Những tiến triển mới trong quan hệ Việt Nam - Nga
TCCS - Năm 2001, Việt Nam và Liên bang Nga chính thức ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược. Mười năm trôi qua, mối quan hệ này đã được hai nước chú trọng phát triển trên mọi bình diện. Đặc biệt, nước Nga dưới thời Tổng thống Đ.Mét-vê-đép nhận thức rõ hơn vai trò của Việt Nam trong việc đáp ứng lợi ích nhiều mặt của Nga tại Việt Nam, cũng như trong việc nâng cao ảnh hưởng và lợi ích của Nga ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Do vậy, chính sách của Nga đối với Việt Nam đã có một số điều chỉnh tích cực nhằm thúc đẩy tiến triển quan hệ giữa hai nước.
Sự điều chỉnh chính sách của Nga đối với Việt Nam dưới thời Tổng thống Đ.Mét-vê-đép
Sự điều chỉnh chính sách của Liên bang Nga đối với Việt Nam dưới thời Tổng thống Đ.Mét-vê-đép được thể hiện trong bản “Những định hướng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga”, công bố ngày 12-7-2008, trong đó nhấn mạnh: “Chính sách đối ngoại của Nga hướng tới việc tăng cường tính năng động tích cực trong quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á, trước hết là phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam”. Đây là lần đầu tiên Việt Nam được nhắc đến và được nhấn mạnh như vậy trong chính sách đối ngoại của Nga.
Nhìn lại tình hình nước Nga và thế giới giữa năm 2008, có thể nhận thấy sự nhấn mạnh này không phải là không có cơ sở.
Trong chiến lược trở lại châu Á - Thái Bình Dương trên tư cách một thành viên thực sự, Nga nhận thấy vai trò quan trọng của Việt Nam. Trước hết là bởi, trong các mối quan hệ đối ngoại của Nga hiện nay, mối quan hệ thủy chung, trước sau như một, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau như giữa Nga với Việt Nam là hiếm có. Không những thế, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, bên cạnh vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển thế giới của các nước lớn, vai trò của các nước vừa và nhỏ, cũng như của các tổ chức liên kết các nước vừa và nhỏ đang ngày càng gia tăng, do vậy, không một nước lớn nào muốn bỏ qua cơ hội thiết lập quan hệ bền chặt với các tổ chức khu vực này. Trong số các tổ chức đó, ASEAN nổi lên là một tổ chức hợp tác, liên kết khu vực thành công nhất và những đóng góp tích cực của Việt Nam được tất cả các nước trong khu vực thừa nhận. Cụ thể là những sáng kiến hữu ích của Việt Nam trong tiến trình hợp tác, liên kết ASEAN, trong xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột (chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội), cũng như trong đấu tranh để ASEAN vẫn là hạt nhân trong Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), trong Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Bên cạnh đó, với 25 năm thực hiện thành công công cuộc đổi mới, với chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, đối tác có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành công, ngày càng gia tăng thế và lực trên trường quốc tế, khu vực.
Phát triển hợp tác toàn diện với Việt Nam giúp Nga thúc đẩy và gia tăng lợi ích, tầm ảnh hưởng của mình trên tất cả các lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi trong việc hỗ trợ Nga hội nhập thực sự vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Với cách nhìn nhận mới về vai trò của Việt Nam và những thuận lợi sẵn có trong quan hệ truyền thống, các hoạt động đối ngoại giữa hai nước được thúc đẩy một cách tích cực cả về bề rộng lẫn chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực. Với quyết tâm chính trị cao, quan hệ Nga - Việt Nam trong những năm cầm quyền của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép đã mang lại những kết quả thiết thực trong quan hệ song phương cũng như trong các tổ chức quốc tế mà hai nước là thành viên.
Tiến triển trong quan hệ Việt Nam - Nga những năm gần đây
Về chính trị - đối ngoại, hai nước thường xuyên có các cuộc gặp gỡ cấp cao, khẳng định quyết tâm tạo cơ sở hợp tác có hiệu quả giữa hai nước ở nhiều cấp độ, quốc gia, khu vực cũng như toàn cầu. Hoạt động ngoại giao được triển khai tích cực trên cả ba kênh (ngoại giao nhà nước, ngoại giao chính đảng và ngoại giao nhân dân), các lĩnh vực hợp tác cũng ngày càng được mở rộng. Tháng 11-2008, cơ chế đối thoại chiến lược Việt Nam - Nga bắt đầu đi vào hoạt động, mở đầu bằng cuộc gặp cấp thứ trưởng ngoại giao của hai nước. Đáng chú ý, ngoài những vấn đề quan hệ song phương, lãnh đạo hai nước, thông qua các cuộc gặp chính thức tại mỗi nước và bên lề các hội nghị, diễn đàn, tổ chức quốc tế, bàn thảo nhiều vấn đề chính trị - an ninh quốc tế mà hai bên cùng quan tâm, tạo nên sự đồng thuận và thúc đẩy hợp tác.
Trong chuyến thăm chính thức Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 12-2009, quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực được hai bên khẳng định, cùng quyết tâm đưa vào chiều sâu; nhấn mạnh ý nghĩa quyết định của cơ chế đối thoại chính trị thường niên cấp cao, giúp lãnh đạo hai nước kịp thời trao đổi ý kiến và thống nhất các biện pháp phát triển quan hệ song phương. Lãnh đạo hai nước cũng bàn thảo vấn đề thúc đẩy đàm phán về hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Nga.
Đặc biệt, năm 2010 là năm có nhiều chuyến thăm lẫn nhau nhất của lãnh đạo cấp cao hai nước: Tháng 5-2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tham dự Lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Chiến thắng phát-xít tại Nga; tháng 7-2010, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm Nga theo lời mời của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép. Cuối tháng 10-2010, Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép thăm chính thức Việt Nam, tham dự Hội nghị cấp cao Nga - ASEAN lần thứ hai. Các cuộc tiếp xúc cấp cao nhất này cùng với hàng loạt các hoạt động khác bên lề các hội nghị đã tái khẳng định quyết tâm của lãnh đạo hai nước trong việc đưa mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Việt Nam lên tầm cao mới về chất, tạo điều kiện để hai bên giải quyết kịp thời những vấn đề còn tồn tại, thúc đẩy sự năng động cần thiết, mở ra xu hướng mới cho tổng thể quan hệ hợp tác Nga - Việt Nam trên tất cả các bình diện. Cùng với những nỗ lực ngoại giao của Nga, vai trò hỗ trợ tích cực và hiệu quả của Việt Nam, Nga đã tham gia ASEM và EAS với tư cách thành viên chính thức. Trên thực tế, đến nay, sự hợp tác chiến lược Nga - Việt Nam đã trở thành một nhân tố quan trọng, có ảnh hưởng tích cực tới tình hình Đông Nam Á và toàn khu vực. Vì vậy, nếu như cựu Tổng thống V.Pu-tin từng khẳng định, “Việt Nam không những là đối tác chiến lược rất quan trọng của Nga ở Đông Nam Á, mà còn ở châu Á - Thái Bình Dương”, thì Tổng thống Đ.Mét-vê-đép hiện thực hóa quyết tâm đưa mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Việt Nam lên tầm cao thật sự về chất, chứng tỏ hiệu quả trên thực tế. Ngoại trưởng Nga X.La-vrốp nhận định: “Nga và Việt Nam đang hợp tác hiệu quả tại khu vực, trước hết trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), cũng như trong khuôn khổ đối thoại Nga - ASEAN”.
Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại, nhờ những thuận lợi từ quan hệ chính trị - ngoại giao những năm gần đây, quan hệ kinh tế Nga - Việt Nam có những tiến triển tích cực, đặc biệt là trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép.
Về thương mại, nếu cho tới năm 2006, kim ngạch thương mại hai chiều mới đạt 869 triệu USD, năm 2007 lần đầu tiên vượt 1 tỉ USD, thì năm 2008 đạt tới con số trên 1,6 tỉ USD, tăng 62,4% so với 2007, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Nga 671,9 triệu USD (tăng 46,4%), nhập khẩu từ Nga 969,6 triệu USD (tăng 75,5%). Năm 2009, do bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường Nga gặp khó khăn, nên kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 415 triệu USD, song nhập khẩu lại lên tới 1,415 tỉ USD, vì vậy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước cả năm vẫn đạt 1,83 tỉ USD, tăng 11,5% so với năm 2008. Còn theo số liệu từ phía Nga, trong 8 tháng đầu năm 2010, thương mại hai chiều Nga - Việt Nam đạt 1,17 tỉ USD.
Năm 2009, Nga chỉ là đối tác thương mại lớn thứ 16 của Việt Nam, hàng hóa Nga chiếm 1,4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam; về phía Nga, chỉ số tương ứng là 0,4%. Năm 2009, Nga là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 24 của Việt Nam, đồng thời là thị trường nhập khẩu lớn thứ 12 của các doanh nghiệp Việt Nam. Vì thế, hai nước đang quyết tâm thúc đẩy thương mại hai chiều hướng tới 3 tỉ USD năm 2011 và tiến tới 10 tỉ USD vào năm 2020.
Về đầu tư, năm 2010, Nga có 65 dự án đầu tư ở Việt Nam (không kể liên doanh Vietsovpetro) đang hoạt động với tổng số vốn đăng ký là 757,4 triệu USD (vốn đầu tư thực tế là 568,2 triệu USD). Tại Nga, Việt Nam có 13 dự án đầu tư trị giá 78,4 triệu USD (vốn thực hiện là 31,5 triệu USD). Thời gian tới, các công ty Việt Nam có kế hoạch đầu tư 1,7 tỉ USD vốn pháp định cho hai dự án xây dựng trung tâm thương mại tại Mát-xcơ-va và 2 tỉ USD vào Liên doanh Rus-VietPetro. Dầu khí, năng lượng vẫn là lĩnh vực hợp tác truyền thống và hiệu quả, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách hai nước. Tháng 10-2008, hai bên đã ký Nghị định thư chuyển đổi Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên sau năm 2010. Hai bên tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực dầu khí không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Nga và tiến tới ở các nước thứ ba. Tập đoàn khí đốt Gazprom của Nga cũng đang mở rộng hợp tác với Petrovietnam.
Bước tiến gần đây nhất là ngày 30-10-2010, nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Đ.Mét-vê-đép, Việt Nam và Nga đã ký 12 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực khác nhau, trong đó có Hiệp định liên chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam với các điều kiện bảo đảm cần thiết, để hai bên khẩn trương hợp tác triển khai thực hiện các thỏa thuận và các dự án quan trọng này.
Lĩnh vực an ninh - quốc phòng là lĩnh vực hợp tác truyền thống giữa hai nước, tiếp tục được phát triển sâu rộng. Quan hệ hợp tác quốc phòng và kỹ thuật quân sự Việt Nam - Nga được đánh giá là ổn định, vững chắc, đạt hiệu quả cao, góp phần tích cực vào việc tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau. Việt Nam trong nhiều năm nay là nhà nhập khẩu vũ khí lớn thứ chín của Nga. Trong chuyến thăm Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 12-2009, Nga thỏa thuận bán cho Việt Nam một số lượng khá lớn vũ khí hạng nặng, trong đó có tàu ngầm, máy bay tiêm kích, trực thăng... Hai bên cũng hợp tác trao đổi thông tin chống khủng bố quốc tế. Hải quân Nga cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi để giúp Hải quân Việt Nam trong xây dựng căn cứ đồn trú tàu ngầm, nâng cấp lực lượng hàng không trên biển.
Quan hệ Việt Nam - Nga trên các lĩnh vực khác như khoa học - kỹ thuật, văn hóa - giáo dục cũng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn thông qua các cơ quan như Trung tâm Nhiệt đới Nga - Việt, Trung tâm Khoa học và văn hóa Nga tại Việt Nam, Hội hữu nghị Nga - Việt,... Thủ tướng hai nước cam kết sẽ xúc tiến thành lập Đại học quốc tế Nga - Việt tại Việt Nam, ký Hiệp định công nhận lẫn nhau về văn bằng. Từ năm học 2010 - 2011, mỗi năm, Nga dành cho Việt Nam 300 suất học bổng đào tạo ở Nga. Các hoạt động giao lưu văn hóa giữa hai nước diễn ra sôi nổi, trong đó có việc tổ chức Những ngày văn hóa Nga tại Việt Nam, Những ngày văn hóa Việt Nam tại Nga, giao lưu gặp gỡ thầy trò Xô - Việt, Tuần phim Nga tại Việt Nam... Đầu tháng 12-2010, tại Thủ đô Mát-xcơ-va đã khai trương Trung tâm giải trí lớn nhất của người Việt ở Nga. Trung tâm giải trí này thuộc quần thể Trung tâm thương mại Mát-xcơ-va, do Tập đoàn Lotus - M (Việt Nam) đầu tư xây dựng với trị giá khoảng 2 triệu USD.
Hợp tác trong lĩnh vực du lịch cũng phát triển, lượng du khách Nga sang Việt Nam tăng trung bình hằng năm hơn 30%, đạt khoảng 40.000 lượt khách/năm. Từ 01-01-2009, Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho du khách Nga vào Việt Nam dưới 15 ngày. Trên lĩnh vực y tế, Bệnh viện Mắt liên doanh Việt - Nga vào tháng 2-2010 đã tiếp nhận những bệnh nhân đầu tiên. Cơ sở này đủ điều kiện tiếp nhận điều trị, chăm sóc nhãn khoa cho 10 - 20 ngàn bệnh nhân và khám mắt cho 40 - 50 ngàn người. Năm 2009 cũng ghi nhận sự mở rộng hoạt động viễn thông của Gtel-Mobile thuộc hãng Vympelkom ở Việt Nam với tên gọi Beeline.
Về cộng đồng người Việt Nam tại Nga, do yếu tố lịch sử và quan hệ hữu nghị giữa hai nước, có khoảng 60 - 80 nghìn người Việt đã và đang làm ăn, sinh sống tại Nga qua nhiều thập niên. Một số kiều bào người Việt tại Nga đã trở thành doanh nhân thành đạt, tăng cường hoạt động đầu tư tại Nga và đầu tư trở lại Việt Nam. Bước tiến đáng chú ý là tháng 10-2008, hai bên đã ký và hoàn tất việc phê chuẩn ba hiệp định: Hiệp định về lao động có thời hạn; Hiệp định hợp tác đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và tạo thuận lợi cho di cư hợp pháp; Hiệp định nhận trở lại công dân, tạo cơ sở pháp lý cho cộng đồng người Việt được cư trú hợp pháp ở Nga, đồng thời mở ra triển vọng hợp tác trong lĩnh vực sử dụng lao động.
Tóm lại, nước Nga thời Tổng thống Đ.Mét-vê-đép nhận thức rõ hơn vai trò của Việt Nam trong việc đáp ứng lợi ích nhiều mặt của Nga tại Việt Nam, cũng như trong việc thực thi hiệu quả chiến lược nâng cao ảnh hưởng và lợi ích của Nga ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Vì vậy, cùng với những nỗ lực của Việt Nam, sự điều chỉnh chính sách với Việt Nam của chính quyền Tổng thống Đ.Mét-vê-đép đã mang lại những kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực quan hệ song phương và đa phương ở khu vực và trên trường quốc tế. Tuy nhiên, cho dù những kết quả hợp tác Việt Nam - Nga, về kinh tế - thương mại, văn hóa, giáo dục - đào tạo... đã có những tiến triển tích cực, nhưng vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của mỗi nước. Để đáp ứng lợi ích lâu dài của cả hai nước, các ngành, các cấp cần có những biện pháp hữu hiệu, thiết thực hơn nữa nhằm tăng cường quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực quan hệ song phương cũng như trong các tổ chức quốc tế. Đặc biệt, các doanh nghiệp của cả Nga và Việt Nam cần tích cực hơn trong các hoạt động xúc tiến quan hệ kinh tế - thương mại, sao cho mối quan hệ Việt Nam - Nga thật sự đúng nghĩa là “đối tác chiến lược”. Điều này không chỉ có lợi cho hai nước Nga và Việt Nam, mà còn cho cả ASEAN và châu Á - Thái Bình Dương./.
Hướng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đến giảm nghèo bền vững  (13/02/2011)
Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng và Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan làm việc tại các tỉnh nhân đầu Xuân mới  (12/02/2011)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xây dựng chính quyền số - Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu và gợi mở cho Việt Nam
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm