Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam: Nhận thức và định hướng chính sách (kỳ 2)

TS. TRẦN TUẤN ANH
Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương

KỲ 2: PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO ĐỂ THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH, TRỞ THÀNH NƯỚC CÓ THU NHẬP CAO

TCCS - Bẫy thu nhập trung bình thường xảy ra tại các nền kinh tế đang phát triển -  khi mức lương tăng lên - trong khi khả năng cạnh tranh về giá giảm xuống, khó có thể cạnh tranh với các nền kinh tế đã phát triển về công nghệ, hay với các nền kinh tế có mức lương thấp hơn trong việc sản xuất hàng hóa giá rẻ. Xem xét quá trình phát triển của các nước chuyển đổi thành công từ nước thu nhập thấp lên nước thu nhập cao trong những thập niên trước, Việt Nam có thể rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích để tránh bẫy thu nhập trung bình.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tham quan bộ phận động cơ máy bay (thiết bị được lắp đặt cho máy bay A320Neo/C919) do Nhà máy Hanwha Aero Engines tại Việt Nam chế tạo, tại triển lãm "Thành tựu 60 năm ngành khoa học và công nghệ" _Ảnh: Tư liệu

Bẫy thu nhập trung bình và yếu tố giúp tránh bẫy thu nhập trung bình

Bẫy thu nhập trung bình được hiểu là tình trạng một quốc gia đạt đến một mức thu nhập nhất định nhờ những lợi thế sẵn có, nhưng chỉ dừng lại trong ngưỡng thu nhập ấy mà không thể tăng thêm để trở nên giàu có hơn. Bẫy thu nhập trung bình xảy ra khi một quốc gia phát triển chững lại hay thậm chí là trở nên trì trệ sau khi đạt tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người trong ngưỡng từ 1.000 USD đến 12.000 USD theo chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB).

Nhìn vào quá trình phát triển của các quốc gia khác nhau trong 60 năm qua, có thể thấy, một số quốc gia thành công trong việc duy trì tăng trưởng liên tục để chuyển đổi từ nước có thu nhập thấp lên nước thu nhập cao (Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po), trong khi đó, một số quốc gia khác vẫn nằm trong mức thu nhập trung bình, chưa thể lên mức thu nhập cao (Ma-lai-xi-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin). Số liệu của WB cho thấy, năm 1966 Nhật Bản mới trở thành nước thu nhập trung bình, Xin-ga-po đạt GDP bình quân đầu người trên 1.000 USD vào năm 1971, Hàn Quốc và Ma-lai-xi-a cùng đạt ngưỡng này vào năm 1977, Thái Lan: năm 1988 và In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin: năm 1995. Đến năm 2019, GDP bình quân đầu người của các quốc gia này lần lượt là Nhật Bản: 40.248 USD, Xin-ga-po: 65.233 USD, Hàn Quốc: 31.761 USD, Ma-lai-xi-a: 11.414 USD, Thái Lan: 7.808 USD, In-đô-nê-xi-a: 4.135 USD và Phi-líp-pin: 3.485 USD. Như vậy, trong các nước này, chỉ có Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po trở thành nước thu nhập cao, các nước còn lại vẫn ở trạng thái thu nhập trung bình.

Quá trình từ nước thu nhập trung bình lên nước thu nhập cao của mỗi quốc gia khác nhau cả về thời gian và động lực phát triển. Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) năm 2017 chỉ ra rằng, thời gian trung bình để một quốc gia chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên thu nhập cao khoảng 30 - 40 năm. Nếu một quốc gia trong 40 năm kể từ khi đạt ngưỡng thu nhập trung bình mà chưa trở thành nước thu nhập cao, quốc gia đó được coi là đang mắc bẫy thu nhập trung bình. Nếu xét riêng từng nước, một số nước Đông Á đã rút ngắn rất nhiều thời gian chuyển đổi, Nhật Bản và Xin-ga-po cần 20 năm, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 6% - 8%/năm; Hàn Quốc chỉ cần 18 năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9%/năm. Ma-lai-xi-a có xuất phát điểm cùng Hàn Quốc, nhưng đến nay, sau hơn 40 năm, GDP bình quân đầu người mới đang tiệm cận mức 12.000 USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6%/năm.

Để xác định động lực của tăng trưởng, nhìn vào cơ cấu GDP của các nước trong quá trình chuyển đổi có thể thấy rõ sự giảm dần của nông nghiệp và gia tăng của công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, đặc biệt là đóng góp của ngành chế biến, chế tạo (CBCT) trong GDP. Số liệu của WB cho thấy, quá trình chuyển đổi của Hàn Quốc kéo dài từ năm 1977 đến năm 1995, trong khoảng thời gian đó, đóng góp của nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 22% xuống 5%, công nghiệp - xây dựng tăng từ 28% lên 36% (trong đó, CBCT tăng từ 21% lên 26%), dịch vụ tăng từ 39% lên 49%. Quá trình chuyển đổi của Xin-ga-po kéo dài 20 năm, từ năm 1971 đến năm 1991, trong giai đoạn này, đóng góp của nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 3% xuống 0,2%, công nghiệp - xây dựng tăng từ 28% lên 33% (trong đó, CBCT tăng từ 19% lên 25%), dịch vụ giảm từ 64% xuống 63%. Ma-lai-xi-a mất hơn 40 năm, từ năm 1977 đến năm 2019, để tăng GDP bình quân đầu người từ 1.000 USD lên 11.414 USD, có thể đạt ngưỡng quốc gia thu nhập cao trong một vài năm tới. Trong giai đoạn này, đóng góp của nông nghiệp đã giảm từ 28% xuống còn 7%, công nghiệp - xây dựng tăng lên mức cao nhất 49% năm 2004 rồi giảm dần về lại mức 37% năm 2019 (trong đó, công nghiệp CBCT tăng từ 20% lên mức cao nhất 31% vào đầu những năm 2000 rồi giảm dần về mức 21% năm 2019), dịch vụ tăng từ 33% lên 55%.

Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình từ năm 2008, trải qua hơn 10 năm, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam diễn ra chậm hơn so với các nước đi trước, lộ trình phát triển chưa có bước đột phá ngay từ những năm đầu, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po. Từ năm 2010 đến năm 2019, đóng góp của nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 18,3% xuống 13,9%, công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,1% lên 34,4% (trong đó, công nghiệp CBCT tăng từ 12,9% lên 16,4%), dịch vụ tăng từ 36,9% lên 41,6%. Tốc độ tăng trưởng trung bình của Việt Nam trong 10 năm đầu đạt 6%, thấp hơn mức bình quân 10 năm đầu của các nước đi trước (Nhật Bản: 7%, Hàn Quốc: 8,9%, Xin-ga-po: 8,8%) (Xem Hình 1).

Lộ trình tăng trưởng của mỗi nước cho thấy sự khác biệt giữa các nước không mắc bẫy và đang mắc bẫy thu nhập trung bình. Mặc dù tốc độ tăng trưởng bình quân trong suốt thời kỳ của các nước không có sự chênh lệch lớn, chỉ ở mức 6% - 8%, nhưng những nước thành công, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh liên tục trong vài năm đầu, tạo đà phát triển mạnh mẽ cho những năm tiếp theo, trong khi đó, các nước hiện đang mắc bẫy thu nhập trung bình không tạo được bước bứt phá mạnh mẽ ở giai đoạn đầu, sau khi đạt ngưỡng thu nhập trung bình, tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, kéo dài thời gian tiến lên ngưỡng thu nhập cao hơn. Hàn Quốc và Ma-lai-xi-a có cùng thời điểm xuất phát từ năm 1977, trong vài năm đầu sau khi trở thành nước thu nhập trung bình, hai nước có lộ trình tăng trưởng tương tự nhau, nhưng từ năm 1984 trở đi, hai nước có hai hướng đi hoàn toàn khác biệt. Trong khi Hàn Quốc tăng trưởng nhanh chóng, thu hẹp dần khoảng cách với Nhật Bản, Xin-ga-po và bỏ xa các nước còn lại, thì Ma-lai-xi-a không tạo được sự bứt phá như Hàn Quốc, tăng trưởng chậm hơn và mất nhiều năm hơn để đạt đến cùng một mức thu nhập. Trong 10 năm, từ năm 1985 đến năm 1995, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc đã tăng gấp 5 lần, trong khi Ma-lai-xi-a chỉ tăng gấp đôi. So sánh các biện pháp, chính sách mà hai nước triển khai trong giai đoạn này có thể rút ra bài học kinh nghiệm hữu ích cho các nước đi sau để có thể tránh được bẫy thu nhập trung bình (Xem Hình 2).

Trong giai đoạn 1960 - 1990, Hàn Quốc và Ma-lai-xi-a đều sử dụng các kế hoạch 5 năm để làm cơ sở ban hành các chính sách phát triển kinh tế, công nghiệp hóa trong trung hạn. Kế hoạch lần thứ nhất của Hàn Quốc bắt đầu từ năm 1962 - 1966, trải qua 30 năm, với chuỗi 7 kế hoạch và kết thúc bằng kế hoạch lần thứ bảy năm 1992 - 1996. Ba kế hoạch đầu đã đưa Hàn Quốc từ nước kém phát triển thành nước thu nhập trung bình và bốn kế hoạch tiếp theo, đưa Hàn Quốc trở thành nước thu nhập cao. Chuỗi kế hoạch của Ma-lai-xi-a bắt đầu từ năm 1966 và vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay, với kế hoạch gần đây nhất là kế hoạch thứ 12 cho giai đoạn 2021 - 2025. Bước vào giai đoạn kế hoạch lần thứ ba (1976 - 1980), Ma-lai-xi-a đã thành nước có thu nhập trung bình, trải qua 10 kế hoạch, Ma-lai-xi-a mới có thể trở thành nước có thu nhập cao.

Cho đến những năm 1960, Hàn Quốc vẫn là một trong những nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá và chìm trong vòng luẩn quẩn đói nghèo, với tỷ trọng nông nghiệp trong GDP chiếm 36%, GDP bình quân đầu người ở mức 158 USD. Sau khi Tổng thống Pắc Chung Hy lên nắm chính quyền vào năm 1961 và quyết tâm đưa đất nước tiến đến tự chủ về kinh tế, các kế hoạch 5 năm được xây dựng với các mục tiêu đầy tham vọng và các chính sách mạnh mẽ để đạt được mục tiêu đặt ra. Tương tự, Ma-lai-xi-a vào đầu những năm 1960 cũng là nước nông nghiệp, với tỷ trọng nông nghiệp chiếm 43,7% GDP và mức thu nhập bình quân đầu người đạt 235 USD. Nội dung cơ bản của mỗi giai đoạn kế hoạch của hai nước (được tổng hợp trong Bảng 1), là yếu tố dẫn đến quá trình phát triển và thành quả tăng trưởng khác nhau của mỗi nước(1).

Mặc dù cùng trình độ phát triển và cùng đối mặt những vấn đề tương tự nhau, như đói nghèo, kém phát triển, nhưng cách tiếp cận giải quyết vấn đề của mỗi nước khác nhau. Trong khi Hàn Quốc có định hướng rõ ràng trong việc xác định các ưu tiên phát triển, tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, bắt đầu từ các ngành công nghiệp nền tảng (điện khí hóa, lọc dầu, sợi tổng hợp...), sau đó đến các ngành thâm dụng công nghệ và kỹ năng người lao động và tiếp cận theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị (phân bón gắn với nông nghiệp; sắt, thép, hóa chất với đóng tàu, máy móc, thiết bị; chất bán dẫn với điện tử...), Ma-lai-xi-a chủ yếu tập trung vào các vấn đề xã hội xuyên suốt các thời kỳ kế hoạch (xóa đói, giảm nghèo, công bằng xã hội, phát triển cân bằng giữa các dân tộc...). Mặc dù trên thực tế, Chính phủ Ma-lai-xi-a đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp trong nước, như Chương trình phát triển nhà thầu phụ, Chương trình phát triển thương hiệu xe ô-tô trong nước (Proton, Perodua), nhưng những chính sách này được triển khai không có hệ thống như Hàn Quốc và không được thể hiện rõ trong mục tiêu tổng thể của các kế hoạch 5 năm. Ngược lại, với Hàn Quốc, việc không đưa các vấn đề xã hội trong mục tiêu phát triển của các kế hoạch 5 năm không có nghĩa là Hàn Quốc không chú trọng đến việc giải quyết những vấn đề này, mà thực tế, Hàn Quốc lựa chọn phát triển công nghiệp là điểm bắt đầu, thông qua sự phát triển của các ngành công nghiệp, các vấn đề xã hội đã được giải quyết. Phát triển công nghiệp tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và toàn xã hội, bảo đảm sự phát triển công bằng giữa các vùng, địa phương.

Bẫy giá trị gia tăng thấp và nội lực ngành công nghiệp trong nước

Bên cạnh khái niệm bẫy thu nhập trung bình, khái niệm bẫy giá trị gia tăng thấp cũng được sử dụng để nói về tình hình phát triển kinh tế của một quốc gia. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) mô tả một quốc gia mắc bẫy giá trị gia tăng thấp là khi quốc gia đó chủ yếu thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ những doanh nghiệp không có ý định hình thành các mối liên kết với nền kinh tế trong nước, không tạo ra được hiệu ứng lan tỏa và hoạt động với mục tiêu ngắn hạn, những doanh nghiệp đó có hiệu quả hoạt động thấp xét về mọi mặt: Đầu tư, năng suất và phát triển kỹ năng và đầu tư chủ yếu vào các ngành thâm dụng lao động, cạnh tranh bằng giá thay vì bằng chất lượng, thời gian giao hàng và thường nhìn nhận lao động là yếu tố chi phí hơn là nguồn lực cần được phát triển.

Khái niệm của UNCTAD mới chỉ nhìn một chiều từ phía khu vực FDI, trong khi một quốc gia mắc bẫy giá trị gia tăng thấp có thể không chỉ do khu vực FDI, mà còn do những nguyên nhân khác, chủ yếu phụ thuộc vào khả năng tự lực, tự cường của khu vực tư nhân trong nước, vào năng lực của khu vực tư nhân có thể trưởng thành, trở nên độc lập, làm chủ nền kinh tế và có đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, dần dần thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn lực từ bên ngoài. Xét về bản chất, bẫy giá trị gia tăng thấp cũng là một biểu hiện của bẫy thu nhập trung bình, xảy ra khi một quốc gia không xây dựng được nền tảng công nghiệp trong nước vững mạnh (khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước), tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn lực bên ngoài (khu vực FDI), khi lợi thế trong nước không còn (chi phí lao động thấp, ưu đãi thuế hấp dẫn...), các doanh nghiệp FDI dịch chuyển sang các nước có lợi thế tốt hơn và chi phí sản xuất cạnh tranh hơn (hiện tượng này được các nhà kinh tế gọi là mô hình đàn sếu bay - flying geese) dẫn đến quá trình giải trừ công nghiệp (deindustrialization), để lại ngành công nghiệp gồm các doanh nghiệp trong nước không đủ năng lực cạnh tranh với các nền kinh tế đã phát triển về công nghệ, hay với các nền kinh tế có mức lương thấp hơn trong việc sản xuất hàng hóa giá rẻ.

Dây chuyền lắp ráp ô tô tại nhà máy của Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco) trong Khu kinh tế mở Chu Lai (huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) _Nguồn: thacochulai.vn

Trong giai đoạn 1951 - 1989, các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs), như Hàn Quốc, Xin-ga-po, các vùng lãnh thổ Đài Loan, Hồng Công (Trung Quốc) và các nước ASEAN4 (Ma-lai-xi-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin) đều thu hút nguồn đầu tư lớn từ các doanh nghiệp Nhật Bản, với tổng vốn FDI vào NIEs là 19.919 triệu USD và vào ASEAN là 17.531 triệu USD(2). Sau khoảng hai, ba thập niên, các nền kinh tế NIEs đã tự gây dựng được nền công nghiệp trong nước lớn mạnh, không còn phụ thuộc, thậm chí cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp Nhật Bản, trong khi đó các nước ASEAN 4 cho đến nay vẫn phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI ở hầu hết các ngành công nghiệp. Vào những năm 1980, trong khi các doanh nghiệp Nhật Bản tại các nền kinh tế NIEs có thể đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 50% thì tại ASEAN 4, tỷ lệ thu mua trong nước của các doanh nghiệp Nhật Bản chỉ ở mức 42%, nhưng cũng chủ yếu là từ các doanh nghiệp FDI. Ở các nền kinh tế NIEs, phần lớn các doanh nghiệp FDI Nhật Bản đã có thể rút các chuyên gia người Nhật Bản về nước, để lại nhà máy cho người ở nước sở tại quản lý, vận hành; nhưng ở các nước ASEAN 4 cho đến nay vẫn phụ thuộc vào lãnh đạo cấp trung và cấp cao người Nhật Bản mà không chuyển giao được cho đội ngũ nhân sự ở nước sở tại. Sự khác nhau giữa các nền kinh tế NIEs và ASEAN 4 cho thấy, vai trò dẫn dắt của ngành công nghiệp CBCT và tầm quan trọng của năng lực doanh nghiệp công nghiệp cũng như nguồn nhân lực công nghiệp trong nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đưa đất nước tránh được bẫy thu nhập trung bình.

Ngay từ khi mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. Những năm gần đây, Việt Nam luôn dẫn đầu các nước ASEAN về thu hút đầu tư nước ngoài. Tính đến hết năm 2019, Việt Nam đã thu hút được gần 40.000 dự án, với tổng vốn đăng ký đạt trên 363,3 tỷ USD. Nếu tính theo tỷ lệ phần trăm (%) GDP hay theo đầu người, vốn FDI vào Việt Nam đã vượt Trung Quốc, Ấn Độ và phần lớn các nước trong khu vực ASEAN. Trong số các dự án FDI tại Việt Nam, có nhiều dự án giá trị cao của các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, phần lớn FDI đầu tư vào Việt Nam tập trung vào các ngành thuộc nhóm khai thác thị trường, như hoạt động kinh doanh bất động sản, hay các ngành CBCT thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp, như dệt may, da giày, sản phẩm từ cao-su, nhựa, thực phẩm đồ uống, nội thất và gỗ, giấy... Báo cáo của WB (năm 2018) cho biết, nhiều nhà đầu tư thường cho rằng chi phí nhân công và năng lượng thấp cũng như chính sách ưu đãi thuế hấp dẫn là những lý do chính để đầu tư vào Việt Nam, trong khi đó rất ít doanh nghiệp FDI cho rằng, tay nghề lao động cao hay chuỗi cung ứng trong nước có đủ năng lực cạnh tranh là thế mạnh của Việt Nam. Báo cáo cũng chỉ ra, để tránh bẫy thu nhập trung bình hay bẫy giá trị gia tăng thấp và trở thành nước có thu nhập cao, Việt Nam cần có một chiến lược thu hút FDI thế hệ mới, gắn với các chiến lược và quy hoạch phát triển của quốc gia, hình thành các chuỗi cung ứng và cụm liên kết ngành công nghiệp, tập trung vào các ngành, công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường và tiêu hao ít năng lượng, thu hút các dự án, các nhà đầu tư phát triển bền vững theo hướng chú trọng chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh  - quốc phòng và tăng cường kết nối với doanh nghiệp trong nước.

Để khu vực FDI có thể đóng góp, hỗ trợ nhiều hơn cho nền kinh tế Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất và giá trị tạo ra trong nước, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận về thu hút FDI, dựa vào các lợi thế cạnh tranh động (tay nghề người lao động, năng lực sáng tạo và môi trường tự nhiên và kinh doanh, đầu tư thuận lợi), thay vì các lợi thế cạnh tranh tĩnh, kém bền vững như trước đây (tài nguyên, lao động phổ thông, cơ chế ưu đãi dễ dàng và hấp dẫn).

Nói một cách cụ thể, Việt Nam cần tập trung thu hút FDI vào những nhà đầu tư nước ngoài có thể: 1- Tạo ra mức lương cao hơn (đầu ra/nhân công có giá trị cao hơn); 2- Thúc đẩy phát triển kỹ năng, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển trong nước; 3- Khuyến khích sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn (không chỉ năng lượng, mà cả đất đai, nguồn nước, nguyên liệu thô,...); 4- Tạo cơ hội để doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài trong các chuỗi giá trị toàn cầu, trong khi không chèn lấn nhà đầu tư và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước; 5- Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, trong nước cũng như nước ngoài (bằng cách cải thiện chuỗi cung ứng, lô-gis-tic,...).

Công nghiệp hỗ trợ trong nước đang nỗ lực tăng hàm lượng chất xám, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm _Nguồn: tapchicongthuong.vn

Hàm ý chính sách

Những phân tích trên đây cho thấy, con đường đi lên từ nước thu nhập trung bình thành nước thu nhập cao không thể bỏ qua công nghiệp CBCT và trên con đường đó doanh nghiệp công nghiệp trong nước chính là yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và thoát bẫy thu nhập trung bình, bẫy giá trị gia tăng thấp. FDI trong công nghiệp CBCT là động lực dẫn dắt, nhưng doanh nghiệp công nghiệp trong nước mới là nền tảng vững chắc để giúp một quốc gia thoát bẫy thu nhập trung bình. Do vậy, thu hút FDI cần có chiến lược và có chọn lọc, tránh tiếp nhận FDI công nghệ thấp vào cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp công nghiệp trong nước để tránh bẫy giá trị gia tăng thấp; hình thành và phát triển lực lượng doanh nghiệp công nghiệp trong nước vững mạnh, gắn kết chặt chẽ với khu vực FDI và dần dần gây dựng được lực lượng doanh nghiệp trong nước vững mạnh, có được doanh nghiệp trong nước quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt và hình thành chuỗi cung ứng trong nước.

Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a và các nước đi trước cho thấy, có nhiều con đường khác nhau để đưa đất nước từ nước thu nhập trung bình thành nước có thu nhập cao, và con đường đó dài hay ngắn, phụ thuộc vào cách quốc gia đó xác định mục tiêu đúng cho từng giai đoạn trung hạn và tập trung nguồn lực, chính sách để đạt được mục tiêu đã đặt ra. Hàn Quốc rút ngắn được quãng đường đi lên nước thu nhập cao bởi họ xác định được mục tiêu công nghiệp hóa rõ ràng, xuyên suốt qua bảy kỳ kế hoạch 5 năm và mọi chính sách, nguồn lực xã hội được huy động, sử dụng để đạt được mục tiêu đó. Chính sách phát triển công nghiệp cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn, gồm cả các chính sách tác động trực tiếp đến doanh nghiệp công nghiệp và các chính sách gián tiếp nhưng lại có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành công nghiệp nói chung và các doanh nghiệp công nghiệp nói riêng. Để xác định được mục tiêu đúng, cần có cơ chế phối hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp để có sự đồng thuận giữa các cơ quan chính phủ và giữa Nhà nước với khu vực tư nhân. Do vậy, cần hình thành và duy trì cơ chế đối thoại chính sách với các doanh nghiệp công nghiệp, theo dõi, giám sát và đo lường, đánh giá sự cải thiện chất lượng chính sách và năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam so với các nước trong khu vực và một số nước so sánh trên toàn cầu.

Để thu hút được đầu tư FDI giá trị cao, cần giải quyết một số thách thức và rào cản về cơ chế, chính sách trong toàn bộ chu kỳ đầu tư của doanh nghiệp và thay đổi cách tiếp cận về FDI như hiện nay. Thứ nhất, cần hướng đến các nhà đầu tư có động lực phát triển dựa vào lao động kỹ năng tay nghề cao, công nghệ sử dụng nguồn lực tiết kiệm thay vì dựa vào chi phí nhân công thấp, dịch vụ kết cấu hạ tầng chi phí thấp; cần có tiêu chí sàng lọc, lựa chọn nhà đầu tư thống nhất từ Trung ương đến địa phương để bảo đảm thu hút đầu tư theo đúng nhu cầu của nền kinh tế. Tiếp tục triển khai hiệu quả các hoạt động kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, xây dựng năng lực giúp doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI (gia hạn thời gian thực hiện Chương trình Phát triển công nghiệp hỗ trợ). Thứ hai, xúc tiến đầu tư cần chủ động, có mục tiêu, để thu hút được những nhà đầu tư mà nền kinh tế mong muốn, thay vì thụ động, mở cửa thị trường chờ nhà đầu tư tới. Thứ ba, công cụ ma-két-ting đầu tư cần tiếp cận theo ngành, theo chuỗi giá trị để thu hút được nhà đầu tư dựa trên lợi thế cạnh tranh dài hạn, thay vì công cụ ma-két-ting truyền thống dựa vào ưu đãi cao để thu hút nhà đầu tư dựa trên lợi thế chi phí ngắn hạn; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài hiện có thay vì tổ chức các sự kiện xúc tiến đầu tư kém hiệu quả, bởi các nhà đầu tư hiện tại chính là những “đại sứ”, là kênh quảng bá về chính sách, môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam một cách khách quan, hiệu quả nhất. Thứ tư, ưu đãi cho nhà đầu tư nên dựa trên hiệu quả, giá trị gia tăng tạo ra trong nước, kết quả hoạt động sau đầu tư thay vì ưu đãi dựa trên lượng vốn đăng ký và quy mô./.

-----------------------------

(1) Tổng hợp từ: M.B. Yusoff, F.A. Hasan & S.A. Jalil: Globalization, Economic Policy, and Equity: The case of Malaysia, Paris: OECD, 2000; A.M. Savada & W. Shaw: South Korea: A Country Study, Washington: GPO for the Library of Congress, 1993

(2) Xem: S. Urata: “Japanese Foreign Direct Investment and Its Effect on Foreign”, In T. Ito, & A. O. Krueger: Trade and Protectionism, NBER-EASE Volume 2 (pp. 273 - 304), Chicago: University of Chicago Press, 1993