Củng cố sứ mệnh và khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong thế giới “phân mảnh”
TCCS - Năm 2025 đánh dấu 80 năm thành lập Liên hợp quốc - tổ chức liên chính phủ lớn nhất thế giới. Trải qua tám thập niên, Liên hợp quốc đã góp phần quan trọng trong gìn giữ hòa bình, thúc đẩy hợp tác phát triển và hình thành hệ thống pháp lý, chuẩn mực quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Trong bối cảnh thế giới phân mảnh, cạnh tranh chiến lược gay gắt, xu hướng đơn phương, bảo hộ và chạy đua vũ trang nổi lên, Liên hợp quốc đối mặt với những thách thức mới với sự hoài nghi về hiệu quả hoạt động. Song, Liên hợp quốc vẫn khẳng định vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc tập hợp và dẫn dắt nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế ứng phó với vấn đề toàn cầu.
Hòa bình, phát triển, quyền con người - giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc
Ngay từ khi thành lập (ngày 24-10-1945), Liên hợp quốc đã xác định mục tiêu cốt lõi là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết; đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm giải quyết vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo; đồng thời, trở thành trung tâm điều hòa nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, tiến bộ và công bằng(1).
Trên thực tế, sự ra đời của Liên hợp quốc là kết quả của quá trình thương lượng phức tạp giữa các cường quốc thắng trận sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhất là giữa Mỹ và Liên Xô. Từ Hội nghị Moscow (năm 1943), Hội nghị Tehran (năm 1943), Hội nghị Dumbarton Oaks (năm 1944) đến Hội nghị Yalta (năm 1945), các bên từng bước thống nhất “luật chơi”, xác định nội dung cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, cơ cấu tổ chức, thành phần Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cũng như cơ chế bỏ phiếu và quyền phủ quyết của các thành viên thường trực.
Trong tám thập niên phát triển, Liên hợp quốc đã trải qua cả những giai đoạn đối đầu, cạnh tranh lẫn thời kỳ thỏa hiệp, hợp tác giữa các cường quốc; đồng thời chứng kiến sự tham gia ngày càng chủ động, tích cực của các quốc gia vừa và nhỏ, đặc biệt là các nước đang phát triển. Chương trình nghị sự cùng hoạt động của các cơ quan chuyên môn liên tục được mở rộng, phản ánh lợi ích và nhu cầu đa dạng của cộng đồng thành viên. Tám mươi năm xây dựng và phát triển khẳng định những thành tựu to lớn, mang giá trị bền vững của Liên hợp quốc đối với hòa bình, hợp tác và tiến bộ toàn cầu.
Về hợp tác phát triển, Liên hợp quốc vừa là nơi khởi thảo nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, vừa là một trong những nguồn viện trợ phát triển (ODA) hàng đầu thế giới. Các Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về quyền của người khuyết tật; các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế; Công ước khung về biến đổi khí hậu; Công ước về đa dạng sinh học cùng nhiều điều ước về môi trường… đã tạo dựng khuôn khổ pháp lý nền tảng để thúc đẩy hợp tác toàn cầu và định hướng chính sách phát triển của các quốc gia. Đồng thời, các sáng kiến như Mục tiêu Thiên niên kỷ, Mục tiêu Phát triển bền vững và văn kiện “Vì tương lai” của Liên hợp quốc trở thành công cụ hữu hiệu giúp các nước đo lường và giám sát tiến độ thực hiện mục tiêu phát triển.
Bên cạnh đó, Liên hợp quốc là một trong những cơ chế cung cấp và điều phối nguồn lực phát triển quan trọng, thông qua hệ thống quỹ, chương trình, tổ chức chuyên môn và định chế kinh tế - tài chính(2). Những khoản hỗ trợ này chủ yếu dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc vay ưu đãi, có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển, cũng như trong quá trình tái thiết sau xung đột, chuyển đổi kinh tế và ứng phó với thách thức nhân đạo. Đặc biệt, tính trung lập và uy tín của các nguồn tài trợ từ Liên hợp quốc tạo hiệu ứng lan tỏa, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức quốc tế khác và khu vực tư nhân, từ đó gia tăng sức mạnh tổng hợp cho hợp tác phát triển.
Về hòa bình - an ninh, Liên hợp quốc đã thúc đẩy tiến trình phi thực dân hóa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đồng thời tham gia tìm kiếm giải pháp cho nhiều cuộc xung đột, giữ vai trò trung gian trong các tiến trình đàm phán hòa bình. Kể từ nghị quyết đầu tiên về năng lượng hạt nhân(3) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc (ngày 10-1-1946), Liên hợp quốc đã xây dựng 15 công ước quốc tế về giải trừ quân bị(4), hình thành khuôn khổ pháp lý ngăn chặn phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, góp phần hạn chế số lượng quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và thúc đẩy những bước tiến trong việc nghiêm cấm loại vũ khí này. Thông qua nhiều diễn đàn, Liên hợp quốc tiếp tục nỗ lực ngăn chặn sản xuất, sử dụng vũ khí hóa học, sinh học; hạn chế phổ biến súng nhỏ, vũ khí nhẹ (SALW) và cấm mìn sát thương.
Trong tám thập niên qua, Liên hợp quốc giữ vai trò tích cực trong giải quyết xung đột và làm trung gian hòa giải, thể hiện qua cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba (năm 1962), chiến tranh Trung Đông (năm 1973), chiến tranh Iran - Iraq (năm 1988), chiến tranh Vùng Vịnh(5). Các Tổng Thư ký Liên hợp quốc luôn thể hiện tinh thần sẵn sàng chủ động đề xuất sáng kiến hòa giải và đi đầu trong các hoạt động hỗ trợ nhân đạo(6), góp phần mở ra cơ hội chấm dứt đối đầu, giảm thiểu tổn thất và khôi phục ổn định cho các khu vực xung đột.
Đặc biệt, Liên hợp quốc khẳng định vai trò khác biệt so với nhiều tổ chức quốc tế khác khi có khả năng triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình tại nhiều “điểm nóng” trên thế giới. Đến nay, Liên hợp quốc đã tiến hành hơn 60 hoạt động gìn giữ hòa bình, góp phần quan trọng trong lập lại hòa bình, chấm dứt xung đột và tái thiết sau xung đột tại nhiều quốc gia thành viên. Thực tiễn và nhiều nghiên cứu cho thấy, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc là công cụ hiệu quả để củng cố an ninh toàn cầu, có tính bền vững và ít gây hệ lụy so với những biện pháp can thiệp quân sự đơn phương bên ngoài khuôn khổ Liên hợp quốc(7).
Về quyền con người, Liên hợp quốc là nơi khởi nguồn ý tưởng, xây dựng các văn kiện pháp lý quốc tế cùng những nguyên tắc, chuẩn mực quan trọng. Kể từ sau Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948, Liên hợp quốc đã thông qua hơn 80 điều ước và tuyên bố quốc tế liên quan, đồng thời không ngừng mở rộng, hoàn thiện hệ thống bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trên phạm vi toàn cầu.
Hệ thống cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người thường xuyên được hoàn thiện và mở rộng. Bên cạnh Ủy ban 3 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Nhân quyền (tiền thân là Ủy ban Nhân quyền), còn có hàng loạt cơ chế giám sát, đưa ra khuyến nghị đối với các quốc gia. Nổi bật là Văn phòng Cao ủy Nhân quyền, khoảng 60 “thủ tục đặc biệt”(8) của Hội đồng Nhân quyền, Ủy ban Tư vấn cùng các ủy ban giám sát việc thực thi các công ước quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) được coi là điểm nhấn, tiến hành rà soát tình hình nhân quyền tại tất cả các quốc gia thành viên theo chu kỳ 4 năm, dựa trên nguyên tắc đối thoại, hợp tác, bình đẳng, khách quan, minh bạch và xây dựng, tránh đối đầu, chọn lọc hay chính trị hóa. Thông qua đối thoại, các quốc gia thành viên đưa ra khuyến nghị, còn quốc gia được rà soát tự nguyện quyết định việc chấp thuận và triển khai khuyến nghị phù hợp(9).
Nội dung về quyền con người tại Liên hợp quốc không ngừng được mở rộng. Từ quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, cùng với sự phát triển của tổ chức, các chuẩn mực mới đã liên tiếp được bổ sung. Điều này thể hiện qua các công ước quan trọng, như Công ước chống phân biệt chủng tộc, Công ước xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước về quyền trẻ em, Công ước chống tra tấn, Công ước về quyền của người lao động di trú và gia đình họ. Gần đây, Liên hợp quốc đã thông qua nhiều nghị quyết về quyền của người LGBT, quyền con người gắn với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy xây dựng Công ước về quyền của người cao tuổi và Công ước về quyền phát triển.
Những vấn đề đặt ra đối với Liên hợp quốc trong bối cảnh hiện nay
Hiện nay, thế giới đang biến động nhanh theo xu thế đa cực, đa trung tâm và “phân mảnh”. Trong bối cảnh đó, Liên hợp quốc đứng trước những thách thức chưa từng có, vừa do sự điều chỉnh chính sách và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, vừa do những hạn chế tích tụ, điểm nghẽn kéo dài trong cơ chế vận hành của hệ thống.
Thứ nhất, cạnh tranh và phân mảnh địa - chính trị đang kìm hãm đáng kể việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của Liên hợp quốc. Tương quan lực lượng giữa các cường quốc có sự thay đổi sâu sắc so với thời điểm Liên hợp quốc ra đời hay sau Chiến tranh lạnh. Thế giới mang tính đa cực, đa trung tâm, không còn chịu sự chi phối tuyệt đối của một hay hai cường quốc. Các tập hợp lực lượng mới tuy vẫn chịu tác động từ những nước lớn, nhưng vận động khá linh hoạt trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc và từng lĩnh vực cụ thể. Trong bối cảnh đó, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc nhiều lần bị vi phạm, kể cả bởi chính các nước lớn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng trên hầu hết lĩnh vực thuộc chương trình nghị sự, khiến các cơ chế của Liên hợp quốc khó đạt đồng thuận trong việc thông qua nghị quyết, tìm kiếm giải pháp đối với các cuộc xung đột, phát huy vai trò trung gian hòa giải cũng như thúc đẩy mục tiêu phát triển.
Thứ hai, sự phân mảnh về kinh tế đặt ra thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống Bretton Woods. Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại hiện nay vấp phải lực cản lớn từ chủ nghĩa bảo hộ, các chính sách thương mại đơn phương, xu hướng dân túy và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cuộc cạnh tranh thương mại giữa các nước lớn, sự gia tăng thỏa thuận song phương thay vì thông qua Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cùng với những đứt gãy trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đã phản ánh rõ những chuyển dịch mạnh mẽ trong trật tự kinh tế - thương mại quốc tế. Điều đó đặt ra thách thức không nhỏ đối với vai trò của Liên hợp quốc, WTO và các tổ chức chuyên môn trong việc thúc đẩy quản trị kinh tế toàn cầu, duy trì một môi trường thương mại công bằng, ổn định và bền vững.
Thứ ba, thế giới đang phải đối diện với nhiều vấn đề toàn cầu phức tạp, đòi hỏi cách tiếp cận mới, hiệu quả hơn. Các thách thức như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, dịch bệnh, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, tội phạm mạng, tội phạm công nghệ hay sự xuất hiện của các công nghệ mới nổi… đều cần đến sự phản ứng nhanh nhạy và hiệu quả từ Liên hợp quốc. Tuy nhiên, bộ máy của Liên hợp quốc được cho là đang bộc lộ không ít hạn chế, chậm thích ứng trước tình hình mới.
Trong những năm qua, Liên hợp quốc đã tiến hành nhiều nỗ lực cải tổ, song kết quả còn khiêm tốn. Cải tổ Đại Hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc gần như rơi vào bế tắc; cải tổ hệ thống phát triển với sáng kiến “Thống nhất hành động” chưa đạt kỳ vọng. Hiện nay, Liên hợp quốc đang thúc đẩy Sáng kiến “UN80” trong bối cảnh khủng hoảng tài chính chưa từng có, buộc nhiều cơ quan và Ban Thư ký Liên hợp quốc phải cắt giảm nhân sự, điều chuyển cán bộ tới các nước đang phát triển, thu hẹp hoạt động. Theo giới chuyên gia, điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Liên hợp quốc trong thời gian tới.
Thứ tư, Liên hợp quốc ngày càng đứng trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các cơ chế hợp tác đa phương khác trong quản trị toàn cầu. Những cơ chế mới, với hình thức vận hành linh hoạt, sự tham gia của nhiều chủ thể và nguồn lực đa dạng, đang từng bước mở rộng ảnh hưởng. Trong khi đó, bộ máy Liên hợp quốc với quy mô lớn thường xuyên gặp khó khăn về nguồn lực để triển khai các chương trình phát triển hay hoạt động gìn giữ hòa bình, đồng thời phải dành một phần đáng kể kinh phí cho vận hành. Ngược lại, các cơ chế tiểu đa phương, khu vực và liên khu vực theo lĩnh vực lại huy động được nhiều nguồn lực từ khu vực tư nhân và các nhà tài trợ, qua đó thực hiện hiệu quả những nhiệm vụ vốn trước đây chủ yếu do Liên hợp quốc đảm trách.
Phát huy vai trò trung tâm của Liên hợp quốc trong quản trị toàn cầu
Mặc dù đứng trước không ít thách thức, Liên hợp quốc vẫn hội tụ những yếu tố cần thiết để tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong quản trị toàn cầu.
Một là, trong khi chủ nghĩa bảo hộ và dân túy đang có xu hướng gia tăng ở một số quốc gia, mở cửa, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa vẫn là xu thế lớn của thời đại. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ tiếp tục thúc đẩy xu thế này, thông qua việc hiện đại hóa hạ tầng, mở rộng các phương thức kết nối giữa quốc gia, nền kinh tế, doanh nghiệp và cá nhân. Cơ hội tiếp cận thông tin, tri thức ngày càng rộng mở, vượt qua mọi ranh giới địa lý. Công nghệ thông tin, internet và các công nghệ mới vừa là động lực của toàn cầu hóa, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, Liên hợp quốc vẫn giữ vai trò then chốt, với tư cách là cơ chế trung tâm trong quản trị toàn cầu.
Hai là, trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, Liên hợp quốc vẫn khẳng định vị thế là cơ chế quan trọng để các quốc gia bảo đảm lợi ích và thực thi chính sách đối ngoại. Nhiều quốc gia xem Liên hợp quốc là diễn đàn đa phương quốc tế hàng đầu để tham gia định hình khuôn khổ, “luật chơi” chung và thúc đẩy hợp tác đa phương trong giải quyết thách thức toàn cầu. Các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và hệ thống luật pháp quốc tế tiếp tục là nền tảng điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, cũng như giữa quốc gia với các chủ thể phi nhà nước. Đối với các nước lớn, Liên hợp quốc và cơ chế hợp tác đa phương là kênh quan trọng để mở rộng ảnh hưởng, đồng thời phát huy “sức mạnh mềm” bổ trợ cho “sức mạnh cứng”. Đối với các quốc gia vừa và nhỏ, Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác đa phương là diễn đàn để khẳng định tiếng nói, nâng cao vị thế, kiềm chế xu hướng chính trị cường quyền, đồng thời huy động nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, mặc dù còn nhiều khó khăn, Liên hợp quốc vẫn là cơ chế có ưu thế vượt trội trong quản trị toàn cầu. Liên hợp quốc sở hữu hệ thống cơ quan bao quát hầu hết lĩnh vực, từ chính trị, hòa bình, an ninh, kinh tế, xã hội, đến quyền con người, nhân đạo và pháp lý quốc tế. Song song với đó là mạng lưới tổ chức chuyên môn về công nghệ, thông tin, lao động, môi trường, văn hóa, giáo dục, phụ nữ, trẻ em, dân số, di cư, phòng, chống tội phạm… Đặc biệt, với các phái bộ gìn giữ hòa bình cùng sự hiện diện tại nhiều khu vực và quốc gia, Liên hợp quốc có khả năng trực tiếp tham gia các hoạt động nhân đạo, duy trì hòa bình và hỗ trợ tái thiết hậu xung đột khi được giao phó; qua đó, giữ vững vị trí trung tâm trong hệ thống hợp tác đa phương toàn cầu. Các cơ chế hợp tác đa phương khu vực và quốc tế khác, mặc dù xuất hiện ngày càng nhiều và có ưu thế linh hoạt, song chỉ có thể đảm nhận vai trò bổ trợ, phát huy giá trị trong những lĩnh vực chuyên biệt.
Bốn là, Liên hợp quốc đã khẳng định được vai trò, vị thế với bộ máy ổn định, uy tín và tính trung lập tương đối, qua đó nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ các quốc gia, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và khu vực phi chính phủ. Dù còn bộc lộ không ít khiếm khuyết và quá trình cải tổ chưa đạt kết quả như mong muốn, nhưng trước xu thế vận động của tình hình thế giới và sức ép từ sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn, tiến trình cải tổ Liên hợp quốc sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Kết quả cải tổ sẽ góp phần giúp Liên hợp quốc duy trì vai trò, vị thế trung tâm, đặc biệt trong xây dựng khuôn khổ và luật lệ chung, tạo nền tảng cho quản trị toàn cầu cũng như phối hợp hành động ứng phó thách thức xuyên quốc gia. Các cơ chế hợp tác đa phương hay tiểu đa phương, dù có thể phát huy hiệu quả ở phạm vi chuyên ngành, khu vực hoặc liên khu vực, song không thể thay thế Liên hợp quốc. Thay vào đó, Liên hợp quốc và các cơ chế này sẽ bổ trợ cho nhau, qua đó thúc đẩy hợp tác và điều hòa những khác biệt trong vấn đề toàn cầu.
Trải qua tám thập niên phát triển, Liên hợp quốc đã khẳng định uy tín và khả năng tập hợp nỗ lực của các quốc gia trong việc xây dựng các khuôn khổ và chuẩn mực chung. Trong tương lai, dù cục diện quốc tế có thể biến đổi, Liên hợp quốc vẫn sẽ tiếp tục là cơ chế quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và củng cố luật pháp quốc tế, các khuôn khổ, chuẩn mực điều chỉnh quan hệ toàn cầu cũng như ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống. Đồng thời, Liên hợp quốc có khả năng đi đầu trong xây dựng các khuôn khổ toàn cầu đối với những vấn đề mới nổi và các công nghệ mới, điển hình như quá trình định hình các quy tắc về trí tuệ nhân tạo (AI) và nhiều công nghệ tiên tiến khác hiện nay.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, vai trò của Liên hợp quốc trong kiểm soát quan hệ giữa các cường quốc có thể chỉ ở mức hạn chế. Tuy nhiên, với “quyền lực tập hợp”, Liên hợp quốc vẫn là diễn đàn quan trọng để thúc đẩy thảo luận giải pháp hòa bình, ngăn ngừa xung đột và kiềm chế leo thang căng thẳng; đồng thời, tiếp tục giữ vị trí không thể thiếu trong kiểm soát xung đột, gìn giữ hòa bình và triển khai hỗ trợ nhân đạo cho dân thường chịu ảnh hưởng của chiến tranh, xung đột.
Trong những lĩnh vực then chốt, không một tổ chức quốc tế hay phi chính phủ nào có đủ khả năng và uy tín như Liên hợp quốc. Các khu vực đang đối mặt với nạn đói, xung đột vẫn cần đến sự hiện diện kịp thời, hiệu quả của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) hay các lực lượng gìn giữ hòa bình. Tuy nhiên, đối với một số vấn đề chuyên sâu hoặc đòi hỏi phản ứng nhanh hơn, các cơ chế đa phương nhỏ và tập hợp lực lượng linh hoạt có thể phát huy vai trò bổ trợ, vừa khắc phục những hạn chế của Liên hợp quốc, vừa góp phần hình thành các phương thức và khuôn khổ mới cho quản trị toàn cầu.
Liên hợp quốc sẽ tiếp tục giữ vai trò tích cực trong việc huy động nỗ lực quốc tế nhằm ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp. Đây là những vấn đề mang tính toàn cầu, vừa là lĩnh vực mà các nước lớn có nhu cầu hợp tác, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với cộng đồng quốc tế, bởi không một quốc gia nào có thể tự giải quyết đơn lẻ. Tiêu biểu là ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an ninh năng lượng và xây dựng các chuẩn mực chung cho những vấn đề, công nghệ mới nổi.
Tóm lại, trong một thế giới phân mảnh, Liên hợp quốc đang đứng trước sức ép cải tổ mạnh mẽ. Tiến trình cải tổ hiện nay tuy còn nhiều khó khăn, đòi hỏi sự tham vấn và đồng thuận giữa các quốc gia thành viên, nhưng những bước đi đầu tiên nhằm tối ưu hóa hoạt động, tinh giản bộ máy, tiết kiệm chi phí của Ban Thư ký và các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc đã được triển khai, đồng thời tiếp tục được thúc đẩy trong thời gian tới. Cải tổ không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là cơ hội để Liên hợp quốc thích ứng, định vị lại và khẳng định “sức sống” trong bối cảnh mới. Với bề dày thành tựu, uy tín và những ưu thế nổi trội so với bất kỳ tổ chức quốc tế nào khác, Liên hợp quốc sẽ tiếp tục giữ vững vai trò trung tâm, không thể thay thế trong quản trị toàn cầu, từ duy trì hòa bình, bảo đảm an ninh, thúc đẩy hợp tác phát triển đến bảo vệ và thúc đẩy quyền con người./.
----------------------------
(1) Xem: United Nation: “United Nations Charter, Chapter I: Purposes and Principles” (Tạm dịch: Hiến chương Liên hợp quốc, Chương I: Mục đích và Nguyên tắc), https://www.un.org/en/about-us/un-charter/chapter-1
(2) Điển hình là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng Thế giới (WB); Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO); Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO); Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Chương trình Lương thực thế giới (WFP); Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP); Quỹ Đặc biệt về phát triển kinh tế; Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO); Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA); Chương trình Nhân cư Liên hợp quốc (UN-Habitat); Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO); Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP); Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD); Chương trình Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới;…
(3) Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban Năng lượng hạt nhân đã xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có việc “kiểm soát năng lượng hạt nhân nhằm bảo đảm chỉ được sử dụng cho mục đích hòa bình” và “giải trừ quân bị đối với vũ khí hạt nhân cũng như các loại vũ khí hạng nặng khác có khả năng hủy diệt hàng loạt”
(4) Trong đó có Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân (năm 1968), Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (năm 1996), Công ước cấm vũ khí hóa học (năm 1992), Công ước cấm vũ khí sinh học (năm 1972) và gần đây là Hiệp ước buôn bán vũ khí thông thường (ATT) và Hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân
(5) Alynna Lyon - Kendal Stiles - Alistair Edgar - Kurt Mills - Peter Romaniuk: “The 75th Anniversary of the United Nations” (Tạm dịch: Kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hợp quốc) trong Global Governance 26(2) (Tạm dịch: Quản trị toàn cầu), Brill, ngày 11-6-2020, https://brill.com/view/journals/gg/26/2/article-p199_1.xml?language=en&srsltid=AfmBOoojt2EkoS-JZIeuc7wvUCq354H_0vRkB1P2FWOuHaBwvwcuOH0q
(6) Council of Foreign Relations: “The Role of the UN Secretary-General” (Tạm dịch: Vai trò của Tổng Thư ký Liên hợp quốc), Council of Foreign Relations, ngày 29-8-2024, https://cfr.org/backgrounder/role-un-secretary-general
(7) Corinne Barra and Lisa Hultman: “Just Different Hats? Comparing UN and Non-UN Peacekeeping” (Tạm dịch: Chỉ là những chiếc mũ khác nhau? So sánh hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và ngoài Liên hợp quốc), International Peacekeeping Journal, No. 27, Vol. 3, 2020, tr. 341 - 368
(8) Xem: “Special Procedures of the Human Rights Council”, United Nations Human Rights Council, ngày 21-8-2025, https://www.ohchr.org/en/special-procedures-human-rights-council
(9) Nghị quyết 5/1 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, https://ap.ohchr.org/documents/dpage_e.aspx?si=a/hrc/res/5/1
Chính sách hàng hải của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai: Sự điều chỉnh và tác động  (26/02/2026)
Quảng Ninh thúc đẩy phát triển khu kinh tế cửa khẩu, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới  (25/11/2025)
Kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong quản lý và phát triển nhân tài khoa học - công nghệ  (10/11/2025)
Tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế quốc gia  (09/11/2025)
Bất ngờ chiến lược trong quan hệ quốc tế và một số hàm ý chính sách  (17/04/2025)
Hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế di sản tỉnh Quảng Ninh  (19/12/2024)
- Củng cố sứ mệnh và khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong thế giới “phân mảnh”
- Đối ngoại nhân dân Việt Nam - Ấn Độ: “Động lực mềm” cho hợp tác chiến lược trong giai đoạn tái định hình địa - chính trị toàn cầu
- Chính sách ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan và một số gợi mở đối với Việt Nam
- Hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới
- Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Trung Quốc thời kỳ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm