Một số định hướng phát triển kinh tế đối ngoại bền vững của tỉnh Quảng Ninh
TCCS - Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển kinh tế đối ngoại trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi mô hình phát triển của các địa phương. Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế đối ngoại, thể hiện qua việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), mở rộng thương mại quốc tế và phát triển du lịch. Để hướng tới một nền kinh tế đối ngoại bền vững, tỉnh Quảng Ninh cần có định hướng phát triển dài hạn, dựa trên cơ sở đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế - xã hội.
Đầu tư cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
Giai đoạn 2012 - 2024, tỉnh Quảng Ninh đã chi hơn 2.500 tỷ đồng (khoảng 100,5 triệu USD) cho các hoạt động khoa học - công nghệ, chiếm khoảng 2,73% ngân sách thường xuyên hằng năm của tỉnh(1). Trong năm 2023, tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đã đạt 45,24% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Quảng Ninh. Về thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), năm 2024, tỉnh Quảng Ninh đã thu hút khoảng 2,88 tỷ USD vốn FDI, đứng thứ ba cả nước; có 188 dự án FDI từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tỷ trọng tập trung ở ngành chế biến - chế tạo và công nghệ cao(2).
Tỉnh Quảng Ninh đang từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ nền kinh tế khai khoáng/truyền thống sang mô hình công nghiệp chế biến - chế tạo công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, mức đóng góp của kinh tế số mới ở mức 5,9% - thấp hơn so với các địa phương dẫn đầu về công nghệ. Điều này cho thấy, mặc dù có nền tảng tốt, tỉnh Quảng Ninh vẫn cần nâng cao chất lượng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối quốc tế trong chuỗi giá trị công nghệ cao.
Tỉnh điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư từ “ưu tiên vốn lớn” sang “ưu tiên công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường”. Cần đặt tiêu chí ứng dụng công nghệ 4.0, tự động hóa, IoT, dữ liệu lớn làm yêu cầu tuyển chọn khi cấp phép đầu tư. Bên cạnh đó, Quảng Ninh hình thành các cụm công nghiệp công nghệ cao và trung tâm đổi mới sáng tạo vùng Đông Bắc. Theo đó, Quảng Ninh tập trung nguồn lực để xây dựng Khu công nghệ cao, Khu sản xuất thông minh tại các khu công nghiệp hiện có như Sông Khoai, Bắc Tiền Phong. Đồng thời, liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước và quốc tế để thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo phục vụ vùng Đông Bắc. Mặc dù đã có chi hơn 2.500 tỷ đồng cho khoa học - công nghệ, nhưng tỉnh vẫn còn thiếu hạ tầng trọng yếu như Big Data, AI. Do đó, cần bổ sung ngân sách, hỗ trợ hình thành trung tâm dữ liệu khu vực, nâng cấp hạ tầng số và mạng 5G, sử dụng truy cập băng rộng tốc độ cao để phục vụ sản xuất công nghệ.
Gắn kết với các tập đoàn quốc tế, trường đại học, viện nghiên cứu để đào tạo chuyên sâu cho lao động công nghệ cao. Bên cạnh đó, cần cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong việc chuyển giao công nghệ như ưu đãi thuế, mặt bằng, đào tạo miễn phí. Cần xây dựng mạng lưới liên kết chuỗi cung ứng toàn cầu, ký kết hợp tác với các tập đoàn lớn, thu hút các “nhà đầu tư dẫn dắt” đồng thời nhà cung cấp phụ trợ, dịch vụ kỹ thuật và các startup công nghệ.
Xây dựng mô hình kinh tế xanh và tăng trưởng bền vững
Tỉnh Quảng Ninh đã chủ động chuyển đổi mô hình từ khai khoáng nặng sang phát triển bền vững. Tỷ trọng ngành khai khoáng trong GRDP đã giảm từ khoảng 35% năm 2010 xuống còn 20,2% năm 2023. Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu phát triển các khu công nghiệp sinh thái, “cảng biển xanh”, hạ tầng thông minh kết nối logistics và du lịch sinh thái nhằm thu hút các nhà đầu tư theo tiêu chuẩn ESG (Environment - Social - Governance).
Tỉnh Quảng Ninh định hướng đến năm 2030 sẽ hình thành ít nhất 4 khu công nghiệp sinh thái đạt tiêu chuẩn quốc tế, trong đó tập trung vào các ngành công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, vật liệu mới và logistics xanh. Khu công nghiệp Bắc Tiền Phong (Quảng Yên) định hướng phát triển hệ thống năng lượng mặt trời mái nhà công suất 300 MWp, tiết kiệm khoảng 200 nghìn tấn CO₂/năm. Cảng Cái Lân và Lạch Huyện (liên kết vùng) đang nghiên cứu áp dụng mô hình “cảng biển xanh” với công nghệ xử lý nước ballast, điện hóa bến tàu và giám sát khí thải bằng IoT.
Tỉnh Quảng Ninh là một trong ba địa phương có lượng phát thải CO₂ cao nhất cả nước do quá trình khai thác than. Tuy nhiên, tỉnh đã phê duyệt Kế hoạch hành động về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, đặt mục tiêu giảm 20% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020; Tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng lên 25% vào năm 2030; Đóng góp vào mục tiêu quốc gia của Việt Nam theo OECD (năm 2023) - giảm 15,8% lượng phát khí thải nhà kính vào năm 2030. Việc hình thành các dự án điện gió ven biển Quảng Yên, điện mặt trời Uông Bí và hydro xanh đang được xúc tiến theo hướng đồng bộ hóa với Chiến lược Net-Zero 2050 của Việt Nam.
Ngành du lịch Quảng Ninh, với trọng tâm là Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, đang triển khai mô hình “du lịch xanh - du lịch không phát thải”. Năm 2023, khoảng 70% cơ sở lưu trú 4 - 5 sao ở Hạ Long đã đạt chứng nhận “du lịch bền vững” theo tiêu chuẩn ASEAN Green Hotel. Doanh thu từ du lịch sinh thái và trải nghiệm chiếm 38% tổng doanh thu du lịch của tỉnh. Ưu đãi đầu tư cho công nghệ xanh và năng lượng tái tạo: Áp dụng cơ chế miễn giảm thuế cho các dự án đạt tiêu chuẩn ESG hoặc có chứng chỉ giảm phát thải carbon (VCS). Thành lập Quỹ tín dụng môi trường Quảng Ninh để hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi “nâu sang xanh”.
Tăng cường liên kết vùng và hợp tác biên giới bền vững
Trong giai đoạn gần đây, tỉnh Quảng Ninh đã đầu tư mạnh vào hệ thống hạ tầng liên kết. Tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái hoàn thành, rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội đến Móng Cái từ 6 giờ xuống còn 3 giờ. Cảng biển nước sâu Cái Lân, cảng hành khách quốc tế Hạ Long, sân bay Vân Đồn cho phép kết nối đa phương thức: đường biển - đường bộ - hàng không. Khu kinh tế Cửa khẩu Móng Cái thu hút 102 dự án đầu tư (không bao gồm dự án trong các khu công nghiệp); trong đó, 12 dự án FDI với tổng vốn đầu tư là 212 triệu USD; 97 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư là 32.547 tỷ đồng(3), trở thành cực tăng trưởng thương mại biên giới lớn nhất phía Bắc.
Trong lĩnh vực thương mại biên giới, giai đoạn 2020 - 2023, kim ngạch xuất nhập khẩu qua Móng Cái đạt 13 - 15 tỷ USD/năm; 6.500 - 7.200 phương tiện hàng hóa qua lại trung bình mỗi ngày (trong thời điểm cao điểm mùa vụ nông sản).
Trong du lịch biên giới, năm 2024, khách du lịch Trung Quốc lưu trú tại tỉnh Quảng Ninh đạt khoảng 551.300 lượt; khách du lịch Trung Quốc đi qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái đạt 370.500 lượt. Tính riêng 9 tháng năm 2025, khách du lịch Trung Quốc lưu trú tại tỉnh Quảng Ninh đạt gần 428.000 lượt, khách du lịch Trung Quốc đi qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái đạt khoảng 249.000 lượt. Ngoài ra, ngành Du lịch Quảng Ninh chuẩn bị mọi điều kiện, đón nguồn khách quốc tế qua cặp cửa khẩu Hoành Mô (Việt Nam) - Động Trung (Trung Quốc)(4).
Để phát huy vai trò là cầu nối kinh tế khu vực, tỉnh Quảng Ninh cần chú trọng triển khai một số nội dung sau:
Một là, phát triển mô hình “Khu kinh tế cửa khẩu thông minh Móng Cái”. Áp dụng hải quan số, logistics số, chứng từ điện tử, hệ thống theo dõi container tự động (AI + IoT); Xây dựng sàn giao dịch thương mại biên giới điện tử, đặc biệt cho nông sản và hàng tiêu dùng; Hợp tác với thành phố Đông Hưng (Trung Quốc) thiết lập Cơ chế điều phối liên chính quyền để xử lý thông quan nhanh, minh bạch.
Hai là, tăng cường liên kết vùng với Hà Nội - Hải Phòng - Bắc Ninh. Hình thành vùng công nghiệp - hậu cần - du lịch liên tỉnh. Hợp nhất quy hoạch logistics cảng biển (Cái Lân - Lạch Huyện - Hải Phòng); phối hợp phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp chế tạo (đặc biệt là điện tử, pin sạch, năng lượng tái tạo).
Ba là, phát huy ngoại giao kinh tế địa phương - chủ động hội nhập quốc tế. Mở rộng hợp tác với các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Sơn Đông (Trung Quốc), thành phố Kansai (Nhật Bản), thành phố Incheon (Hàn Quốc); Tổ chức Diễn đàn thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc hằng năm tại Móng Cái để thu hút doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng xuyên biên giới theo các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới (như Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)).
Tóm lại, tỉnh Quảng Ninh có nhiều ưu thế và tiềm năng để phát triển kinh tế đối ngoại bền vững theo hướng công nghệ cao, xanh, hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, để thực hiện thành công các định hướng này, cần có chính sách đồng bộ để tỉnh Quảng Ninh có thể trở thành hình mẫu địa phương phát triển kinh tế đối ngoại bền vững./.
--------------------------
(1) 2.500 tỷ đồng - là số tiền đã chi cho hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2012-2024 của Quảng Ninh, Trang điện tử Báo Quảng Ninh, ngày 7-1-2025, https://baoquangninh.vn/2-500-ty-dong-giai-doan-2012-2024-quang-ninh-da-chi-hon-2-500-ty-dong-cho-hoat-dong-khoa-hoc-cong-ng-3338363.html
(2) Giữ lửa thu hút FDI, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, ngày 27-12-2024, https://www.quangninh.gov.vn/chuyen-de/DH-Dang/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=148709
(3) Phát huy lợi thế giao thương của các khu kinh tế cửa khẩu, Trang điện tử Báo Quảng Ninh, ngày 23-9-2025, https://baoquangninh.vn/phat-huy-loi-the-giao-thuong-cua-cac-khu-kinh-te-cua-khau-3375343.html
(4) Khai thác thị trường khách du lịch Trung Quốc cao cấp, Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh, ngày 4-11-2025, https://dulich.quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=5425
Phát triển bền vững các đảo ven bờ của tỉnh Quảng Ninh - Nền tảng chiến lược cho kinh tế biển xanh trong kỷ nguyên số  (25/11/2025)
Quảng Ninh thúc đẩy phát triển khu kinh tế cửa khẩu, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới  (25/11/2025)
Thu hút FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tỉnh Quảng Ninh: Động lực then chốt cho tăng trưởng kinh tế bền vững  (25/11/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm