Lễ hội truyền thống ở nước ta

Ngô Đức Thịnh
11:06, ngày 16-02-2011

TCCS - Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp trong phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại, cũng còn không ít các vấn đề nảy sinh khiến xã hội cần phải nhìn nhận lại và tìm cách giải quyết để những mặt tinh hoa của lễ hội truyền thống được đẩy mạnh và phát huy, khắc phục dần các hạn chế, tiêu cực.

1 - Thế nào là lễ hội truyền thống?

Hiện tại ở nước ta có nhiều loại lễ hội, bên cạnh lễ hội truyền thống còn có lễ hội mới (lễ hội gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng), lễ hội sự kiện (gắn với du lịch quảng bá du lịch, lễ hội nhân kỷ niệm những năm chẵn thành lập thành phố, tỉnh, huyện...)...; trong đó, lễ hội truyền thống có số lượng nhiều nhất (khoảng trên 7.000 lễ hội trong tổng số gần 9.000 lễ hội), phạm vi phân bố rộng (cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc), có lịch sử lâu đời nhất. Người ta có thể phân loại lễ hội truyền thống theo thời gian các mùa trong năm, trong đó quan trọng nhất là mùa xuân, mùa thu (xuân thu nhị kỳ); phân chia theo phạm vi lớn nhỏ: Lễ hội làng, lễ hội vùng, lễ hội quốc gia; phân loại theo tính chất của lễ hội: Lễ hội nghề nghiệp (nông, ngư, nghề buôn bán...), lễ hội tôn vinh anh hùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước, lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng cụ thể như lễ hội của Phật giáo, Ki-tô giáo, tín ngưỡng dân gian... So với các loại lễ hội khác, lễ hội truyền thống mang 3 đặc trưng cơ bản sau:

a) Lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục. Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò trám (Phú Thọ) là điển hình.

b) Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu...), các cuộc thi tài, vui chơi giải trí, ẩm thực, mua bán... Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng, vừa nguyên hợp này.

c) Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc. Nói cách khác, không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội.

Ba đặc trưng trên quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loại hình lễ hội khác, như lễ hội sự kiện, các loại festival...

2 - Năm giá trị của lễ hội truyền thống

- Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng. Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng, xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng), quốc tế đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ... chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng.

Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (cộng hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm)... Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng.

- Giá trị hướng về cội nguồn. Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn. Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng, như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hóa... Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Chính vì thế, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - du lịch.

- Giá trị cân bằng đời sống tâm linh. Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh. Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân, thiện, mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng. Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng. Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu.

- Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị. Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng động và hưởng thụ các giá trị văn hóa và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc. Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hòa trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xóa nhòa, con người cùng sáng tạo, và hưởng thụ những giá trị văn hóa của mình.

- Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa. Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hóa dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hóa dân tộc. Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội, mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi “xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, nở bừng cơ hội, người người tụ hội nơi đình đền, chùa mở hội. Nơi đó, con người hóa thân thành văn hóa, văn hóa làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hóa dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan, hát dậm...; các điệu múa xênh tiền, con đĩ đánh bồng, múa rồng, múa lân...; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương...; các trò chơi, trò diễn: đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám... ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua. Và như vậy thì dân tộc và văn hóa dân tộc sẽ đi đâu, về đâu, sẽ còn mất ra sao?

Ai đó đã từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hóa truyền thống của dân tộc, nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hóa. Chúng tôi nói thêm, trong cái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với “xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hóa đó. Không có làng xã Việt Nam thì cũng không có văn hóa Việt Nam.

3 - Bốn cảnh báo về tổ chức lễ hội truyền thống hiện nay

- Đơn điệu hóa lễ hội. Văn hóa nói chung cũng như lễ hội nói riêng mang tính đa dạng. Cùng là lễ hội, nhưng mỗi vùng miền, thậm chí mỗi làng có nét riêng, theo kiểu người xưa nói Chiêng làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ. Mỗi lễ hội đều có cốt cách, sắc thái riêng, cuốn hút khách thập phương đến với lễ hội làng mình. Tuy nhiên, ngày nay lễ hội đang đứng trước nguy cơ nhất thể hóa, đơn điệu hóa, hội làng nào, vùng nào cũng na ná như nhau, làm thui chột tính đa dạng của lễ hội, du khách thập phương sau một vài lần dự hội đã cảm thấy nhàm chán và không còn hứng thú đi chơi hội nữa.

- Trần tục hóa lễ hội. Lễ hội gắn với tín ngưỡng dân gian, do vậy nó thuộc về đời sống tâm linh, nó mang tính thiêng. Tất nhiên, tính thiêng là cái vĩnh hằng, nhưng trong mỗi xã hội nó được biểu hiện ở những hình thức khác nhau. Lễ hội cổ truyền tuy nảy mầm, bén rễ từ đời sống hiện thực, trần tục, nhưng bản thân nó là sự thăng hoa từ đời sống hiện thực và trần tục ấy. “Ngôn ngữ” biểu hiện của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng. Thí dụ, 3 trận đánh giặc Ân của ông Gióng trong hội Gióng là 3 trận đánh mang tính biểu trưng. Giặc Ân cũng biểu trưng hóa thành yếu tố âm của 28 cô gái.

- Quan phương hóa lễ hội. Văn hóa nói chung, trong đó có sinh hoạt lễ hội là sáng tạo của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó là cách thức mà người dân nói lên những mong ước, khát vọng tâm linh, thỏa mãn nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của mình. Do vậy, từ bao đời nay, người dân bỏ công sức, tiền của, tâm sức của mình ra để sáng tạo và duy trì sinh hoạt lễ hội. Đó chính là tính nhân bản, khát vọng dân chủ của người dân, nó khác với các nghi thức, lễ lạt của triều đình phong kiến trước kia và chừng nào cả với lễ hội mới hiện nay.

Trong việc phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền hiện nay, dưới danh nghĩa là đổi mới lễ hội, gắn lễ hội với giáo dục truyền thống, gắn lễ hội với du lịch... đây đó và ở những mức độ khác nhau đang diễn ra xu hướng quan phương hóa, áp đặt một số mô hình định sẵn, làm cho tính chủ động, sáng tạo của người dân bị suy giảm, thậm chí họ còn bị gạt ra ngoài sinh hoạt văn hóa mà vốn xưa là của họ, do họ và vì họ. Chính xu hướng này khiến cho lễ hội mang nặng tính hình thức, phô trương, “giả tạo”, mà hệ quả là vừa tác động tiêu cực tới chủ thể văn hóa, vừa khiến cho du khách hiểu sai lệch về nền văn hóa dân tộc.

- Thương mại hóa lễ hội. Cần phân biệt giữa hoạt động mua bán trong lễ hội và việc thương mại hóa lễ hội. Từ xa xưa, trong lễ hội không thể thiếu việc mua bán các sản phẩm độc đáo của địa phương, các món ăn đặc sản, mà hội chợ Viềng ở Nam Định và các hội chợ vùng núi là hiện tượng điển hình. Chính các hoạt động mua bán đó vừa mang ý nghĩa văn hóa, phong tục “mua may bán rủi”, vừa quảng bá các sản phẩm địa phương, mang lại những thu nhập đáng kể cho một số ngành nghề ở địa phương. Đó là các hoạt động rất đáng khuyến khích.

4 - Xu hướng đưa nghệ thuật đương đại vào lễ hội truyền thống hiện nay

Sự kết hợp, đan xen giữa các yếu tố truyền thống và đương đại (hiện đại) trong văn hóa là điều đã, đang và sẽ diễn ra ở mọi dân tộc, mọi thời đại. Tất nhiên, sự kết hợp, đan xen này càng trở nên bức thiết hơn trong bối cảnh xã hội có sự chuyển biến mang tính bước ngoặt từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hóa. Sự kết hợp đó có thể do nhu cầu tự phát của chủ thể văn hóa, cũng có thể là do các nghệ sĩ chuyên nghiệp nhận thức được nhu cầu đó mà chủ động tác động, thúc đẩy. Cách tân truyền thống, dù đó là quá trình tự phát hay tự giác thì cũng đều là cách để cái truyền thống tìm đường đi vào đời sống xã hội đương đại, là cách để văn hóa tự khẳng định tính thống nhất của nó trong trường kỳ lịch sử dân tộc.

Sự kết hợp, đan xen này cũng có thể diễn ra theo cách người ta lựa chọn các nhân tố truyền thống rồi cách tân, hiện đại hóa chúng trong tổng thể văn hóa đương đại, giống như chọn những nét nhạc, lời ca, điệu múa dân gian rồi từ đó “phóng tác” theo cách hiện đại. Cũng có thể đưa một số yếu tố hiện đại vào để làm “mới” văn hóa truyền thống, như đưa kỹ thuật hiện đại, cách trình diễn hiện đại để “làm mới” quan họ, hát chèo, hát văn, lễ hội...

Thực tế cho thấy hai cách làm trên có một số trường hợp thành công, nhưng không thiếu những thử nghiệm thất bại. Vậy từ thực tế đó, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm gì đối với việc đưa các yếu tố của văn hóa - nghệ thuật đương đại vào để nâng cao, làm mới văn hóa truyền thống.

Về phương pháp luận, đưa cái hiện đại vào văn hóa truyền thống, tức là đưa các yếu tố mới vào một cấu trúc cũ, yêu cầu làm sao yếu tố mới đó hòa nhập, liên kết hữu cơ được với cấu trúc truyền thống, từ đó nâng cao được truyền thống, không làm biến chất cái truyền thống. Muốn làm được điều đó, trước nhất, chúng ta phải hiểu và nắm được những đặc trưng cơ bản của văn hóa truyền thống. Trong các sinh hoạt nghi lễ và lễ hội truyền thống nó có những đặc trưng cơ bản và tuân theo quy luật chung, mà khi ta có ý định cách tân nó phải nắm được. Theo chúng tôi có ba nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, nghi lễ và lễ hội truyền thống bao giờ cũng chứa đựng tính biểu trưng, biểu tượng cao. Nói cách khác, ngôn ngữ của nghi lễ, lễ hội là ngôn ngữ biểu trưng, biểu tượng. Thí dụ, để nói sức mạnh của Ông Gióng trước quân xâm lược, các cụ ngày xưa tạo ra diễn xướng 3 trận đánh bằng cách ông Hiệu cờ của Gióng (chứ không phải là Gióng, vì làm sao để thần linh xuất hiện dưới dạng phàm trần) vừa phất cờ, vừa 3 lần nhảy lên đá tung 3 chiếc bát (tượng trưng cho núi đồi), úp trên ba cái chiếu (tượng trưng cho ba cánh đồng). Hay để nói tục tôn thờ mặt trời, các cụ bày ra tục đánh phết, vật cù, mà quả phết, quả cù được sơn đỏ, biểu trưng cho mặt trời, sự vận động của quả cù từ lỗ phía đông sang lỗ phía tây ở hai đầu sân là tượng trưng cho đường vận hành của vầng thái dương...

Thứ hai, nghi lễ (cưới xin, tang ma...) và lễ hội của bất cứ dân tộc nào cũng đã trải qua hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm hình thành, biến đổi và thường được định hình thành các “mô thức” khá chặt chẽ và ổn định. Đưa các yếu tố mới vào quy trình nghi lễ và lễ hội thì phải hết sức chú đến tính ổn định của các mô thức đó. Trên thực tế phục hồi và phát triển nghi lễ và lễ hội, không ít người, nhất là các “nghệ sĩ” chuyên nghiệp hay quan niệm xây dựng kịch bản lễ hội, rồi tùy tiện xếp đặt, làm đảo lộn các mô thức đã định hình ấy.

Thứ ba, nghi lễ, lễ hội là hoạt động tín ngưỡng - văn hóa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, nhân dân là chủ thể của sinh hoạt nghi lễ và lễ hội. Điều đó có nghĩa là mọi sự bổ sung, “cải tiến” phải xuất phát trước hết từ nhu cầu của nhân dân với tư cách là chủ thể văn hóa. Tất nhiên, nhu cầu đó của nhân dân, các nghệ sĩ chuyên nghiệp thấu hiểu và góp phần thể hiện để đổi mới và làm phong phú hơn lễ hội là điều cần thiết. Ví dụ, lễ hội Lệ Mật xưa vốn không có màn trình diễn Giảo Long (chém rắn), mà vào nhưng thập niên 70 - 80 của thế kỷ X các nghệ sĩ múa chuyên nghiệp dựa vào huyền thoại chém rắn của ông Hoàng Lệ Mật cứu công chúa Nhà Lý, đã xây dựng nên màn vũ đạo này và được nhân dân chấp nhận và kế thừa thành nét bản sắc của lễ hội Lệ Mật ngày nay. Hết sức tránh cách làm áp đặt, xuất phát từ một ý tưởng nào đó, lợi ích nào đó, một ý thích ngông cuồng nào đó, rồi từ đấy mà “đổi mới”, “hiện đại hóa” một cách tùy tiện! Đổi mới, đương đại hóa lễ hội là để nâng cao vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân, chứ không phải là để làm mất vai trò sáng tạo và bảo tồn bản sắc văn hóa của người dân.

Đổi mới nghi lễ, lễ hội bằng cách đưa nghệ thuật đương đại vào lễ hội truyền thống là điều đáng khuyến khích, tuy nhiên việc đổi mới này làm sao bảo tồn và nâng cao được tính biểu tượng, biểu trưng, tính thiêng, vốn làm nên bản sắc của mỗi lễ hội, tôn trọng tính mô thức của diễn trình nghi lễ, lễ hội; đặc biệt là phải tôn trọng vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân. Việc đổi mới lễ hội mà làm suy giảm, phá vỡ những đặc trưng trên của nghi lễ và lễ hội thì chỉ có thể chuốc lấy thất bại!./.