có mối liên kết chính trị, lịch sử và văn hóa sâu sắc, được hình thành trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1962 và ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (năm 1977), hợp tác giữa hai nước đã được nâng tầm từ quan hệ truyền thống sang quan hệ chiến lược toàn diện, thể hiện qua việc thể chế hóa hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đến giáo dục, khoa học và phát triển vùng biên giới(1). Trong đó, các cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong những thành tựu hợp tác phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam - Lào.

- Cơ quan điều phối chính:

Cơ chế hợp tác kinh tế và kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào được điều phối chủ yếu thông qua Uỷ ban Liên Chính phủ về Hợp tác Song phương Việt Nam - Lào, thành lập năm 1978. Cơ chế này họp thường niên để đánh giá kết quả hợp tác và đề ra phương hướng phát triển trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, năng lượng và hạ tầng. Đây là cơ quan điều phối trung tâm, kết nối các bộ, ngành địa phương hai nước nhằm bảo đảm thực thi các cam kết hợp tác(2). Hằng năm, hai bên tổ chức Kỳ họp Ủy ban Liên Chính phủ luân phiên tại Hà Nội hoặc Viêng Chăn để rà soát kết quả hợp tác và đề ra phương hướng cho giai đoạn tiếp theo.

Ngoài ra, hai bên còn thành lập các tiểu ban chuyên ngành như Tiểu ban Hợp tác Kinh tế - Thương mại - Đầu tư, Tiểu ban Hợp tác Năng lượng và Khoáng sản, Tiểu ban Hợp tác tài chính - ngân hàng. Hệ thống điều phối này góp phần tăng cường tính hiệu quả trong việc triển khai các chương trình hợp tác và phản ánh mức độ tin cậy chính trị cao giữa hai Đảng và hai Nhà nước(3)

- Các hiệp định hợp tác quan trọng:

Trong lĩnh vực thương mại, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Lào có hiệu lực từ tháng 4-2024 đã thay thế hiệp định năm 2015. Hiệp định cũng chú trọng tạo thuận lợi thương mại thông qua cải cách thủ tục hải quan, áp dụng cơ chế một cửa điện tử và tăng cường phối hợp phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại. Bên cạnh đó, hàng hóa có xuất xứ từ hai nước được hưởng mức thuế ưu đãi 0% hoặc giảm đáng kể, qua đó thúc đẩy trao đổi thương mại song phương(4).

Trong lĩnh vực đầu tư, hai văn kiện quan trọng là Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư song phương giữa Việt Nam và Lào (năm 1996) và Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần (năm 1996) đã tạo nền tảng pháp lý ổn định cho các doanh nghiệp hai nước(5). Các hiệp định này quy định nguyên tắc đối xử công bằng, bảo đảm quyền chuyển vốn và lợi nhuận, cũng như thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng hoặc trọng tài quốc tế.

Trong lĩnh vực giao thông, Hiệp định tạo thuận lợi cho phương tiện cơ giới đường bộ qua lại biên giới (năm 2009) đã đặt nền tảng pháp lý cho vận tải xuyên biên giới. Bên cạnh đó, Chiến lược hợp tác Việt Nam - Lào giai đoạn 2021 - 2030 xác định trọng tâm là tăng cường kết nối hạ tầng giao thông liên quốc gia, ba gồm các tuyến đường bộ, đường sắt và hành lang kinh tế xuyên biên giới(6).

Trong lĩnh vực năng lượng và khoáng sản, các thoả thuận hợp tác như Bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào (năm 2016) và Hiệp định Hợp tác Hiệp định Hợp tác phát triển các công trình năng lượng điện và mỏ (năm 2019) đã tạo cơ sở cho việc phát triển các dự án thuỷ điện tại Lào và xuất khẩu điện sang Việt Nam. Cụ thể, Hiệp định Hợp tác năng lượng năm 2019 được ký nhằm thúc đẩy phát triển các công trình thủy điện và mỏ tại Lào để cung cấp điện năng cho Việt Nam, với mục tiêu đạt công suất xuất khẩu từ 3.000 đến 5.000MW(7).

Nhìn chung, cơ chế hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào có nền tảng pháp lý vững chắc, cơ cấu điều phối rõ ràng và tính ổn định cao, góp phần củng cố nền tảng liên kết thể chế và tăng cường tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, được hỗ trợ bởi niềm tin chính trị đặc biệt giữa hai nước. Tuy nhiên, để thích ứng với bối cảnh hội nhập kinh tế mới, hai bên cần đổi mới cơ chế phối hợp, tăng tính minh bạch và thúc đẩy vai trò của khu vực tư nhân. Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2030, cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng kết nối, số hóa thủ tục thương mại biên giới, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, kinh tế số và chuỗi cung ứng xanh.

Ngoài hợp tác song phương, Việt Nam và Lào còn phối hợp trong nhiều cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Nổi bật là Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV - DTA), được thành lập năm 1999 nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho các tỉnh biên giới của ba nước, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển và tăng cường liên kết nội khối trong khu vực. Cơ chế này hoạt động thông qua Hội nghị Cấp cao giữa ba Thủ tướng và các cơ quan điều phối liên ngành(8).

Bên cạnh đó, hai nước cũng tham gia các cơ chế hợp tác như Chương trình Hợp tác Kinh tế Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS), Khung Chiến lược hợp tác kinh tế Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam  (CLVM), Chiến lược hợp tác kinh Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECS). Về các hiệp định, trong khuôn khổ Chiến lược Hợp tác Kinh tế CLMV (CES), các quốc gia đã thông qua Chiến lược Hợp tác Kinh tế CLMV (năm 2003), tiếp đó là Chương trình Hành động CLMV 2016 - 2020 và 2021 - 2025, tập trung vào phát triển công nghiệp hỗ trợ, thương mại điện tử, năng lượng sạch, du lịch bền vững và giáo dục nghề(9). Các văn kiện này khẳng định quyết tâm của CLMV trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Đối với Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya- Mekong (ACMECS), các mốc hợp tác quan trọng bao gồm Tuyên bố Bagan 2003 – văn kiện khởi đầu chiến lược hợp tác và Kế hoạch Tổng thể ACMECS 2019 - 2023, trong đó nhấn mạnh ba trụ cột hợp tác: kết nối hạ tầng và logistics; phát triển đồng đều và bền vững; và xây dựng khu vực Mekong có khả năng chống chịu cao trước khủng hoảng toàn cầu(10).

Những cơ chế này đóng vai trò bổ sung và mở rộng cho hợp tác Việt Nam và Lào trong lĩnh vực kinh tế và kết cấu hạ tầng, tạo nên mạng lưới hợp tác đa tầng và liên kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia trong lưu vực Mekong. Đồng thời, việc tham gia vào các cơ chế này giúp Việt Nam và Lào tranh thủ nguồn lực từ các đối tác phát triển như ADB, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, và các tổ chức quốc tế khác, qua đó khắc phục hạn chế về tài chính và năng lực thể chế nội khối(11).

Thực trạng hợp tác kinh tế và kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào

Quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Lào là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách đối ngoại và chiến lược phát triển khu vực của hai nước. Trong nhiều năm qua, hợp tác này đã không ngừng được mở rộng, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và năng lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống người dân vùng biên giới và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia.

Về thương mại, năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Lào đạt 2,3 tỷ USD, tăng 38,2% so với năm 2023. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đến Lào đạt 755,2 triệu USD, tăng 41,6% và chiếm 0,2% tổng xuất khẩu của cả nước. Nhập khẩu của Việt Nam từ Lào đạt 1,5 tỷ USD, tăng 36,5% và chiếm 0,4% tổng nhập khẩu của cả nước. Nhập siêu của Việt Nam từ Lào đạt 741,8 triệu USD, tăng 31,7% so với năm 2023(12). Việt Nam xuất khẩu sang Lào chủ yếu là xăng dầu, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng và linh kiện máy móc, trong khi nhập khẩu từ Lào điện năng, khoáng sản, gỗ và nông sản. Sự tăng trưởng thương mại này được thúc đẩy nhờ các hiệp định song phương quan trọng như Hiệp định Thương mại Việt - Lào năm 2015 và Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần năm 2016, giúp tạo khung pháp lý ổn định cho hoạt động thương mại giữa hai nước. Cùng với đó, việc hoàn thiện các tuyến giao thông chiến lược như Quốc lộ 8, Quốc lộ 9 và Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC) đã giúp rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa và tăng cường liên kết giữa các địa phương trong khu vực CLV(13).

Trong lĩnh vực đầu tư, hợp tác đầu tư Việt - Lào đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, cơ cấu và hình thức, phản ánh nỗ lực của hai Chính phủ trong việc thể chế hóa và cụ thể hóa quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững và lâu dài. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam đầu tư vào Lào khoảng 28,8% vốn, tăng 62,2% so với năm 2023(14). Với con số này, Lào trở thành quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư lớn nhất của Việt Nam, khẳng định vị thế đặc biệt của quan hệ kinh tế song phương trong chiến lược phát triển khu vực của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Lào hiện có 18 dự án đầu tư đang triển khai ổn định tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt trên 110 triệu USD. Doanh nghiệp Lào được các cơ quan chức năng của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đầu tư, kinh doanh(15). Đầu tư của Việt Nam sang Lào tập trung vào các lĩnh vực có tính bổ trợ cao và phù hợp với tiềm năng của Lào như năng lượng - thủy điện, nông lâm nghiệp, khai khoáng, viễn thông, ngân hàng, và hạ tầng du lịch. Khoảng 35 - 40% tổng vốn đầu tư tập trung trong ngành năng lượng và thủy điện, với các dự án tiêu biểu như Xekaman 1, Xekaman 3 và Xekong 3 A-B do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và PetroVietnam triển khai(16). Bên cạnh đó, dự án viễn thông Unitel - liên doanh giữa Viettel và Lao Asia Telecom - đã trở thành nhà mạng lớn nhất tại Lào, đóng góp quan trọng cho quá trình chuyển đổi số và tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương. Ngành nông - lâm nghiệp chiếm khoảng 25 - 30% tổng vốn đầu tư, với các dự án trồng cao su, mía đường, cà phê của Tập đoàn Cao su Việt Nam và Hoàng Anh Gia Lai. Lĩnh vực viễn thông cũng ghi nhận thành công nổi bật với thương hiệu Unitel (Viettel), hiện chiếm hơn 50% thị phần tại Lào và đóng góp hàng chục triệu USD mỗi năm cho ngân sách nước bạn(17). Cùng với đó, các dự án trong lĩnh vực ngân hàng, dịch vụ, thương mại và du lịch đang dần mở rộng, góp phần hình thành các chuỗi giá trị song phương và kết nối kinh tế vùng biên giới giữa hai nước.

Ngoài ra, hợp tác năng lượng cũng được xem là trụ cột chiến lược trong quan hệ Việt - Lào. Với tiềm năng thủy điện lớn, Lào được mệnh danh là “cục pin của Đông Nam Á” và Việt Nam là đối tác tiêu thụ điện hàng đầu của Lào. Trên cơ sở các thỏa thuận cấp cao như Hiệp định Hợp tác năng lượng Việt Nam - Lào năm 2006, Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào năm 2016, hai bên đã xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 5.000MW điện từ Lào(18). Đến năm 2024, Việt Nam đã ký kết 19 hợp đồng mua bán điện với 26 nhà máy thủy điện của Lào, với tổng công suất khoảng 2.689MW(19). Các tuyến truyền tải chính hiện đang vận hành gồm đường dây 220kV Xekaman 1 - Pleiku 2, Xekaman 3 - Thừa Thiên Huế, Nam Kong 1 - Quảng Trị, cùng các dự án đang triển khai như tuyến 500kV Mường Phin - Hà Tĩnh. Nhiều dự án thủy điện lớn do doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Lào đã đi vào hoạt động như Xekaman 1 (290MW), Xekaman 3 (250MW), Xekaman 4 (32MW) và cụm dự án Nam Mo 1 - Nam Mo 2, góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển năng lượng của cả hai quốc gia(20).

Ngoài thủy điện, Việt Nam và Lào đang mở rộng hợp tác sang các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời, nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển dịch năng lượng xanh và bảo đảm an ninh năng lượng khu vực. Tiêu biểu là dự án điện gió Savan1 tại tỉnh Savannakhet, do T&T Group của Việt Nam đầu tư với tổng công suất lắp đặt khoảng 495MW, tổng vốn đầu tư 768 triệu USD và dự kiến xuất khẩu điện về Việt Nam vào cuối năm 2025(21). Hợp tác này giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn cung và chuyển dịch sang năng lượng sạch, trong khi Lào đẩy mạnh xuất khẩu điện mặt hàng chiến lược trong mục tiêu trở thành “Bình điện của Đông Nam Á”. Việc kết nối lưới điện xuyên biên giới không chỉ giúp bảo đảm an ninh năng lượng cho Việt Nam mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho Lào. Dẫu vậy, vấn đề đánh giá tác động môi trường và xã hội của các dự án năng lượng, nhất là tại lưu vực sông Mekong, vẫn là thách thức cần được giải quyết.

Lãnh đạo Công ty cổ phần Cao su Việt Lào thăm vườn giống tại huyện Bachiang, tỉnh Champasak, Lào_Ảnh: tuoitre.vn

Để tăng cường hiệu quả hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào

Trong những năm gần đây, hợp tác giữa Việt Nam - Lào tiếp tục phát triển theo hướng đa tầng và đa chiều, bao gồm các cấp độ hợp tác song phương, đa phương tiểu vùng và đa phương mở rộng, phản ánh xu hướng chuyển dịch từ quan hệ hỗ trợ phát triển sang liên kết kinh tế thể chế hóa và định hướng bền vững. Ở cấp độ song phương, các cơ chế như Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam - Lào cùng với các hiệp định về thương mại, đầu tư, năng lượng và giao thông, đã tạo nền tảng pháp lý cho việc mở rộng hợp tác kinh tế biên giới. Việt Nam tiếp tục là nhà đầu tư và đối tác thương mại lớn hàng đầu của Lào, chiếm phần lớn giá trị đầu tư nội khối và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu kinh tế cửa khẩu song phương. Tuy nhiên, hợp tác song phương vẫn còn thiếu cân bằng, do chênh lệch năng lực phát triển và cơ chế chia sẻ lợi ích chưa thực sự hiệu quả.

Ở cấp độ đa phương tiểu vùng, cơ chế Tam giác Phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV-DTA) đã được thể chế hóa tương đối hoàn chỉnh, với cấu trúc ba tầng gồm Hội nghị Cấp cao, Hội nghị Bộ trưởng, và Ủy ban Điều phối chung, cùng các Kế hoạch Hành động giai đoạn 2004 - 2010, 2011 - 2020 và 2021 - 2030. Cơ chế này đóng vai trò điều phối chính sách phát triển vùng biên, xúc tiến thương mại, đầu tư và kết nối hạ tầng giữa Việt Nam và Lào. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi vẫn còn hạn chế do CLV - DTA chưa có Cơ quan Thường trực điều phối, nguồn tài chính phụ thuộc nhiều vào các đối tác phát triển khu vực và quốc tế, và tiến độ thực hiện các dự án còn chậm. Đặc biệt, việc Campuchia rút khỏi cơ chế hợp tác Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV - DTA) đã gây nên gián đoạn cơ chế ba bên tập trung, làm mất đi nền tảng huy động nguồn lực chung cũng như rủi ro về an ninh biên giới và quản lý tài nguyên khu vực biên giới trở nên cao hơn.

Ở cấp độ đa phương mở rộng, Việt Nam và Lào đã chủ động hội nhập vào các cơ chế lớn hơn như Chiến lược ACMECS, Chương trình GMS và trong phạm vi rộng hơn là ASEAN. Thông qua các khuôn khổ này, ba nước CLV được hưởng lợi từ nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ xanh do các thể chế tài chính quốc tế cung cấp, đặc biệt là ADB, World Bank. Các dự án trong khuôn khổ GMS Chiến lược Hợp tác năng lượng 2023 - 2030 và Kế hoạch tổng thể ACMECS 2023 - 2030 đã hỗ trợ ba nước phát triển năng lượng tái tạo, thúc đẩy trao đổi điện xuyên biên giới và hướng tới mô hình tăng trưởng xanh. Dù hiệu quả thực tiễn bước đầu đã thể hiện rõ, hợp tác mở rộng này vẫn đối mặt với thách thức về năng lực thể chế, minh bạch dự án và khả năng hấp thụ vốn quốc tế.

Tổng thể cho thấy, trên cả phương diện tổ chức và kết quả thực tiễn, hợp tác Việt Nam - Lào có cấu trúc hợp tác ba tầng rõ rệt: hợp tác song phương đóng vai trò nền tảng, hợp tác đa phương tiểu vùng là công cụ điều phối, trong khi hợp tác đa phương mở rộng là động lực hội nhập và phát triển bền vững. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả và tính tự chủ, Việt Nam và Lào cần xây dựng cơ chế điều phối chung có tính pháp lý cao hơn, thiết lập quỹ phát triển nội vùng, đồng thời đồng bộ hóa quy hoạch hạ tầng - thương mại - năng lượng nhằm hướng tới một mô hình hợp tác tiểu vùng năng động, tự cường và xanh hóa trong bối cảnh chuyển đổi phát triển của khu vực Mekong.

Bối cảnh mới toàn cầu và khu vực tạo ra các cơ hội và thách thức đồng thời đối với hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt - Lào. Trên bình diện toàn cầu, sự trỗi dậy của Trung Quốc, việc hình thành khối BRICS, cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, cùng với tiến trình Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã tạo ra áp lực lớn, nhưng cũng đồng thời thúc đẩy các nước Việt Nam và Lào củng cố quan hệ song phương, nâng cao tính tự chủ kinh tế - chính trị và giảm phụ thuộc vào một đối tác duy nhất. Trên bình diện khu vực, sự ổn định và tăng trưởng của ASEAN, cùng với các cơ chế hợp tác đa phương, tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam - Lào phát triển các dự án kinh tế, thương mại, năng lượng và hạ tầng biên giới, nhờ vào khung pháp lý minh bạch, tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ và cơ chế điều phối chính trị.

Trong khi đó, hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng Việt Nam - Lào phải đối mặt với các thách thức lớn. Môi trường kinh tế chính trị toàn cầu tiềm tàng nhiều bất ổn, tác động không tích cực đến triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào. Bên cạnh đó, xung đột tiềm tàng tại các điểm nóng trong khu vực và thế giới nếu xảy ra sẽ làm gián đoạn các hoạt động thương mại và đầu tư các nước trong khu vực, từ đó tác động không tích cực đến hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào. Ngoài ra, các thách thức toàn cầu và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng. Cạnh tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn tại ASEAN khiến cho sức mạnh tổng thể, tính trung tâm của ASEAN bị ảnh hưởng đáng kể, từ đó tác động đến khả năng hợp tác giữa các thành viên, trong đó có hợp tác Việt Nam - Lào. Thêm vào đó, các dự án địa chiến lược của các nước lớn đối với khu vực tạo ra những thách thức mới đối với hợp tác và kết nối kinh tế, cơ sở hạ tầng Việt Nam - Lào.

Để tăng cường tính hiệu quả trong hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào, cần tập trung thực hiện một số nội dung:

Thứ nhất, Việt Nam - Lào cần tiếp tục duy trì và mở rộng các liên kết song phương, đồng thời mời các đối tác thứ ba như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, ADB hay WB tham gia vào các dự án ưu tiên, đặc biệt về hạ tầng, năng lượng tái tạo và thương mại biên giới. Điều này vừa giúp duy trì dòng vốn và công nghệ cho Việt Nam và Lào, vừa tạo động lực để Campuchia quay trở lại khuôn khổ hợp tác CLV khi điều kiện thuận lợi. Vì vậy, cần có cơ chế hiệu quả để tiếp tục huy động nguồn lực quốc tế và phối hợp hỗ trợ kỹ thuật, nhằm bảo đảm các dự án năng lượng tái tạo và hạ tầng xanh được triển khai bền vững.

Thứ hai, Việt Nam cần khẳng định và phát huy vai trò “điều phối trung tâm” trong hợp tác Mekong, chủ động lồng ghép các ưu tiên của kết nối kinh tế, cơ sở hạ tầng Việt Nam - Lào vào khuôn khổ ACMECS, GMS và Chiến lược Hợp tác Mekong - Nhật Bản. Việt Nam có thể vận động các đối tác phát triển hỗ trợ mô hình “CLV mở rộng”, trong đó Việt Nam và Lào đóng vai trò hạt nhân, tạo điều kiện cho Campuchia quay trở lại khi điều kiện thuận lợi.

Thứ ba, Việt Nam và Lào nên tập trung nâng cấp các hành lang kinh tế và kết nối logistic Việt Nam - Lào, đồng thời thúc đẩy các dự án tăng giá trị gia tăng trong nông nghiệp, chế biến, năng lượng sạch và du lịch sinh thái.

Thứ tư, trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò trung tâm nhập khẩu và trung chuyển điện trong tiểu vùng, tập trung thúc đẩy hợp tác song phương Việt - Lào trong lĩnh vực thủy điện, năng lượng tái tạo và lưới điện liên kết. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể mở rộng hợp tác năng lượng với Lào theo cơ chế ACMECS hoặc GMS để tận dụng các nguồn lực và sự hỗ trợ từ các tổ chức khu vực và quốc tế.

Thứ năm, nhìn chung, cơ chế hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào có nền tảng pháp lý vững chắc, cơ cấu điều phối rõ ràng và tính ổn định cao, góp phần củng cố nền tảng liên kết thể chế và tăng cường tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, được hỗ trợ bởi niềm tin chính trị đặc biệt giữa hai nước. Tuy nhiên, để thích ứng với bối cảnh hội nhập kinh tế mới, hai bên cần đổi mới cơ chế phối hợp, tăng tính minh bạch và thúc đẩy vai trò của khu vực tư nhân. Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2030, cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng kết nối, số hóa thủ tục thương mại biên giới, và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, kinh tế số và chuỗi cung ứng xanh.

Trong bối cảnh hiện nay, việc thúc đẩy hợp tác và kết nối chiến lược giữa Việt Nam - Lào trong lĩnh vực kinh tế, kết cấu hạ tầng đang đứng trước cả những vận hội và thách thức mới. Cùng với nhu cầu, mong muốn tiếp tục thúc đẩy kết nối chiến lược, đổi mới và nâng cao tính hiệu quả của các cơ chế hợp tác từ hai phía, sự gia tăng các nguồn lực, nhất là từ phía Việt Nam cũng như kinh nghiệm rút ra trong hợp tác giữa hai nước và xu hướng kết nối về thể chế, kết cấu hạ tầng giữa các nước trong ASEAN, giữa các nước trong Tiểu vùng Mekong với các đối tác bên ngoài đang gia tăng cũng tạo ra cơ hội mới cho thúc đẩy kết nối chiến lược kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào. Chính vì vậy, sự đổi mới, nâng cao tính hiệu quả các cơ chế hợp tác, tăng cường các nguồn lực để kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng cần được nhận thức sâu sắc và có hành động cụ thể hơn./.

--------------------

* Bài viết là sản phẩm khoa học của nhiệm vụ: “Xu hướng quan hệ của Thái Lan với Lào và Campuchia đến năm 2030, tầm nhìn 2045: Những vấn đề đặt ra và thích ứng chính sách của Việt Nam”, mã số: 506.01-2024.04 do TS Trương Quang Hoàn là Chủ nhiệm, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NAFOSTED tài trợ.

(1) VOV (2023), “New milestones in Vietnam-Laos comprehensive cooperative relations”, https://english.vov.vn/en/politics/new-milestones-in-vietnam-laos-comprehensive-cooperative-relations-post1033367.vov, truy cập ngày 10-9-2025
(2) Cổng thông tin điện tử Chính phủ: “Quyết định số 422/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc kiện toàn Ủy ban Hợp tác Việt Nam - Lào trong Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2017/04/422.signed.pdf
(3) Tùng Linh (2024): “Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam - Lào”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2024-1-8/Ky-hop-lan-thu-46-Uy-ban-lien-Chinh-phu-ve-hop-tacu1uzyu.aspx, truy cập ngày 10-9-2025
(4) Bộ Công Thương (2024): “Chính thức ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Lào mới”, Vụ thị trường châu Á - châu Phi, https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo/chinh-thuc-ky-hiep-dinh-thuong-mai-viet-nam-lao-moi.html, truy cập ngày 10-9-2025
(5) “Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (1996)”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Hiep-dinh-khuyen-khich-bao-ho-dau-tu-giua-Viet-Nam-Lao-1996-81266.aspx., truy cập ngày 15-9-2025
(6) Hà Văn (2023), “Thúc đẩy hợp tác Việt Nam - Lào ngày càng thực chất, hiệu quả”, Báo Chính phủ điện tử, https://baochinhphu.vn/thuc-day-hop-tac-viet-nam-lao-ngay-cang-thuc-chat-hieu-qua-102230405191918487.htm, truy cập ngày 17-9-2025
(7) Xinhua (2022), “Laos to expand energy trade with Vietnam”, http://www.xinhuanet.com/english/2019-08/22/c_138329111.htm, truy cập ngày 17-9-2025
(8) Vannarith Chheang (2018), “The Cambodia-Laos-Vietnam Development Triangle Area”, ISEAS Perspective, No. 30, https://www.iseas.edu.sg/wp-content/uploads/pdfs/ISEAS_Perspective_2018_30@50.pdf, truy cập ngày 17-9-2025
(9) Bộ Công Thương (2022), “CLMV Action Plan for 2023-2024 period adopted”, https://moit.gov.vn/en/news/ministerial-leaders-activities/clmv-action-plan-for-2023-2024-period-adopted.html#:~:text=The%20CLMV%20Action%20Plan%20for%20the%202023-2024%20period,Minister%20of%20Industry%20and%20Trade%20Nguyen%20Hong%20Dien, truy cập ngày 27-9-2025
(10) ACMECS Secretariat (2020): “ACMECS Master Plan 2019–2023”, Bangkok, https://image.mfa.go.th/mfa/0/mkKfL2iULZ/migrate_directory/information-20180618-142227-835103.pdf
(11) Nguyen, T. M., & Pham, L. H (2021): Regional Cooperation in the Mekong Subregion: Trends and Challenges, Journal of Southeast Asian Studies, 52(3), 412–430
(12) Bộ Công Thương (2024): “Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2024”, Nhà xuất bản Công Thương, https://trungtamwto.vn/file/23903/bao-cao-xnk-vn-2024-1534_compressed.pdf
(13) Asian Development Bank (ADB) (2022): “The Greater Mekong Subregion Economic Cooperation Program Strategic Framework 2030”, Manila: ADB, https://www.adb.org/sites/default/files/institutional-document/678631/gms-economic-cooperation-strategic-framework-2030.pdf
(14) Bộ Tài chính (2024): “Báo cáo tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2024”, Cục Đầu tư nước ngoài, https://ipcs.mpi.gov.vn/bao-cao-tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-nam-2024
(15) Báo điện tử Chính phủ: “Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương”, https://baochinhphu.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-va-thu-tuong-lao-dong-chu-tri-ky-hop-lan-thu-46-uy-ban-lien-chinh-phu-ve-hop-tac-song-phuong-102240107115900978.htm, truy cập ngày 27-9-2025
(16) Báo điện tử Chính phủ: “Việt Nam - Lào đẩy mạnh kết nối kinh tế, sớm đạt mục tiêu 5 tỷ USD thương mại song phương”, https://baochinhphu.vn/viet-nam-lao-day-manh-ket-noi-kinh-te-som-dat-muc-tieu-5-ty-usd-thuong-mai-song-phuong-102250109105904898.htm, truy cập ngày 20-10-2025
(17) VietnamPlus: “Việt Nam - Lào: Tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện”, https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-lao-tinh-huu-nghi-vi-dai-doan-ket-dac-biet-hop-tac-toan-dien-post1060053.vnp, truy cập ngày 20-10-2025
(18) Bộ Công Thương: “Năng lượng và mỏ là trụ cột hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào”, https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-nang-luong/nang-luong-va-mo-la-tru-cot-hop-tac-kinh-te-viet-nam-lao.html, truy cập ngày 20-10-2025
(19) Tuổi trẻ và Pháp luật: “Việt Nam mua điện từ 26 nhà máy thủy điện tại Lào”, https://phapluat.tuoitrethudo.vn/viet-nam-mua-dien-tu-26-nha-may-thuy-dien-tai-lao-88126.html, truy cập ngày 20-10-2025
(20) “Việt Nam mua điện từ 26 nhà máy thủy điện tại Lào”, https://tuoitre.vn/viet-nam-mua-dien-tu-26-nha-may-thuy-dien-lao-20240107161515734.htm, truy cập ngày 20-10-2025
(21) “T&T Group's wind power project in Laos will export electricity to Vietnam by the end of 2025”, https://www.vietnam.vn/en/du-an-dien-gio-cua-tt-group-tai-lao-xuat-khau-dien-ve-viet-nam-cuoi-nam-2025, truy cập ngày 20-10-2025