TCCS - Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Bộ Chính trị ban hành theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018 là định hướng chiến lược quan trọng, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy phát triển kinh tế biển của nước ta: từ khai thác thuần túy sang phát triển bền vững, toàn diện và có trách nhiệm. Chiến lược này đặt ra mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững kinh tế biển và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Một trong những quan điểm xuyên suốt và mang tính chỉ đạo trong Nghị quyết số 36-NQ/TW là: “Phát triển kinh tế biển bền vững phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn và phát huy các giá trị đa dạng sinh học biển; các hoạt động kinh tế biển phải không gây tổn hại đến môi trường, sinh thái biển và ven biển”. Đây là sự khẳng định rõ ràng về mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời giữa phát triển kinh tế biển với bảo tồn và bảo vệ môi trường.

Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành các kế hoạch, chương trình hành động phát triển kinh tế biển, trong đó có Chương trình hành động số 27-CTr/TW, ngày 27-3-2019 thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh. Thời gian qua, Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Một số kết quả đạt được trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế biển

Tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng của các hoạt động du lịch và dịch vụ. Ngành du lịch và dịch vụ biển ngày càng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành dịch vụ từ 43,1% năm 2015 lên 44,6% năm 2020.  

Trong bối cảnh phát triển kinh tế biển bền vững, tỉnh Quảng Ninh đã chủ động và linh hoạt trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, tập trung nâng cao vai trò của ngành du lịch và dịch vụ biển như một trụ cột quan trọng. Việc tăng tỷ trọng của các hoạt động du lịch, dịch vụ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế về vị trí địa lý ven biển, góp phần đa dạng hóa các nguồn thu, giảm sự phụ thuộc vào các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt hoặc gây tổn hại môi trường.

Sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch biển ở tỉnh Quảng Ninh được thể hiện rõ nét qua việc đầu tư bài bản, đồng bộ vào hạ tầng du lịch, dịch vụ như các khu nghỉ dưỡng cao cấp, hệ thống cảng tàu khách quốc tế Tuần Châu, Hòn Gai, cùng với việc phát triển các dịch vụ đi kèm, như vận tải biển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản thiên nhiên như Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận, qua đó thu hút ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng du lịch và dịch vụ góp phần tạo việc làm đa dạng và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương, đặc biệt là các cộng đồng ven biển, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nghèo bền vững. Tỉnh Quảng Ninh cũng chú trọng phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường, thúc đẩy các mô hình du lịch sinh thái, du lịch xanh nhằm hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển và vùng ven biển.

Bên cạnh đó, sự chuyển dịch này cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh trong chuỗi giá trị khu vực và quốc tế, khi dịch vụ biển hiện đại, chất lượng cao được xem là một trong những lĩnh vực thu hút đầu tư và phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

Tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh ngày càng tăng phản ánh hiệu quả đóng góp của chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững, đồng thời thể hiện sự chuyển dịch mạnh mẽ, phù hợp với xu hướng phát triển mới, chú trọng khai thác bền vững nguồn lợi biển, tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh Quảng Ninh tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu kinh tế biển của vùng duyên hải Bắc Bộ, đồng thời góp phần thực hiện thành công Nghị quyết số 36-NQ/TW về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tỉnh đã đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển hiện đại, như Cảng tàu khách quốc tế Tuần Châu, cảng tàu khách quốc tế Hòn Gai, cảng Cửa Ông, cảng Cái Lân, cảng biển Hải Hà. Ngoài ra, các khu kinh tế ven biển, như Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Đặc khu Vân Đồn, Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà cũng được hình thành và phát triển, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các khu kinh tế này được quy hoạch bài bản, tích hợp đa dạng chức năng kinh tế từ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch đến logistics, tạo ra các trung tâm kinh tế năng động, thu hút nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước. Việc phát triển các khu kinh tế ven biển đi đôi với nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh thông qua cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các khu kinh tế này cũng được chú trọng phát triển theo hướng xanh, bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo tồn hệ sinh thái ven biển đa dạng và quý giá của Quảng Ninh.

Khu kinh tế ven biển Vân Đồn là một minh chứng điển hình cho sự phát triển toàn diện, đa ngành và hiện đại. Vân Đồn không chỉ phát triển hạ tầng cảng biển, sân bay quốc tế mà còn thu hút nhiều dự án lớn về du lịch nghỉ dưỡng, dịch vụ chất lượng cao và công nghiệp công nghệ cao. Khu kinh tế Vân Đồn đã trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế tổng thể của Quảng Ninh, góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế, xã hội của tỉnh.

Ngoài ra, Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biên mậu với Trung Quốc, là cửa ngõ giao thương chính và điểm kết nối logistics thiết yếu. Các dự án phát triển hạ tầng, mở rộng cảng, nâng cấp khu vực cửa khẩu được tỉnh ưu tiên đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại biên giới, góp phần phát triển kinh tế vùng và tăng nguồn thu ngân sách.

Một số dự án trọng điểm về hạ tầng cảng biển và khu kinh tế ven biển đã được tỉnh Quảng Ninh tập trung đầu tư và triển khai, tạo nên sức bật mạnh mẽ cho phát triển kinh tế biển của tỉnh. Điển hình như dự án cảng biển Cái Lân, được biết đến là một trong những cảng biển lớn và hiện đại nhất phía Bắc Việt Nam. Cảng Cái Lân có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn, đồng thời là trung tâm xuất nhập khẩu hàng hóa quan trọng của tỉnh và khu vực lân cận. Việc mở rộng, nâng cấp cảng đã giúp tăng năng lực thông qua hàng hóa, rút ngắn thời gian vận chuyển và giảm chi phí logistics, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Hệ thống cảng biển hiện đại với nhiều cảng quan trọng như cảng tàu khách quốc tế Tuần Châu và cảng tàu khách quốc tế Hòn Gai phục vụ nhu cầu vận chuyển hành khách, là đầu mối quan trọng cho các tuyến du lịch biển quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và sức hút của du lịch biển Quảng Ninh trên bản đồ khu vực. Bên cạnh đó, các cảng chuyên dụng, như cảng Cửa Ông, cảng Cái Lân và cảng biển Hải Hà được phát triển nhằm phục vụ vận tải hàng hóa, đóng vai trò trung chuyển quan trọng cho hàng hóa xuất nhập khẩu, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho các ngành công nghiệp chế biến, logistics và thương mại của cả khu vực.

Phát triển hạ tầng cảng biển và các khu kinh tế ven biển là một trong những trụ cột chiến lược quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế biển bền vững của tỉnh Quảng Ninh. Nhận thức rõ vai trò then chốt của cảng biển trong việc kết nối vùng, thúc đẩy giao thương quốc tế và phát triển logistics, tỉnh đã đầu tư bài bản, đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống cảng biển, tạo ra những bước đột phá trong kết cấu hạ tầng ven biển.

Nhờ những bước tiến quan trọng trong phát triển hạ tầng cảng biển và khu kinh tế ven biển, tỉnh Quảng Ninh đã trở thành một trong những đầu mối giao thương hàng hóa và trung tâm logistics quan trọng của vùng duyên hải Bắc Bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Điều này không chỉ tạo ra động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế mà còn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đồng thời mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư trong lĩnh vực kinh tế biển.

Những dự án này thể hiện sự đầu tư bài bản, chiến lược và toàn diện của tỉnh Quảng Ninh trong phát triển kinh tế biển, đồng thời tạo ra những lợi thế cạnh tranh quan trọng, giúp tỉnh trở thành một cực tăng trưởng kinh tế biển năng động và bền vững của khu vực miền Bắc và cả nước.

Trong quá trình phát triển các cảng biển và khu kinh tế ven biển, tỉnh đã chủ động áp dụng các giải pháp công nghệ xanh, kiểm soát nghiêm ngặt các hoạt động khai thác, xây dựng hệ thống xử lý chất thải và bảo vệ các hệ sinh thái biển quan trọng như rừng ngập mặn, san hô và đa dạng sinh học vùng ven biển. Các khu kinh tế ven biển được quy hoạch phát triển theo mô hình kinh tế xanh, thân thiện với môi trường, đồng thời tăng cường giám sát và quản lý chất lượng môi trường để hạn chế các tác động tiêu cực từ hoạt động công nghiệp và vận tải biển.

Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh đã đẩy mạnh các chương trình phục hồi hệ sinh thái biển sau thiên tai và tác động môi trường, góp phần nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc cân bằng hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn môi trường không chỉ giúp duy trì nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học mà còn tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển lâu dài và bền vững của kinh tế biển tỉnh.

Với hệ thống cảng biển nước sâu, tỉnh Quảng Ninh tập trung phát triển các địa phương: Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Quảng Yên, Vân Đồn, Cô Tô, Hải Hà gắn với các ngành kinh tế biển; trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới thông qua đường biển. Tỉnh cũng cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực kinh tế biển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và phát huy tiềm năng, lợi thế của biển. Thông qua ban hành cơ chế, chính sách, tỉnh đã thành địa phương hấp dẫn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế; hấp dẫn các doanh nghiệp có kinh nghiệm, năng lực tài chính và ý tưởng đầu tư đồng bộ (hệ thống cảng biển, hậu cần logistics, kinh doanh đa loại hình dịch vụ) theo chuỗi đạt chuẩn quốc tế.

Tỉnh Quảng Ninh đã và đang nỗ lực củng cố, phát huy vai trò các trụ cột quan trọng là phát triển du lịch - dịch vụ biển mang tầm khu vực và quốc tế; đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển nước sâu, các âu tàu du lịch đẳng cấp quốc tế; xây dựng chuỗi khu kinh tế, khu đô thị biển - ven biển. Đầu tư phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản ven biển và trên biển công nghệ cao, hiệu quả, bền vững; khuyến khích làm dược liệu biển và thực phẩm dinh dưỡng từ sản phẩm biển; ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo giá trị gia tăng của sản phẩm biển. Quy hoạch không gian ven biển, ven bờ (ven đảo lớn) cho phát triển du lịch bền vững kết hợp phát triển các lĩnh vực kinh tế - dịch vụ dựa vào bảo tồn biển là thế mạnh vượt trội ở tỉnh Quảng Ninh.

Tỉnh Quảng Ninh tập trung phát triển thành trung tâm logistics trọng điểm của cả nước, cửa ngõ trung chuyển hướng biển của khu vực; tăng khả năng liên kết không gian kinh tế ven bờ, biển và đảo, tạo động lực phát triển cho vùng Đông Bắc và cả nước.

Phát triển kinh tế biển đã có những kết quả tích cực và đóng góp quan trọng cho tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW, kinh tế biển của Quảng Ninh đã cơ bản phát triển toàn diện, đúng hướng, từng bước được định hình rõ nét và đạt được những kết quả tích cực. Trong giai đoạn 2011 - 2021, tỷ trọng bình quân giá trị gia tăng của các ngành kinh tế biển chiếm khoảng 20% (khá cao so với mục tiêu của cả nước theo Nghị quyết số 36-NQ/TW là 10%)(1). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2011 - 2020 của các ngành kinh tế biển của Quảng Ninh khá cao, khoảng 8,6%, xấp xỉ mức tăng trưởng bình quân chung của toàn tỉnh và có xu hướng vận động gần giống nhau. Tổng thu ngân sách của 9 địa phương ven biển giai đoạn 2019 - 2022 là 128.969 tỷ đồng, chiếm 84,9% tổng thu nội địa toàn tỉnh và có xu hướng tăng qua các năm. Thu ngân sách của các ngành kinh tế biển theo Nghị quyết 36-NQ/TW trong giai đoạn 2019 - 2022 là 42.050 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 15,62%(2).

Với sự quan tâm đầu tư đồng bộ, hiệu quả, kinh tế biển của tỉnh đã ngày càng phát huy và khẳng định được vị thế. Đóng góp của ngành công nghiệp ven biển vào thu ngân sách giai đoạn 2019 - 2022 là 11.360 tỷ đồng, chiếm 38,49 tỷ trọng trong tổng thu nội địa của các ngành kinh tế biển. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GRDP của tỉnh; năm 2022 tốc độ tăng trưởng của ngành này tăng 16,54%, chiếm 11,5% trong GRDP của tỉnh. Tổng doanh thu dịch vụ cảng biển năm 2021 - 2022 trên địa bàn tỉnh đạt 6.230 tỷ đồng, tăng bình quân 27,5%/năm, cao hơn mục tiêu đề ra là 17,5%/năm. Đến hết năm 2022, tỷ trọng đóng góp của dịch vụ cảng biển đạt khoảng 0,49% trong GRDP của tỉnh, tăng 0,09 điểm % so với năm 2020(3).

Một số định hướng, giải pháp phát triển kinh tế biển bền vững thời gian tới

Thứ nhất, cần tích hợp bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường biển vào các quy hoạch phát triển kinh tế biển cấp quốc gia, vùng và địa phương. Việc xây dựng quy hoạch không gian biển một cách khoa học, dựa trên dữ liệu môi trường, sinh thái, kinh tế - xã hội là điều kiện tiên quyết.

Thứ hai, cần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển sinh thái, như du lịch sinh thái biển, nuôi biển theo hướng sinh học, sử dụng năng lượng tái tạo biển (gió, sóng) để thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch gây ô nhiễm.

Thứ ba, cần thiết lập và mở rộng các khu bảo tồn biển, khu sinh quyển ven biển, nơi các hoạt động kinh tế được kiểm soát nghiêm ngặt và ưu tiên bảo vệ hệ sinh thái. Các khu vực này không chỉ có ý nghĩa sinh thái mà còn là “phòng thí nghiệm tự nhiên” cho nghiên cứu và giáo dục cộng đồng.

Thứ tư, tăng cường thể chế pháp luật và năng lực thực thi trong quản lý biển, đặc biệt là kiểm soát ô nhiễm, giám sát đánh bắt thủy sản, quản lý chất thải và kiểm soát tác động môi trường trong các dự án phát triển. Đồng thời, cần chú trọng đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý biển, sự phối hợp liên ngành, liên vùng.

Thứ năm, phát huy vai trò, sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Người dân ven biển cần được nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường biển, được hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững. Doanh nghiệp cũng cần có trách nhiệm xã hội trong việc đầu tư vào các mô hình kinh doanh xanh, thân thiện với môi trường, hạn chế xả thải ra biển. Cuối cùng, cần mở rộng hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ trong nghiên cứu biển sâu, bảo tồn biển, ứng phó với các thách thức xuyên biên giới như ô nhiễm biển, rác thải nhựa đại dương, biến đổi khí hậu.

Phát triển kinh tế biển gắn với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kết hợp giữa lý luận phát triển bền vững, thực tiễn quản lý hệ sinh thái, ứng dụng khoa học công nghệ và sự tham gia của toàn xã hội. Trong điều kiện của tỉnh Quảng Ninh - một địa phương có tiềm năng biển lớn việc xác lập mô hình phát triển kinh tế biển bền vững là cơ sở quan trọng mang lại lợi ích kinh tế lớn, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sống, giữ gìn di sản thiên nhiên./.

 

-------------------------------

(1) Hiểu Trân: “Khẳng định vị thế trung tâm kinh tế biển quốc gia”, Báo Quảng Ninh điện tử, 13-9-2025, https://baoquangninh.vn/khang-dinh-vi-the-cua-ngo-vung-dong-bac-3375554.html
(2) Thu Chung: Xây dựng, phát triển Quảng Ninh trở thành một trung tâm kinh tế biển bền vững của cả nước, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, 18-4-2023, https://www.quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=121075
(3) Gia Kiên: “Phát triển bền vững kinh tế biển, tạo bước phát triển đột phá của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn tới”, Tạp chí Cộng sản điện tử, 22-10-2025, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/trang-doanh-nghiep1/-/2018/845902/view_content