Xử lý hài hòa, hiệu quả vấn đề tôn giáo nhằm củng cố, thắt chặt khối đại đoàn kết các dân tộc vùng Tây Nguyên
TCCS - Tây Nguyên là vùng đất nằm ở vị trí địa - chiến lược quan trọng của cả nước, nơi hội tụ nhiều tiềm năng, thế mạnh riêng có, nhất là nguồn lực tài nguyên thiên nhiên đặc sắc và nền văn hóa phong phú. Mảnh đất hùng vĩ này có bức tranh tôn giáo nhiều màu sắc, hòa quyện với hệ thống tín ngưỡng truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nên mối quan hệ chặt chẽ giữa yếu tố dân tộc và yếu tố tôn giáo. Tuy nhiên, thực trạng đa dạng về tôn giáo cũng cần xử lý hài hòa nhằm củng cố vững chắc khối đại đoàn kết các dân tộc vùng Tây Nguyên trong tình hình mới.
Tây Nguyên - mảnh đất hùng vĩ đa tôn giáo, tín ngưỡng
Vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Ngay sau ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó có lĩnh vực “tôn giáo”. Nguyên tắc bảo đảm tự do tôn giáo, tín ngưỡng được thể hiện ngay ở các văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng và Nhà nước sau Cách mạng Tháng Tám, cụ thể: Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, trong đó ghi nhận nhân dân có quyền “tự do tín ngưỡng”; Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam cũng đã nhấn mạnh:“Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của mọi người dân”; năm 1955, Sắc lệnh số 234/SL (văn bản quy phạm pháp luật riêng cho tôn giáo sớm nhất ở Việt Nam) được ban hành, đông đảo tín đồ, chức sắc các tôn giáo nhiệt liệt hoan nghênh, ủng hộ(1), nêu rõ các quyền truyền đạo, giảng đạo, đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, tham gia hoạt động xã hội,… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề cao khía cạnh cao đẹp về đạo đức và nhân văn của tôn giáo: “Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái/Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi/Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(2).
Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy những giá trị tích cực về đạo đức, văn hoá và các nguồn lực của tôn giáo phục vụ phát triển đất nước(3), nhờ đó, hoạt động tôn giáo ngày càng chuyển biến tích cực, nền nếp, tuân thủ pháp luật, đường hướng sinh hoạt tiến bộ gắn với các hoạt động an sinh xã hội. Tính đến tháng 5-2024, Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với hơn 27 triệu tín đồ (chiếm trên 27% dân số cả nước); trên 54.000 chức sắc, 135.500 chức việc; hơn 29.600 cơ sở thờ tự tôn giáo. Mỗi tôn giáo ở Việt Nam đều có đức tin, hệ thống giáo lý, giáo luật, thành phần tín đồ khác nhau, nhưng cùng có điểm tương đồng là tinh thần dân tộc, đoàn kết, yêu nước, phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”(4).
Trong bức tranh phong phú, nhiều màu sắc của hệ thống tôn giáo ở Việt Nam, vùng Tây Nguyên là địa bàn hoạt động quan trọng của hầu hết các tôn giáo được công nhận, như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hồi giáo...; hình thành và phát triển đồng thời với các tín ngưỡng truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), nổi bật là tín ngưỡng đa thần, gắn liền với chuỗi nghi lễ nông nghiệp, hệ thống lễ hội cúng thần Đất, thần Núi,... đến cầu mùa, mừng lúa mới, bỏ mả (Yàng là khái niệm chỉ các vị thần có mọi quyền lực chi phối, làm phúc hay trừng phạt con người)(5); phong tục, tập quán liên quan đến các giai đoạn quan trọng trong cuộc đời mỗi người, như sinh, lão, bệnh, tử,... Tổng số đồng bào có đạo vùng Tây Nguyên hiện khoảng 2,3 triệu người và có xu hướng tăng nhẹ theo thời gian do sự phát triển tự nhiên của dân số và hoạt động truyền đạo(6); Công giáo và Tin Lành có thành phần tín đồ là đồng bào DTTS rất lớn (khoảng gần 90% tín đồ Tin Lành là người đồng bào DTTS); Phật giáo phát triển chủ yếu trong cộng đồng người Kinh; đạo Cao Đài và một số tôn giáo, tín ngưỡng khác cũng có vai trò quan trọng trong đời sống người dân(7)... Ngoài ra, nơi đây cũng xuất hiện nhiều hiện tượng tôn giáo mới với nguồn gốc xuất xứ, nội dung hoạt động, mức độ ảnh hưởng cũng như xu hướng phát triển khác nhau, làm cho bức tranh tôn giáo vùng Tây Nguyên vốn đa dạng lại càng nhiều màu sắc hơn. Tất cả tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa yếu tố dân tộc và tôn giáo, vừa là tiềm năng để phát huy khối đại đoàn kết, vừa là thách thức trong công tác quản lý nhà nước.
Trong quá trình phát triển, các tổ chức tôn giáo với những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, nhân văn đã góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân vùng Tây Nguyên. Đồng bào đã giảm thiểu các hủ tục lạc hậu, phát huy tinh thần tương thân, tương ái, gắn bó, đoàn kết cộng đồng. Nhiều tổ chức tôn giáo tham gia nghiên cứu, tham mưu các cấp chính quyền trong thực hiện chính sách tôn giáo, làm rõ hơn mối quan hệ giữa tổ chức giáo hội với chính quyền địa phương, đưa sinh hoạt tôn giáo đi vào nền nếp, ổn định(8). Mặt khác, hầu hết nhu cầu, kiến nghị hợp pháp và chính đáng của tôn giáo đều được các địa phương vùng Tây Nguyên giải quyết kịp thời, hiệu quả, như nhu cầu xây dựng nhà thờ, thành lập giáo xứ, tổ chức lễ hội cùng các sinh hoạt tôn giáo khác(9)...
Năm 2025, dân số toàn vùng Tây Nguyên (theo các đơn vị hành chính cũ trước thời điểm sáp nhập ngày 1-7-2024) đạt khoảng 6,5 triệu người(10), trong đó khoảng 2,2 triệu người đồng bào DTTS (tỷ lệ 37,7% dân số toàn vùng). Trong bối cảnh đa dân tộc, tôn giáo, văn hóa, nhiệm vụ vun đắp, gìn giữ, thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc luôn là “chìa khóa” để xây dựng các địa phương vùng Tây Nguyên ngày càng bình yên, ấm no, hạnh phúc, góp phần thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: “Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”(11). Đây là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, đòi hỏi phải phát huy hiệu quả sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự chung tay của toàn xã hội, tranh thủ tối đa sự đồng thuận của đồng bào các dân tộc và tôn giáo.
Hiện nay, công cuộc cải cách, sắp xếp lại đơn vị hành chính, sáp nhập các tỉnh, thành phố nhằm tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp đã vận hành chính thức, đánh giá hiệu quả thực tế và hoàn thiện thể chế pháp lý, thể hiện quyết tâm “xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới”(12). Ở vùng Tây Nguyên, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính được quan tâm không chỉ về địa lý, diện tích, dân số, kết nối kinh tế và giao thông, bảo vệ quốc phòng - an ninh..., mà còn chú ý đến yếu tố đặc thù về dân tộc, tôn giáo(13). Sự thay đổi quan trọng về địa giới và quy trình hành chính mới đã mở ra nhiều cơ hội, tạo động lực lớn để thắt chặt thêm khối đại đoàn kết các dân tộc trong vùng; đồng thời, đoàn kết chính là “điều kiện tiên quyết để mọi công việc và cải cách khác diễn ra thuận lợi”(14).
Một số khó khăn, thách thức trong công tác quản lý hoạt động tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Một là, sau cải cách bộ máy chính quyền, việc xây dựng quy hoạch tổng thể mang tính dài hạn vẫn còn khó khăn ở một số địa phương mới, vấn đề tôn giáo chưa được đề cập sâu sắc các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chưa huy động được sự tham gia đông đảo của cộng đồng tôn giáo trong xây dựng chính sách. Mặt khác, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền, xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, kích động tư tưởng tự trị, ly khai; dựng lên những cái gọi là “nhà nước Đề-ga tự trị” hoặc các “vương quốc Tin Lành”, “vương quốc Đạo Hà Mòn”,…; gieo rắc sự ngờ vực, chia rẽ giữa các dân tộc, giữa người có đạo và người không có đạo, giữa các tôn giáo với nhau… Việc nhận diện từ sớm và có các biện pháp đấu tranh hiệu quả, kịp thời các thủ đoạn chống phá là rất quan trọng để bảo vệ sự bình yên và phát triển của vùng.
Hai là, mặc dù đời sống người dân vùng Tây Nguyên được cải thiện, nhưng khoảng cách giàu nghèo giữa các cộng đồng dân tộc, tôn giáo vẫn còn hiện hữu. Một số nơi, đời sống nhân dân còn khó khăn, tình trạng thiếu việc làm và sự bất bình đẳng trong tiếp cận tài nguyên vẫn tồn tại, có thể làm gia tăng sự thiếu đồng thuận trong một bộ phận tín đồ tôn giáo, khiến họ dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực. Sự phát triển các tôn giáo làm gia tăng sự đa dạng thành phần xã hội trong vùng, có thể gây nên những xung đột giữa các nhóm cộng đồng.
Ba là, công tác dân vận trong xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cấp cơ sở (như cấp xã, thôn, buôn) tại vùng đồng bào có đạo còn một số hạn chế, chưa có chiều sâu, bám sát, nên trong nhiều vấn đề đặt ra chưa giải quyết được triệt để. Việc phát hiện, bồi dưỡng, phát huy vai trò người có uy tín (già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người đứng đầu dòng họ) chưa được quan tâm đúng mức. Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo ở một số địa phương còn hạn chế, thiếu sâu sát. Một số cán bộ chưa thực sự hiểu về văn hóa, tâm lý, tập quán, ngôn ngữ của người đồng bào, tín đồ tôn giáo, gây khó khăn trong giao tiếp, truyền tải thông điệp. Kỹ năng vận động, thuyết phục còn yếu, thiếu phương pháp dân vận linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo, thiên về làm việc theo kinh nghiệm, mệnh lệnh hành chính cứng nhắc. Một số cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều mảng công việc, khó tập trung thời gian, tâm lực để thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là trong bối cảnh tinh gọn, sáp nhập bộ máy hiện nay.
Bốn là, Tây Nguyên là mảnh đất diễn ra sự di dân mạnh mẽ nên có sự pha trộn phức tạp về văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… Nếu không được quản lý tốt có thể dẫn đến xung đột giữa các nhóm dân cư khác nhau. Trong dòng chảy di dân, xuất hiện những nhóm người mang theo tín ngưỡng, giáo phái mới, thậm chí là các “đạo lạ” chưa được Nhà nước công nhận; hoạt động ngầm, khó kiểm soát, gây phức tạp cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, tiềm ẩn nguy cơ truyền bá tư tưởng cực đoan, mê tín dị đoan hoặc lôi kéo người dân làm những việc trái pháp luật, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Một số chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo vẫn có hành động vi phạm pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại vùng Tây Nguyên cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, như địa điểm sinh hoạt tôn giáo, kinh sách, người hướng dẫn(15),...
Năm là, sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ và các phương tiện truyền thông xã hội mang lại nhiều tiện ích nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn, như thông tin sai lệch bị xuyên tạc, lan truyền nhanh chóng, khó kiểm soát, lấn át thông tin chính thống, gây hoang mang, hiểu lầm; các hoạt động tôn giáo trực tuyến, bao gồm truyền đạo, sinh hoạt tín ngưỡng qua mạng internet có xu hướng gia tăng. Một số phần tử xấu, cơ hội đã lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội thực hiện hành vi xuyên tạc giáo lý của các tôn giáo chính thống(16); lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng hòng trục lợi. Một số quy định pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã lạc hậu, bất cập, cần điều chỉnh, bổ sung kịp thời.
Xử lý tốt mối quan hệ tôn giáo, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết các dân tộc vùng Tây Nguyên trong bối cảnh mới
Thứ nhất, nghiêm túc triển khai, thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo trong tình hình mới; nghiên cứu, tổ chức lại công tác quản lý tôn giáo trên các địa bàn phù hợp với quá trình sắp xếp lại đơn vị hành chính. Phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức tôn giáo chân chính nhằm tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, vun đắp yếu tố tích cực phục vụ phát triển vùng Tây Nguyên, tạo sự gắn kết cộng đồng tôn giáo với cộng đồng xã hội rộng lớn, xóa bỏ định kiến, sự khác biệt để thấu hiểu lẫn nhau, lan tỏa giá trị nhân văn, đạo đức tôn giáo.
Định kỳ tổ chức các buổi gặp gỡ, đối thoại giữa chính quyền với các chức sắc, nhà tu hành để phổ biến chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước; tổ chức đối thoại, gặp gỡ để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết các vướng mắc, tạo sự đồng thuận. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể tôn giáo có thành tích xuất sắc trong tham gia phong trào thi đua yêu nước, hoạt động an sinh xã hội, phát triển kinh tế, tạo động lực và nhân rộng gương điển hình. Lắng nghe và giải quyết kiến nghị, khó khăn, vướng mắc chính đáng liên quan đến hoạt động tôn giáo hợp pháp; khuyến khích các chức sắc lồng ghép giáo lý, giáo luật vào việc giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý thức chấp hành pháp luật cho tín đồ(17).
Thứ hai, phát huy vai trò của “người có uy tín” trong đồng bào DTTS và tôn giáo nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động bà con chấp hành pháp luật, bài trừ các hủ tục lạc hậu, không theo tà đạo, di cư tự do, phá rừng,...; đoàn kết cùng tương hỗ, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế. Tôn trọng ý kiến, tiếp thu thông tin, quan điểm, tình cảm người có uy tín phản ánh và tìm cách giải quyết kịp thời, củng cố niềm tin trong nhân dân. Thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho người có uy tín về kỹ năng tuyên truyền miệng, thuyết phục, hòa giải, nắm bắt vấn đề nảy sinh, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào có đạo cho các cấp chính quyền; có hình thức khen thưởng, khích lệ, quan tâm về chế độ, chính sách để người có uy tín toàn tâm, trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần tạo sự đồng thuận, đoàn kết trong các cộng đồng tôn giáo, làm tốt vai trò là cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Thứ ba, thực hiện hiệu quả chương trình, chính sách phát triển kinh tế, nhất là các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; duy trì và tăng cường chính sách ưu tiên đầu tư cho các vùng đặc biệt khó khăn. Sự chênh lệch lớn về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng (thành thị - nông thôn, vùng thuận lợi - vùng khó khăn) và giữa các dân tộc, tôn giáo có thể gây ra tâm lý tự ti, mặc cảm hoặc bất mãn, tạo kẽ hở cho các thế lực xấu lợi dụng. Giải quyết căn bản vấn đề đất ở, đất sản xuất bởi đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất, nguồn sinh kế và gắn liền với đời sống tâm linh, văn hóa của đồng bào, việc thiếu đất hoặc tranh chấp đất đai là nguyên nhân chính gây ra nhiều bất ổn và dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Tiếp tục đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc; xây dựng, tu bổ, vận hành hiệu quả các thiết chế văn hóa cơ sở (nhà văn hóa, điểm đọc sách, báo, bảo tàng,…) nhằm khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, tôn giáo.
Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, thường xuyên tổ chức các buổi họp dân, sinh hoạt chi bộ, đoàn thể ở cơ sở để trực tiếp phổ biến các nội dung cốt lõi của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, các nghị quyết, chỉ thị, chính sách về công tác dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân trí của đồng bào; chủ động giải thích rõ ràng về các vấn đề như hoạt động của các “tà đạo”, các tổ chức lợi dụng tôn giáo để gây rối, nhằm giúp người dân phân biệt rõ tôn giáo chân chính với các hoạt động lợi dụng. Nghiêm cấm, xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, gây rối an ninh, trật tự, truyền đạo trái pháp luật hoặc thực hiện các hoạt động chống phá Nhà nước, kích động bạo lực.
Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tăng cường thông tin chính thống, đấu tranh sắc bén, thuyết phục.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo vững mạnh, có kiến thức sâu rộng và sự tinh tế trong giao tiếp, gắn bó, sâu sát cơ sở. Cán bộ làm chính sách dân tộc và tôn giáo phải gần gũi, gắn bó với nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải quyết các vấn đề ngay tại địa bàn; có đủ kiến thức, tâm huyết và sự nhạy bén để nhanh chóng phát hiện các dấu hiệu bất thường, các âm mưu lợi dụng của kẻ xấu để kịp thời báo cáo và xử lý.
Thứ sáu, văn hóa là sợi dây “vững chắc nhất” để gắn kết cộng đồng, nên cần tôn vinh bản sắc văn hóa và khuyến khích sự giao lưu để tăng cường sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các tôn giáo, củng cố thêm tình đoàn kết. Cần tăng cường giáo dục về lòng yêu nước, ý thức cộng đồng - quốc gia; lồng ghép giáo dục về truyền thống lịch sử tốt đẹp, tinh thần phụng sự đất nước của chính các tôn giáo chính thống, tinh thần đoàn kết các dân tộc trong các trường học, buổi sinh hoạt cộng đồng. Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong việc phản ánh tình hình đời sống, sinh hoạt các tôn giáo, thông tin phải bảo đảm tính khách quan, chủ động đưa thông tin về những mô hình tốt, gương điển hình để “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Nhận diện kịp thời các vấn đề, mâu thuẫn, bức xúc ở cơ sở để có hướng giải quyết trước khi chúng trở nên phức tạp, khó kiểm soát. Khi vấn đề được giải quyết ngay từ cơ sở, một cách công bằng, có tình có lý, sẽ tránh được tình trạng khiếu kiện vượt cấp, đông người, gây mất ổn định an ninh, trật tự.
Thứ bảy, Tây Nguyên là vùng đất có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, nơi tập trung nhiều đồng bào DTTS và tỷ lệ tín đồ tôn giáo (đặc biệt là Công giáo và Tin Lành); do đó, ngoài chính sách chung được cụ thể hóa thì cần xây dựng những chính sách có tính chất ưu tiên đặc thù. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo được công nhận hoạt động theo hiến chương, điều lệ đã được phê duyệt; hỗ trợ các cơ sở đào tạo chức sắc, nhà tu hành được bồi dưỡng kiến thức pháp luật và quản lý xã hội. Thường xuyên đánh giá lại hiệu quả hoạt động của các phòng, ban, đơn vị làm công tác dân tộc, tôn giáo, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên từng địa bàn; phát huy tinh thần chủ động của các cấp, các ngành trong đấu tranh, xử lý phần tử lợi dụng tôn giáo, dân tộc, các chức sắc, tín đồ âm mưu gây chia rẽ, xung đột, bạo loạn; nâng cao nhận thức đối với tầng lớp tín đồ tôn giáo, loại bỏ tư tưởng hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc(18). Xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp (phụ cấp, nhà ở, điều kiện làm việc) để thu hút và giữ chân cán bộ giỏi, tâm huyết làm việc ở vùng tôn giáo đặc thù; kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ có thành tích xuất sắc, điển hình tiên tiến. Xây dựng đội ngũ cán bộ công tác dân tộc, tôn giáo chất lượng, tâm huyết và bộ máy vững mạnh từ cơ sở là yếu tố quyết định để xử lý hài hòa, hiệu quả vấn đề tôn giáo, bảo đảm sự ổn định, phát triển và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên./.
-------------------
(1) Xem: Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14-6-1955, của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 95
(3) Nghị quyết số 24-NQ/TW, của Bộ Chính trị, ngày 16-10-1990, “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Chỉ thị số 37/CT, ngày 2-7-1998, của Bộ Chính trị, “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19-4-1999, của Chính phủ, “Về các hoạt động tôn giáo”; Thông tư số 01/1999/TT-TGCP, ngày 16-6-1999, về “Hướng dẫn thực hiện một số điều trong Nghị định số 26/NĐ, ngày 19-4-1999, của Chính phủ, “Về các hoạt động tôn giáo””; Thông tư số 03/1999/TT-TGCP, ngày 16-6-1999, của Ban Tôn giáo Chính phủ, “Về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam”; Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về công tác tôn giáo”; Nghị định số 92/2012/NĐ/CP, ngày 8-11-2012, của Chính phủ, về Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo”; Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016),...
(4) Xem: Song Linh: “Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đoàn đại biểu lãnh đạo chức sắc các tổ chức tôn giáo”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 13-6-2024, https://nhandan.vn/chu-tich-nuoc-to-lam-gap-mat-doan-dai-bieu-lanh-dao-chuc-sac-cac-to-chuc-ton-giao-post814119.html
(5) Xem: Phạm Xuân Hoàng: Tác động của suy giảm rừng tới đời sống tinh thần các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2024, tr. 69
(6) Việc thống kê chính xác số lượng tín đồ tôn giáo, đặc biệt là theo từng năm, gặp một số khó khăn do nhiều yếu tố (như tính chất biến động của tín ngưỡng, sự xuất hiện của các “đạo lạ” chưa được công nhận,...)
(7) Vùng Tây Nguyên có nhiều tổ chức tôn giáo, trong đó chủ yếu là Công giáo, Phật giáo, Tin Lành và Cao Đài, với tổng số khoảng 2,3 triệu tín đồ, gần 4.000 chức sắc, 10.000 chức việc và trên 1.300 cơ sở thờ tự
(8) Xem: Nguyễn Văn Quang: An ninh phi truyền thống ở Tây Nguyên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 75 - 76
(9) Xem: Nguyễn Văn Quang: An ninh phi truyền thống ở Tây Nguyên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Sđd, tr. 77 - 78
(10) Tác giả tổng hợp từ các nguồn uy tín, như World Population Review, DanSo.Org, City Population Ranking,...
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 249 - 250
(12) GS, TS Tô Lâm: “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”, Tạp chí Cộng sản, số 1.050 (tháng 11-2024), tr. 12
(13) Theo đó, Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12-4-2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII quyết định hợp nhất: Tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên (trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Đắk Lắk); tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định (trung tâm hành chính đặt tại tỉnh Bình Định); tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi (trung tâm hành chính đặt tại tỉnh Quảng Ngãi); tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắk Nông và tỉnh Bình Thuận (trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Lâm Đồng)
(14) GS, TS Tô Lâm: “Sức mạnh của đoàn kết”, Tạp chí Cộng sản, số 1.065 (tháng 7-2025), tr. 7
(15) Xem: Ban Tôn giáo Chính phủ: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2022, tr. 103 - 104
(16) Xem: Trần Việt Khoa: “Chủ động ngăn chặn, đẩy lùi hiểm họa từ mặt trái của mạng xã hội”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 6-11-2019, https://nhandan.vn/chu-dong-ngan-chan-day-lui-hiem-hoa-tu-mat-trai-cua-mang-xa-hoi-post376000.html
(17) Ví dụ: Giáo lý Phật giáo về từ bi, hỉ xả; giáo lý Công giáo về bác ái, yêu thương; giáo lý Tin Lành về sống có trách nhiệm,... đều có thể phát huy giá trị tích cực trong đời sống xã hội
(18) Xem: Trương Minh Dục: “Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, góp phần xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực, nền tảng cho sự phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong bối cảnh mới”, Tạp chí Cộng sản, số 1.064 (tháng 6-2025), tr. 97
Giải pháp thực hiện các chính sách kinh tế - liên quan đến mối quan hệ dân tộc, tộc người với tôn giáo  (30/06/2025)
Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo hiện nay  (06/03/2025)
Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo hiện nay  (06/03/2025)
Chiến thắng Tây Nguyên 1975 và nửa thế kỷ xây dựng, phát triển Đắk Lắk  (05/03/2025)
- Quan hệ chính trị - ngoại giao Ấn Độ - Nga từ năm 2014 đến nay: Thực trạng và triển vọng
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đổi mới phương thức tham mưu, đề xuất chính sách, phát huy vai trò nòng cốt, tiên phong trong kỷ nguyên mới
- Việt Nam - Ấn Độ: Từ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đến tầm cao quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường
- Xuất bản số góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên mới
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở cấp xã trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm