Vai trò của Việt Nam trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Vũ Hà - Thanh Bình
14:19, ngày 17-02-2011

TCCSĐT - Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương - một khu vực phát triển năng động nhất và cũng là khu vực rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh... trên thế giới. Việt Nam nằm giữa hai châu lục lớn nhất là châu Á và châu Mỹ với những cường quốc lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga... Vì thế, vai trò của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào việc bảo đảm chính sách đối ngoại đa phương, tận dụng được các nguồn lực bên ngoài trên cơ sở phát huy có hiệu quả các nguồn lực nội sinh.

1. Vị trí và tầm quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Xét trên góc độ địa - chính trị và địa - kinh tế thì khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp giáp với nhiều đại dương, trong đó Thái Bình Dương là "cửa ngõ" nối liền Mỹ với thế giới. Hiện nay, dân số ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/2 dân số thế giới; là khu vực có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt rất lớn và tập trung sự trỗi dậy kinh tế của nhiều nước, qua đó Mỹ có thể lợi dụng xu thế toàn cầu hóa kinh tế để mở rộng quan hệ mậu dịch ở khu vực đang rất hấp dẫn đối với Mỹ.

Trong "Chiến lược quốc gia cho thế kỷ XXI", Mỹ xác định khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một địa bàn quan trọng đối với an ninh quốc gia của nước Mỹ. Thực tế ở khu vực này đang tập trung sự chú ý của nhiều nước lớn và nhiều tổ chức quốc tế quan trọng. Vì vậy, đây là nơi đang tập trung nhiều mâu thuẫn về lợi ích có tính chiến lược của một số nước lớn đối trọng với lợi ích quốc gia Mỹ, đặc biệt những nước đang cạnh tranh với Mỹ để giành quyền khống chế khu vực này về chính trị và kinh tế.

Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có những thay đổi mang tính căn bản: Thứ nhất, sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác trên thế giới. Hiện nay, xuất khẩu của khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm 30% tổng lượng xuất khẩu của thế giới, kim ngạch thương mại mỗi năm giữa khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ vượt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 tổng lượng của thế giới. Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ hội để kinh tế các nước xung quanh phát triển, mặt khác lại làm cho họ cảm thấy e ngại và lo lắng trước sự cạnh tranh gay gắt thậm chí là sự lấn át trên nhiều phương diện. Thứ ba, các quốc gia sở hữu hạt nhân ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của các tổ chức phi chính phủ đối với vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ ở khu vực này, đều có khả năng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thêm gay gắt. Thứ tư, cơ chế hợp tác đa phương khu vực không ngừng tăng làm cho khả năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng có phần tăng lên, cho dù để điều đó trở thành hiện thực còn là câu chuyện của tương lai.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương không chỉ là một trong những khu vực có dân số đông nhất thế giới, mà còn là một trong những khu vực có nền kinh tế phát triển sôi động nhất và tập trung nhiều của cải nhất. Đồng thời, khu vực này còn là một trong những khu vực có lực lượng quân sự dày đặc nhất, tiềm lực phát triển quân sự lớn nhất và vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới. Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang khẳng định là nơi có mức sống cao nhất trên thế giới. Đến năm 2015, Đông Á sẽ thực hiện và vượt mục tiêu “kế hoạch phát triển thiên niên kỷ, tức là giảm một nửa mức dân số nghèo của năm 1990.” Vì vậy, bất kể về lĩnh vực kinh tế, hay là an ninh, đối với Mỹ, khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng trở nên quan trọng.

Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực phục hồi nhanh nhất và đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất sau những tác động sâu sắc của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu. Sự tăng trưởng chung của khu vực này dự báo vượt tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới nhờ nhu cầu nội địa và thương mại nội khối tăng giúp bù đắp sự suy giảm xuất khẩu sang các nền kinh tế phát triển. Những thách thức mới trên lĩnh vực an ninh đối với khu vực này mới đáng lo ngại, bởi châu Á - Thái Bình Dương là khu vực hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh... trên thế giới. Những vụ tranh chấp về biển, đảo giữa các nước ở khu vực Đông Bắc Á vẫn tiềm ẩn nguy cơ căng thẳng trong các mối quan hệ song phương hoặc đa phương về an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc luôn đặt quân đội của họ ở Đông Bắc Á trong tình trạng báo động cao, sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh. Những động thái đó đã làm bật lên những thách thức lớn về an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập năm 1989 tại Úc nhằm thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng trong khu vực và củng cố cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương. Với 21 thành viên và 2,6 tỉ người (khoảng 40% dân số trên thế giới), 56% GDP, và 57% giá trị thương mại toàn cầu, APEC tự hào đại diện cho một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với lợi ích của Mỹ. Vì vậy, Mỹ đang kiếm tìm một cơ chế an ninh thích hợp để lôi kéo, ràng buộc chặt chẽ các nước ở khu vực này phục vụ cho ý đồ củng cố địa vị lãnh đạo trên toàn thế giới của Mỹ trong thế kỷ XXI.

2. Quan điểm và chiến lược của các nước lớn (Mỹ, Nga, Trung Quốc)

Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực theo Mỹ có nhiều cái "nhất" như: nền kinh tế phát triển sôi động nhất, tập trung nhiều của cải nhất và có lực lượng quân sự dày đặc nhất. Vì vậy, mục tiêu của chiến lược an ninh châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ là tăng cường quyền lãnh đạo và quyền khống chế của mình đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Với vị trí đặc biệt, vừa ở Thái Bình Dương, vừa ở Đại Tây Dương, Mỹ muốn nắm vai trò lãnh đạo ở châu Á - Thái Bình Dương và củng cố sự hợp tác với các nước trong khu vực. Mục tiêu của Mỹ tại khu vực là: Ổn định, tự do lưu thông, phát triển kinh tế. Mỹ thực hiện chính sách trung lập trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ và kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp bằng các giải pháp hòa bình và theo công ước quốc tế.

Quan điểm của Mỹ là nhằm: Thứ nhất, xác định tầm quan trọng của vành đai chiến lược châu Á - Thái Bình Dương ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc. Thứ hai, tái khẳng định sự trở lại châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ và “tạo sự tin tưởng, trấn an” ASEAN với các cam kết của Mỹ. Thứ ba, củng cố và thắt chặt quan hệ đồng minh với Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân; triển khai hợp tác toàn diện của Mỹ đối với các đối tác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Mỹ đặt trọng tâm phòng ngừa đối thủ chiến lược trước hết chính là Trung Quốc, bởi đây là một nước lớn đang chứa đựng những tiềm năng phát triển mạnh về nhiều mặt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và trên thế giới nói chung trong thế kỷ XXI.

Về an ninh: Mỹ thực hiện chính sách an ninh gồm 3 thành phần: liên minh quân sự; duy trì sự hiện diện của lực lượng vũ trang Mỹ; và thiết lập cơ cấu an ninh mới ở khu vực. Mỹ xác định nhất quán liên minh giữa Mỹ và Nhật Bản là hòn đá tảng trong chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ.

Về đối ngoại: Mỹ tích cực thực thi chính sách tăng cường quan hệ với các nước; thúc đẩy kinh tế thị trường tự do ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ tiếp tục hợp tác trên thế mạnh nhằm mục đích kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc với các nước khác trong khu vực.

Về kinh tế: Chiến lược kinh tế của Mỹ ở khu vực châu Á Thái Bình Dương nhằm biến khu vực này trở thành thị trường tự do hóa kiểu phương Tây nói chung và tạo ra thị trường cho hàng hóa công nghệ cao của Mỹ nói riêng. Vì vậy, Mỹ tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế song phương với các nước trong khu vực, đặc biệt với Nhật Bản. Mỹ rất coi trọng nhân tố kinh tế của Trung Quốcđể bảo vệ lợi ích đầu tư của Mỹ ở khu vực này trong thế kỷ XXI.

Mục đích chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ là thực hiện bá quyền khu vực bằng các thủ đoạn kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao nhằm đe dọa, gây sức ép buộc các nước khuất phục trước tham vọng thiết lập một trật tự thế giới "đơn cực" do Mỹ lãnh đạo.

Từ khi lên cầm quyền, Chính quyền B.Ô-ba-ma đã không ngừng vạch ra kế hoạch và điều chỉnh chiến lược an ninh châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc là một trong những đối thủ chủ yếu, cho nên Mỹ tập trung làm suy yếu về chính trị, thâm nhập và cạnh tranh ảnh hưởng về kinh tế. Một mặt, mở rộng mức độ kiềm chế và bao vây. Mặt khác, lại coi trọng lợi ích kinh tế ở thị trường mới mẻ của Trung Quốc với số dân hơn 1 tỉ người. Sự lớn mạnh của Trung Quốc đã đem đến cho Mỹ cả những cơ hội và thách thức. Sự lớn mạnh này tạo cơ hội để Mỹ đầu tư và xuất khẩu hàng hóa vào Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng tạo thành mối đe dọa đối với sức ảnh hưởng kinh tế của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ tỏ ra lo lắng trước sự “lớn mạnh không ngừng” của sức mạnh quân đội Trung Quốc, sự “không minh bạch” của phát triển quân sự, và sự “tăng lên nhanh chóng” của chi phí quân sự, cũng như những “hoạt động liên tiếp” của hải quân Trung Quốc ở biển Đông.

Nội dung cơ bản của chiến lược an ninh châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ bao gồm: Một là, tăng cường hệ thống liên minh của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và thúc đẩy quan hệ đối tác của Mỹ ở khu vực này. Mỹ coi Nhật Bản, Hàn Quốc, Phi-líp-pin và Thái Lan là lực lượng chủ yếu để Mỹ tiếp tục duy trì và phát huy tầm ảnh hưởng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Vì vậy, Mỹ không cắt giảm quân đồn trú ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, không ngừng cải tiến chất lượng quân đồn trú của Mỹ ở khu vực này. Hai là, tích cực tham gia cơ chế hợp tác kinh tế và an ninh khu vực, bao gồm các cơ chế như ngăn ngừa phổ biến hạt nhân, xung đột khu vực, chạy đua vũ trang và hàng rào thuế quan. Ba là, nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc “hợp tác trên cơ sở đối thoại”. Hiện nay, trong cơ chế đa phương, đối thoại là vô cùng quan trọng. Mỹ chủ trương phát huy vai trò lớn hơn trong các cơ chế hợp tác vốn có, phản đối việc thành lập các cơ chế khu vực mới vì lo sợ bị loại bỏ ra ngoài. Kế hoạch trong năm 2011, Mỹ sẽ tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), với hy vọng sẽ đạt được mục đích can dự vào các hoạt động của khu vực. Bốn là, tăng cường tính linh hoạt và tính sáng tạo của Mỹ trong việc tham gia vào cơ chế hợp tác đa phương. Mục tiêu cuối cùng của Mỹ là tăng cường quyền lãnh đạo và khống chế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Châu Á - Thái Bình Dương là một khu vực phát triển mạnh mẽ, vì vậy việc bảo đảm an ninh cho các nước trong khu vực được coi là chiến lược đối ngoại của Nga. Mục tiêu chiến lược của Nga là tăng cường đối thoại mở và những biện pháp an ninh dựa trên nguyên tắc xây dựng quốc phòng, tạo lập tính phòng thủ cũng như củng cố sự tin cậy lẫn nhau. Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chính sách của Nga là nhằm bảo đảm an ninh biên giới phía Đông và củng cố đối tác chiến lược với Trung Quốc, bảo đảm tiếp tục phát triển hợp tác với Ấn Độ, đồng thời, thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản và các nước khác, trong đó có các quốc gia ASEAN. Viễn Đông là khu vực tiềm ẩn nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú, da dạng, có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt trong việc đưa Nga trở thành một siêu cường về nhiều lĩnh vực trên thế giới. Nga đưa ra chiến lược phát triển khu vực Viễn Đông tới năm 2025 và dự định tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2012 tại Vla-di-vô-xtốc (Vladivostok) cho thấy quyết tâm của Nga trong cuộc chạy đua vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Trung Quốc xác định mục tiêu an ninh chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương là: Thứ nhất, duy trì an ninh và phát triển của bản thân Trung Quốc. Thứ hai, bảo vệ hòa bình và phồn vinh lâu dài tại khu vực. Thứ ba, thúc đẩy xây dựng châu Á – Thái Bình Dương phát triển hài hòa. Trung Quốc chủ trương 5 điểm để xây dựng quan hệ đối tác an ninh kiểu mới: Quan điểm an ninh tổng hợp (đối tác toàn diện); quan điểm an ninh chung (đối tác bình đẳng); quan điểm an ninh mở (nuôi dưỡng sự tin tưởng lẫn nhau); quan điểm an ninh hợp tác (đối tác cùng có lợi); quan điểm an ninh phát triển (hướng về phía trước). Sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ nảy sinh những ảnh hưởng lớn đối với nội hàm và kết cấu của môi trường an ninh châu Á. Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng tạo thành những ảnh hưởng mang tính căn bản đối với lợi ích của Mỹ ở châu Á. Trên thực tế, Trung Quốc đang tìm cách thay thế vị thế mang tính chủ đạo của Mỹ ở Thái Bình Dương, cho tới toàn cầu.

3. Vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong vành đai châu Á - Thái Bình Dương. Với vị trí chiến lược - nằm giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á - có đường lãnh hải dài và chung đường biên giới trên bộ với Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia, Việt Nam chiếm vị trí trung tâm của các hoạt động kinh tế diễn ra khắp châu Á - Thái Bình Dương. Vì thế, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phát triển của các nước lớn trong khu vực cũng như đóng vai trò cầu nối hữu ích giữa các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

Việt Nam đã và đang nỗ lực cùng các nước đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của khu vực. Đặc biệt, kể từ khi gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều Hội nghị quốc tế lớn, trong đó, đáng lưu ý là Hội nghị cấp cao ASEAN 1996, Hội nghị cấp cao Cộng đồng Pháp ngữ 1997, Chủ tịch ASEAN năm 1998, Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC-16) năm 2006, Hội nghị cấp cao Diễn đàn Á - Âu (ASEM) năm 2007 và đặc biệt là gánh vác vai trò Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo An Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 bao gồm cả trọng trách 2 lần Chủ tịch luân phiên của Hội đồng và Chủ tịch Hội nghị Giải trừ quân bị của Liên hợp quốc khoá 2009. Việt Nam đã có nhiều sáng kiến, đóng góp cho các vấn đề quan trọng giúp các quốc gia Đông Nam Á triển khai thành công nhiều lĩnh vực hợp tác bản lề.Trong vai trò Chủ tịch ASEANnăm 2010, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò của mình khi tham gia các diễn đàn quốc tế quan trọng như Hội nghị Bộ trưởng ngọai giao ASEAN – EU, Hội nghị ASEAN - Hội đồng hợp tác vùng Vịnh, Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á. Việt Nam không chỉ đảm nhiệm tốt vai trò Chủ tịch ASEAN trên các diễn đàn đối thoại toàn cầu mà còn đóng góp rất nhiều vào sự thành công trong việc tổ chức các hội nghị cấp cao của ASEAN, các hội nghị chuyên ngành và nhiều hoạt động cộng đồng có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao tầm ảnh hưởng và uy tín của Việt Nam nói riêng và các nước ASEAN nói chung trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới.Vai trò của Việt Nam sẽ nổi lên như một người chơi chiến lược ở tầm trung trong các vấn đề khu vực. Việt Nam cần mối quan hệ đa phương tốt để cân bằng các nước lớn, bảo đảm chính sách đối ngoại đa phương.

Việt Nam chính thức gia nhập Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tháng 11 năm 1998. Mặc dù không phải là thành viên sáng lập ra APEC và trình độ phát triển còn thấp so với nhiều nền kinh tế APEC khác, nhưng Việt Nam đã chủ động tham gia, đóng góp tích cực cho nhiều hoạt động hợp tác của APEC với tinh thần trách nhiệm cao, chủ động tham gia các chương trình hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và quá trình tự do hóa thương mại của APEC. Việt Nam đã tham gia mạnh mẽ vào một số kế hoạch hành động tập thể, đưa ra nhiều sáng kiến và đề xuất nhiều dự án được chấp thuận. Việc tổ chức thành công rực rỡ Hội nghị cấp cao APEC-16 năm 2006 là bằng chứng cho thấy những đóng góp to lớn của Việt Nam đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khẳng định năng lực và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc Việt Nam tổ chức chu đáo trên 100 sự kiện lớn, nhỏ, trong đó có Hội nghị thượng đỉnh và nhiều hội nghị cấp bộ trưởng, đã thể hiện sự lớn mạnh cả về thế và lực của đất nước, giành được sự tin tưởng và tôn trọng của bạn bè quốc tế. Thành tựu APEC-16 đạt được trong việc thực hiện các mục tiêu Bogo cũng như liên kết kinh tế khu vực được ghi nhận. Ở cấp độ đa phương, APEC đã nỗ lực thúc đẩy Vòng đàm phán Đô-ha và chống lại chủ nghĩa bảo hộ. Ở cấp độ khu vực, APEC đã tạo nên một diện mạo mới cho môi trường kinh doanh tại châu Á - Thái Bình Dương. Các chương trình thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, cải cách cơ cấu, kết nối dây chuyền cung ứng... đã góp phần quan trọng làm cho hàng hóa, dịch vụ, lao động và đầu tư giữa các thành viên được di chuyển tự do và thuận lợi hơn. Việc tổ chức thành công APEC-16 làm cho Việt Nam được nhìn nhận không chỉ ở tầm khu vực mà cả ở tầm quốc tế. Cùng với việc trở thành thành viên của WTO (tháng 1-2007) và vai trò chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (tháng 7-2008), vai trò và tiếng nói của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế được đẩy lên tầm cao mới. APEC cũng là nơi để Việt Nam đạt được nhiều thỏa thuận quan trọng trong quan hệ song phương, đặc biệt với các cường quốc thế giới như Mỹ, Nga, Trung Quốc.

Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ tuyên bố cấp cao tại Hội nghị APEC Peru 2008, thúc đẩy sự phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó đặc biệt là việc đẩy mạnh liên kết kinh tế khu vực, tiến hành cải tổ cơ cấu, cải thiện an ninh lương thực và xử lý hài hòa những vấn đề xã hội trong quá trình toàn cầu hóa.

Không chỉ có vai trò quan trọng về chính trị, Việt Nam nằm trong top 2 nước (cùng với Trung Quốc) dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tăng trưởng kinh tế trung bình của Việt Nam đạt khoảng 7% - 8% liên tục trong 25 năm qua. Trao đổi thương mại với thế giới tăng bình quân 15 - 20%. Việt Nam đã giải quyết thành công vấn đề an ninh lương thực, vươn lên xếp thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo. Năm 2010, Việt Nam là 1 trong 2 quốc gia Đông Nam Á (cùng với Phi-líp-pin) đạt tốc độ tăng trưởng trung bình cao nhất, khoảng 7%. Thành tựu này có phần đóng góp quan trọng của nỗ lực hội nhập quốc tế ở mọi tầng nấc của Việt Nam. Mặc dù mức tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn thấp hơn nước láng giềng Trung Quốc, song công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã thành công hơn Trung Quốc rất nhiều. Việt Nam đã có bước tiến dài trong công cuộc giảm tỉ lệ hộ nghèo, có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong công cuộc thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Thành tựu của Việt Nam được Cộng đồng quốc tế ngưỡng mộ và đánh giá cao. Thành công về kinh tế và sự ổn định về chính trị đã biến Việt Nam thành điểm đến của nhiều công ty đa quốc gia, các định chế tài chính như Ngân hàng Thế giới (WB) và cả các công ty du lịch. Việt Nam vẫn là một trong những điểm đến hàng đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương về phát triển kinh doanh đối với các công ty nước ngoài. 83% các công ty đa quốc gia tuyên bố sẽ tăng hoặc duy trì tỉ lệ đầu tư của họ vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Việt Nam là một thực thể quan trọng có vai trò ngày càng tăng trong cộng đồng ASEAN. Các nỗ lực của Việt Nam đã góp phần biến ASEAN thành một nhân tố quan trọng đối với hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới. Việt Nam đã quyết định tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) với tư cách thành viên chính thức, và sẽ tiếp tục tham gia đàm phán Hiệp định này với tinh thần chủ động và tích cực. Gia nhập vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam đã giúp làm xích lại gần nhau giữa 2 nhóm nước ASEAN 6 (ASEAN cũ) và ASEAN mới (Lào, Cam-pu-chia và Mi-an-ma), đóng góp vào sự trưởng thành của ASEAN, từ đó, tạo nên những bước tiến của liên kết khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Năm 2003, ASEAN nhất trí xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN và cũng là lúc ý tưởng xây dựng Khu vực mậu dịch tự do châu Á - Thái Bình Dương được nhen nhóm. ASEAN giữ vai trò chủ đạo trong một số khuôn khổ hợp tác khu vực, nhất là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) - đây là cơ chế khu vực duy nhất để đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị - an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thập kỷ qua, ASEAN đã thiết lập một mạng lưới các Khu vực mậu dịch tự do với hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương như với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân. Hợp tác giữa ASEAN với các đối tác lớn khác như Mỹ, Nga, châu Âu…đang đi vào chiều sâu. Tóm lại, ASEAN có vai trò quan trọng trong khu vực và với vai trò là chủ tịch ASEAN, Việt Nam ngày càng quan trọng trên thế giới.

Điều đáng chú ý là, bối cảnh quốc tế và khu vực vừa qua khiến cho Việt Nam triển khai thực hiện vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010 gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đảm nhiệm tốt được vai trò của mình, thể hiện cụ thể ở những điểm sau:

Thứ nhất, Việt Nam đã tổ chức được 14 hội nghị cấp cao với các cường quốc lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc… trong khoảng thời gian khá ngắn (hơn 2 ngày) - một kỷ lục mới, chưa từng có trong lịch sử ASEAN. Hội nghị đã thông qua bản Kế hoạch tổng thể kết nối ASEAN - là thỏa thuận quan trọng thứ hai (chỉ sau Hiệp định Thương mại tự do FTA năm 1992) trong thúc đẩy liên kết và phát triển kinh tế khu vực.

Thứ hai, Việt Nam đã giữ vững được tăng trưởng kinh tế suốt 25 năm qua với mức tăng trưởng khá cao đã hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế toàn khối ASEAN, xứng đáng nhóm đứng đầu về thành tựu phục hồi kinh tế ở châu Á Thái Bình Dương. Từ đó, các hoạt động và chương trình làm việc của ASEAN với các bên đối thoại được tăng lên gấp nhiều lần, nâng cao vị thế của Việt Nam như là một cường quốc kinh tế mới trong khối.

Thứ ba, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị đầu tiên các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) có sự tham gia của lãnh đạo quan chức quốc phòng cao cấp nhất của tất cả các nước lớn (Mỹ, Nga, Trung Quốc..). Hội nghị này là một Diễn đàn an ninh mới, bổ trợ cho Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) trong việc giải quyết các thách thức an ninh chủ yếu của khu vực. Đây là hội nghị cấp cao thành công nhất, mở ra hướng giải quyết các vấn đề an ninh khu vực.

Thứ tư, Việt Nam đã cùng với các quốc gia khu vực phối hợp thông qua qui chế ứng xử biển Đông làm cơ sở để giải quyết các vấn đề trên biển, góp phần vào ổn định chung khu vực theo hướng gác tranh chấp, cùng khai thác.

Thứ năm, Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng cường hợp tác với các đối tác quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Ký kết 2 Thỏa thuận tăng cường hợp tác với Lào, Cam-pu-chia và 3 Hiệp định hợp tác về năng lượng với Nga trong Hội nghị cấp cao ASEAN 17 (tháng 10-2010).

Bối cảnh quốc tế trong thập niên thứ 2 của thế kỷ 21 sẽ có nhiều thời cơ đan xen với thách thức. Châu Á - Thái Bình Dương sẽ vẫn là khu vực phát triển năng động, trong đó, Trung Quốc có vai trò ngày càng lớn. Bên cạnh đó Mỹ cũng có điều chỉnh quan tâm nhiều đến khu vực. Là thành viên trong ASEAN, một mặt Việt Nam cần tiếp tục đổi mới và tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu, mặt khác với vị trí địa lí của Việt Nam nói riêng và ASEAN nói chung ở trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương cần tận dụng tạo nên một tam giác năng động giữa Trung Quốc, Mỹ và ASEAN./.

Tài liệu tham khảo

1, Toward Sustainable Growth in the Asia Pacific Region: Japan’s Responsibilities as Host country for APEC 2010, Nippon Keidanren, 15-10-2010.

2, Ajay Chhibber, Jayati Ghosh and Thangavel Palanivel (2009), The Global Financial Crisis and the Asia Pacific Region, UNDP Regional Centre for Asia and the Pacific.

3, Ralph A. Cosa, Brad Glosserman, Michael A. McDevitt (2009), The United States and the Asia Pacific Region: Security Strategy for the Obama Administration, Center for A New American Security (CNA).

4, Nguyễn Đức Thắng (2008), Châu Á Thái Bình Dương trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, Tạp chí Cộng sản số 14 (158), 2008.