TCCS - Là tỉnh phát triển kinh tế còn thấp so với vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, song nhiệm kỳ vừa qua Vĩnh Long đã nỗ lực phấn đấu đạt những thành tựu tăng trưởng kinh tế đáng khích lệ. Với mục tiêu quyết tâm xây dựng Vĩnh Long thành tỉnh trung bình khá trong khu vực, tại nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ Vĩnh Long quyết nghị thực hiện khâu đột phá: đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế.

Kinh tế tăng trưởng cao, toàn diện

Năm năm qua (2006 - 2010) là cả một thời gian đan xen những thuận lợi và thách thức, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tác động lớn, gây nhiều khó khăn cho đất nước nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng, bên cạnh đó dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên cây trồng, vật nuôi, giá nông sản biến động, lạm phát cao, sự biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Nhưng được sự hỗ trợ của các bộ, ban, ngành ở Trung ương và với sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng bộ, sự đồng thuận của nhân dân cùng sự nỗ lực, phấn đấu, năng động, sáng tạo của các cấp, các ngành trong tỉnh nên kinh tế Vĩnh Long tăng trưởng khá cao, toàn diện.

Tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh tăng bình quân hằng năm ở giai đoạn 2006 - 2010 là 11,3%/năm, cao hơn nhiệm kỳ trước 2,71%, tăng đều trên cả 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.090 USD, gấp 2,15 lần năm 2005. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, so với đầu nhiệm kỳ, công nghiệp - xây dựng tăng 2,5% và dịch vụ tăng 3,5%. Tính đến năm 2010 tỷ lệ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trong cơ cấu là: 49,5% - 16,6% - 33,9%. (Nghị quyết đề ra là 47% - 18% - 35%). Tương ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động nông nghiệp giảm 6,65%, công nghiệp, xây dựng tăng 1,75% và dịch vụ tăng 4,9%.

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 5,26%/năm; nông nghiệp tăng 3,47%/năm. Giá trị sản xuất bình quân đến năm 2010 đạt trên 92 triệu đồng/ha/năm, gấp 2,1 lần năm 2005. Chăn nuôi phát triển khá, nhất là đàn bò, tăng bình quân 8,46%/năm; đàn lợn và gia cầm phát triển theo hướng tập trung, quy mô lớn, bảo đảm vệ sinh thú y và có sản lượng hàng hóa cao. Thủy sản tăng bình quân 28,33%/năm, giá trị sản xuất thủy sản từ 9,16% năm 2005 tăng lên 17,84% năm 2010 trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng, đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân, nhiều khu dân cư tập trung, khu đô thị mới được hình thành; công nghiệp, ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành dịch vụ ở nông thôn được phục hồi và phát triển... đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn. Mô hình xã nông thôn mới bắt đầu được triển khai rộng, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị từng bước được rút ngắn.

Công nghiệp - xây dựng tiếp tục phát triển, tạo thêm năng lực sản xuất mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 23,15%/năm, cao hơn 6,55% so với nhiệm kỳ 2006 - 2010; trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 55,22%/năm, khu vực dân doanh tăng 23,27%/năm. Điện lưới quốc gia đã phủ khắp các ấp, khóm trong tỉnh; đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh của nhân dân; đến nay số hộ dân sử dụng điện đạt 98,5% so tổng số hộ trong toàn tỉnh. Tiếp tục đầu tư xây dựng các tuyến đường tỉnh, huyện; 100% số xã có đường ô-tô đến trung tâm. Xây dựng thủy lợi kết hợp với giao thông, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Hầu hết các ấp ở khu vực nông thôn đều thông xe hai bánh cả 2 mùa mưa nắng.

Thương mại - dịch vụ tăng bình quân 12,4%/năm. Mạng lưới cung ứng vật tư, nguyên liệu, trao đổi hàng hóa được mở rộng, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 24,82%/năm. Tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu tăng bình quân trong kỳ 11,4% - 29,4%. Các ngành dịch vụ phát triển nhanh và đa dạng, nhất là bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, dịch vụ tư vấn, kinh doanh bất động sản, tiền tệ,... phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân ngày càng tốt hơn.

Hoạt động du lịch được đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng theo hướng xã hội hóa, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu của khách trong và ngoài nước. Lượng khách du lịch đến tỉnh khoảng 150.000 lượt người/năm, tăng bình quân 26%/năm.

Tổng thu ngân sách nhà nước bảo đảm chi cho hoạt động thường xuyên và các chương trình mục tiêu của tỉnh. Tổng chi ngân sách tăng bình quân 24,78%/năm, trong đó, tăng chi cho đầu tư phát triển 30,63%/năm.

Hệ thống ngân hàng thương mại phát triển khá nhanh. Phương thức huy động vốn và cho vay luôn đổi mới. Doanh số cho vay tăng bình quân 24%/năm. Tổng số dư nợ tăng bình quân 22,83%/năm, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh và ổn định xã hội.

Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đã cơ bản hoàn thành kế hoạch sắp xếp, cổ phần hóa 100% các doanh nghiệp nhà nước, hoạt động có hiệu quả. Kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố và phát triển (toàn tỉnh có 90 hợp tác xã, tăng 37 hợp tác xã và có 2.350 tổ hợp tác, tăng 5% so với năm 2005), có nhiều chuyển biến tích cực về chất. Những thành phần kinh tế khác phát triển cả về số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh, tạo ra năng lực sản xuất mới; đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã, chất lượng được nâng lên, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng; đóng góp trên 83% tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh. Đến nay toàn tỉnh có 2.820 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tăng gấp 2,2 lần so với năm 2005.

Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế nền kinh tế Vĩnh Long vẫn còn tồn tại một số bất cập:

Thứ nhất, kinh tế tuy tăng trưởng khá, chuyển dịch cơ cấu đúng hướng nhưng chậm, chưa đạt mục tiêu đề ra. Công tác quy hoạch và chất lượng quy hoạch chưa cao, xây dựng kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, một số công trình đầu tư kéo dài, chất lượng không bảo đảm.

Thứ hai, cơ cấu sản xuất nông nghiệp và nông thôn tuy có chuyển biến nhưng chưa nhiều. Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn còn lúng túng. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn ít. Sản xuất chưa gắn với thị trường, hiệu quả chưa cao, thiếu tính bền vững.

Thứ ba, sản xuất công nghiệp tuy tăng trưởng khá nhưng quy mô vẫn còn nhỏ, hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm thấp, dẫn đến năng lực cạnh tranh còn yếu. Các khu, tuyến, cụm công nghiệp triển khai thực hiện chậm, thiếu đồng bộ. Tiểu, thủ công nghiệp phân tán, nhỏ lẻ.

Thứ tư, thương mại - dịch vụ chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh hiện có của tỉnh. Năng lực xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp còn yếu. Xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng nông sản sơ chế, lệ thuộc nhiều vào thị trường nước ngoài và chưa khai thác đúng mức thị trường trong nước.

Thứ năm, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội xây dựng chưa đồng bộ. Hệ thống giao thông chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển: thủy lợi chưa theo kịp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp - thủy sản; còn 45% dân số chưa được sử dụng nước từ hệ thống cấp nước tập trung; xử lý nước thải, rác thải ở các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, bệnh viện, khu dân cư tập trung và đô thị còn bộc lộ nhiều yếu kém.

Ưu tiên bước đột phá: đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế

Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ IX đã đề ra mục tiêu: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tăng cường đoàn kết trong Đảng bộ, đồng thuận trong nhân dân; tập trung huy động mọi nguồn lực, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế cho phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Phấn đấu xây dựng Vĩnh Long thành một tỉnh đạt mức trung bình khá trong khu vực”. Theo đó, các chỉ tiêu tăng trưởng chủ yếu: tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn tăng bình quân 13%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 1.920 USD; cơ cấu GDP phân bổ theo tỷ lệ khu vực I là 36%, khu vực II là 26% và khu vực III là 38%. Chọn hướng: “Ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế: nhất là giao thông, điện, nước, hạ tầng công nghệ thông tin... nhằm khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững” là khâu đột phá đầu tiên.

Để đạt được mục tiêu đề ra, Vĩnh Long tập trung thực hiện các giải pháp kinh tế đồng bộ như sau:

Một là, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn. Khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh để phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, trong đó tăng tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản; tăng diện tích rau, màu trên đất lúa; nâng cao chất lượng các vườn cây ăn trái, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi; nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái.

Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi theo hướng đa mục tiêu. Đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, nhất là khâu thu hoạch và bảo quản nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm thất thoát. Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, tập trung, chất lượng tốt và có thương hiệu, sức cạnh tranh cao (bưởi Mỹ Hòa, cam sành Tam Bình, sản phẩm các làng nghề...). Đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại và kinh tế hợp tác, liên kết chặt chẽ “4 nhà” từ sản xuất đến bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

Tập trung đào tạo nghề cho lao động nông thôn, góp phần tích cực đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn.

Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; phát triển làng nghề; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định và nâng cao đời sống cho nông dân. Đẩy nhanh thực hiện đề án xây dựng xã nông thôn mới, phấn đấu đạt 23% số xã; rút ngắn chênh lệch mức sống vật chất và tinh thần giữa nông thôn và thành thị.

Hai là, phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đặc biệt quan tâm đến những ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nhất là công nghiệp dùng nguyên liệu tại chỗ, chế biến nông sản.

Hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng các khu, tuyến công nghiệp, nhất là khu công nghiệp Hòa Phú giai đoạn 2, khu công nghiệp Bình Minh, tuyến công nghiệp Cổ Chiên và tiếp tục quy hoạch, xây dựng thêm 3 khu công nghiệp mới. Tạo quỹ đất sạch ở các cụm công nghiệp huyện, thành phố; từng bước di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư. Thu hút dự án đầu tư mới, ưu tiên cho các dự án có công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường.

Tập trung các nguồn lực để đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội một cách đồng bộ; ưu tiên các công trình có vai trò động lực thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoàn chỉnh hệ thống giao thông đường tỉnh; phấn đấu đến năm 2015 có 100% số xã nhựa hóa đường ô-tô đến trung tâm, 40% số xã khu vực nông thôn có đường ô-tô liên ấp.

Ba là, phát triển thương mại, du lịch theo hướng hiện đại và văn minh, hỗ trợ và thúc đẩy thị trường nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đến năm 2015, phấn đấu 50% số thị trấn trong tỉnh có trung tâm thương mại hoặc siêu thị; 30% các chợ thị trấn và một số chợ khu vực nông thôn đạt chợ hạng I và hạng II, 70% đạt chợ hạng III.

Về tổng kim ngạch xuất khẩu phấn đấu đạt 460 triệu USD. Đẩy mạnh việc liên kết và mở rộng thị trường mới.

Tăng cường quan hệ hợp tác, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp và người sản xuất nông nghiệp.

Phát triển mạnh giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, giáo dục, y tế, phát thanh truyền hình... đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, phát triển du lịch sinh thái kết hợp tham quan di tích lịch sử, làng nghề. Liên kết mở các tuyến du lịch trong và ngoài nước, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển dịch vụ du lịch, phấn đấu 5 năm tới, thu hút lượng khách du lịch tăng bình quân 20%/năm.

Bốn là, quản lý tốt và phát huy có hiệu quả quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của tỉnh. Tổ chức thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước; thu đúng, thu đủ các nguồn thu cho ngân sách, bảo đảm chi hoạt động thường xuyên theo tinh thần tiết kiệm và hiệu quả. Tranh thủ, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ khác.

Năm là, tạo điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần hóa. Củng cố và phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã. Đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại; khuyến khích các hộ nông dân, các chủ trang trại và các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh; khuyến khích các hình thức liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

Thực hiện có hiệu quả các giải pháp trên, Vĩnh Long có đủ căn cứ tạo đà phấn đấu vươn lên trên mức trung bình khá của cả nước trong giai đoạn tiếp theo, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng ta đã đề ra./.