TCCSĐT - Từ khi Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma lên nắm quyền (tháng l-2009) đến nay, quan hệ Việt Nam - Mỹ có những chuyển biến nhanh và sâu sắc. Mỹ đã chủ động đẩy nhanh quan hệ với Việt Nam theo hướng lâu dài và khá toàn diện, trong khi Việt Nam có nhu cầu tăng cường quan hệ nhiều mặt với Mỹ nhằm phục vụ lợi ích quốc gia.

Những nhân tố ảnh hưởng

Trong bối cảnh tình hình mới, quan hệ Mỹ - Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc, trong đó những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến quan hệ này là:

Khủng hoảng tài chính, dẫn đến suy thoái kinh tế Mỹ và toàn cầu, cùng với sự “căng trải về chiến lược”, đặc biệt là tình trạng sa lầy tại I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, khiến quốc lực, vị thế của Mỹ suy giảm đáng kể. Việc giải quyết các vấn đề toàn cầu quan trọng gắn với lợi ích của Mỹ, như vấn đề hạt nhân của I-ran và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, thúc đẩy lộ trình hòa bình Trung Đông lâm vào bế tắc. Mỹ vẫn giữ vị thế siêu cường số một toàn cầu nhưng gặp khó khăn trong củng cố và mở rộng tầm ảnh hưởng. Các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc, nổi lên, cạnh tranh ảnh hưởng quyết liệt với Mỹ. Từ tình hình trên, Chính quyền của Tổng thống B.Ô-ba-ma buộc phải điều chỉnh chính sách quốc gia, tập trung cho đối nội mà ưu tiên cao nhất là phục hồi kinh tế để làm nền tảng củng cố vị thế quốc tế của Mỹ; triển khai chính sách ngoại giao dựa trên chủ thuyết “quyền lực thông minh”. Quan hệ Mỹ với các nước lớn có xu hướng hòa hoãn, tăng cường hợp tác. Đáng chú ý, quan hệ Mỹ - Trung Quốc trở thành cặp quan hệ quan trọng nhất chi phối cục diện quốc tế.

Trong triển khai chính sách đối ngoại, Mỹ coi trọng hơn khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á. Mỹ coi châu Á - Thái Bình Dương là một trọng tâm trong chiến lược mới của Mỹ “duy trì vai trò lãnh đạo của nước Mỹ và theo đuổi một kỷ nguyên can dự mới với thế giới dựa trên những lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau”. Chính quyền của Tổng thống B.Ô-ba-ma đã có những bước đi nhanh hơn và khá toàn diện với khu vực này so với các đời Tổng thống Mỹ gần đây. Ngoại trưởng Hi-la-ry Clin-tơn là ngoại trưởng Mỹ đầu tiên có chuyến công du nước ngoài đầu tiên tới châu Á vào tháng 2-2009 và là một trong những ngoại trưởng Mỹ tới châu Á nhiều lần nhất trong năm đầu nhiệm kỳ (3 lần tới châu Á - Thái Bình Dương, 2 lần tới Nam Á). Trong chuyến thăm châu Á tháng 11-2009, Tổng thống B.Ô-ba-ma đã tự tuyên bố là "Tổng thống Thái Bình Dương Mỹ đầu tiên" và khẳng định Mỹ là nước thuộc khu vực Thái Bình Dương.
 
Chiến lược trở lại châu Á thể hiện rõ qua tăng cường can dự, xây dựng mối quan hệ vững mạnh hơn về kinh tế, chính trị và chiến lược với tất ca các nước trong khu vực. Chiến lược này tập trung củng cố các quan hệ đồng minh cũ, xây dựng các mối quan hệ đối tác mới với các quốc gia ở khu vực: 1- Dựa vào các liên minh hiệp ước với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Thái Lan và Phi-líp-pin, nhằm củng cố nền tảng an ninh và ổn định, phát triển ở khu vực; 2- Hướng tới các quốc gia đang nổi lên có khả năng đóng vai trò lớn hơn cả ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và trên toàn thế giới; 3- Xây dựng quan hệ với Trung Quốc trên quan điểm hoan nghênh sự trỗi dậy, nhưng an ninh quốc gia và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không được làm tổn hại quốc gia khác; 4- Thúc đẩy quan hệ với ASEAN và các nước Đông Nam Á.
 
Những lĩnh vực nhằm tập hợp và lôi kéo sự ủng hộ đối với Mỹ được chính quyền của Tổng thống B.Ô-ba-ma đưa ra bao gồm: thương mại - xuất khẩu, chống chạy đua vũ khí hạt nhân, hợp tác trong vấn đề an ninh năng lượng, thách thức biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia của thế kỷ XXI (chủ nghĩa khủng bố, nạn cướp biển, bệnh truyền nhiễm, nạn đói nghèo, buôn bán phụ nữ, trẻ em, bóc lột những người di cư...), dân chủ nhân quyền.

Trong bối cảnh trên, Việt Nam nằm ở Đông Nam Á, khu vực mà Chính quyền của Tổng thống B.Ô-ba-ma quan tâm hơn. Thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng qua việc hội nhập sâu, rộng hơn vào đời sống quốc tế và nâng cao vị trí, vai trò ở khu vực, nhất là khi Việt Nam thực hiện thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và giữ chức Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2010. Đặc điểm này củng cố thêm giá trị địa - chiến lược và vị thế của Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để Mỹ thúc đẩy quan hệ với Việt Nam. Mặc dù về bản chất, Mỹ vẫn xác định Việt Nam là đối tượng cần chuyển hóa thể chế chính trị, những Mỹ nhận thấy hai bên chia sẻ nhiều điểm đồng về lợi ích, do vậy cần thúc đẩy hợp tác. Bên cạnh đó, tiến trình quan hệ Mỹ - Việt Nam thời điểm Tổng thống B.Ô-ba-ma nắm quyền đã có quá trình phát triển ổn định và có sự đồng thuận giữa hai bên bất chấp những thay đổi mang tính thời điểm trong chính trị nội bộ Mỹ. Về phía Việt Nam cũng có nhu cầu tăng cường quan hệ với Mỹ nhằm đáp ứng lợi ích quốc gia, đồng thời nhận thức rõ mặt đối tác, đối tượng và chủ động các giải pháp, biện pháp tranh thủ cũng như phòng ngừa trong quan hệ với Mỹ.

Những đặc điểm của quan hệ Mỹ - Việt Nam

Do tác động của bối cảnh tình hình nói trên và sự chủ động thúc đẩy từ hai phía, quan hệ Mỹ - Việt Nam từ khi Tổng thống B.Ô -ba-ma lên nắm quyền đến nay có những diễn biến chính với các đặc điểm nổi bật sau :

Thứ nhất, về chính trị - chiến lược, Chính quyền của Tổng thống B.Ô-ba-ma tiếp tục kế thừa chính sách của Chính quyền Bu-sơ trong quan hệ với Việt Nam. Cùng với việc đẩy mạnh triển khai chính sách can dự đối với châu Á- Thái Bình Dương và trở lại Đông Nam Á, Mỹ coi trọng hơn vị thế và vai trò của Việt Nam ở khu vực, nhất là trong năm Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và Chủ tịch ASEAN năm 2010; chủ trương tăng cường quan hệ và đề nghị nâng tầm quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược".
 
Trong hai năm 2009 và 2010, hai bên tiếp tục duy trì các hoạt động trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao bên lề diễn đàn, hội nghị quốc tế. Kể từ nửa cuối năm 2009, Chính quyền của Tổng thống B. Ô-ba-ma đã quan tâm và tiếp tục thúc đẩy triển khai các thỏa thuận mà hai bên đã đạt được trước đây. Trong năm 2009, Chính quyền Mỹ đã cử một số đoàn cấp trợ lý, phó trợ lý bộ trưởng (Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, Phó Trợ lý Ngoại trưởng về Đông Á và ASEAN, Phó trợ lý Ngoại trưởng về công tác lãnh sự, Phó Đại diện thương mại) sang Việt Nam. Quốc hội Mỹ cũng triển khai một số đoàn nghị sĩ có ảnh hưởng như Thượng nghị sĩ Mắc Bâu-cớt (Max Baucus), Chủ tịch Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ; Thượng nghị sĩ Giôn Mắc Kên (John Mccain); Thượng nghị sĩ Gim Oép (Jim Web); đoàn Tiểu ban An ninh nội địa Hạ viện Mỹ đến Việt Nam. Ta đã chủ động tiến hành và phối hợp với phía Mỹ tổ chức thành công chuyến công tác Liên hợp quốc/Mỹ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 9-2009), các chuyến thăm Mỹ của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân (tháng 11-2009), Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (tháng 11-2009), các chuyến làm việc của Quốc hội, các bộ, ngành. Trong năm 2010 nổi lên là các hoạt động đối ngoại cấp cao, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Hội nghị Thượng đỉnh an ninh hạt nhân tại Mỹ (tháng 4-2010) theo lời mời của Tổng thống B.Ô-ba-ma, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết dự Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - ASEAN lần 2 tại Mỹ. Ngoại trưởng H.Clin-tơn thăm chính thức Việt Nam, dự Hội nghị Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF 17 vào tháng 7-2010) và dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Hà Nội (tháng 10-2010). Bộ trưởng Quốc phòng Rô-bớt Ghết thăm Việt Nam và dự Hội nghị Bộ trưởng ASEAN mở rộng (tháng 10-2010).
 
Qua các hoạt động ngoại giao này, hai bên khẳng định chủ trương tiếp tục tăng cường quan hệ và triển khai hợp tác trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, giáo dục, môi trường, nhân đạo ở cả kênh đa phương và song phương.

Thứ hai, trong bối cảnh kinh tế Mỹ và thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng từ cuối 2007, Chính quyền của Tổng thống B. Ô-ba-ma tập trung thực hiện mục tiêu đưa kinh tế Mỹ ra khỏi khủng hoảng thông qua tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế. Ngoại trưởng H.Clin-tơn đã nêu rõ: Mỹ coi quan hệ kinh tế - thương mại là nền tảng và động lực của quan hệ Mỹ - Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với chủ trương và chính sách của Việt Nam trong phát triển quan hệ với Mỹ. Hai bên đã thảo luận các biện pháp nhằm triển khai các thỏa thuận hợp tác đạt được trong chuyến thăm của các nguyên thủ quốc gia trước đó (thỏa thuận ký kết Hiệp định đầu tư song phương - BIT, xúc tiến từng bước việc Mỹ trao Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam). Về phía Mỹ, Chính quyền của Tổng thống B.Ô-ba-ma quan tâm thúc đẩy đề nghị Việt Nam tham gia Hiệp ước đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Từ đầu năm 2009 đến nay, mặc dù phải đối phó với khủng hoảng tài chính - tiền tệ, buộc phải thu hẹp đầu tư ra nước ngoài và hạn chế nhập khẩu, Mỹ vẫn là nhà đầu tư, đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam (tổng kim ngạch thương mại hai chiều ước tính đạt 16 tỉ USD trong năm 2010). Về phía Việt Nam, ta cũng đã chủ động đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư tại Mỹ, trong đó nổi lên là hoạt động của nhiều doanh nghiệp do các hiệp hội (da giầy, đồ gỗ...) và các doanh nghiệp tự tổ chức. Quan hệ kinh tế - thương mại tiếp tục đóng vai trò nền tảng và là đầu tàu thúc đẩy quan hệ song phương. Hai bên tiếp tục thúc đẩy giải quyết những khác biệt và sớm ký kết các thoả thuận song phương và đa phương, trong đó Mỹ mong muốn sớm hoàn tất đàm phán Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA) và thúc đẩy Việt Nam tham gia TPP. Việt Nam muốn Mỹ sớm trao GSP, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan đối với sản phẩm Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ và công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, quan hệ thương mại Mỹ - Việt Nam gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam do chính quyền Ô-ba-ma tiếp tục duy trì các biện pháp bảo hộ thương mại, như triển khai Luật Nông nghiệp 2008, đạo luật Lacey sửa đổi yêu cầu chứng minh nguồn gốc sản phẩm, thắt chặt quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm . . .

Thứ ba, Mỹ rất quan tâm và muốn tăng cường hợp tác về an ninh - quốc phòng, coi đây là cơ sở để tạo dựng niềm tin và đòn bẩy để mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực khác. Mỹ duy từ hoạt động trao đổi đoàn cấp cao, nổi bật là chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng R.Ghét và lần đầu tiên tham gia Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM +). Mỹ đánh giá cao hợp tác tích cực và hỗ trợ của Việt Nam trong tìm kiếm tù binh và người Mỹ mất tích (POW/MIA), coi đây là lĩnh vực hợp tác tạo tiền đề cho những tiến triển trong quan hệ quốc phòng hai nước gần đây. Cùng với việc thúc đẩy giải quyết khắc phục hậu quả chiến tranh, trong đó nổi lên là khắc phục hậu quả chất độc da cam, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, Mỹ cũng tăng cường mở rộng hợp tác, tập trung cho tăng cường đối thoại, trong đó hai bên đã thúc đẩy hình thành hai cơ chế quan trọng như Đối thoại chính trị - an ninh - quốc phòng và Đối thoại hải quân ở cấp Thứ trưởng lần đầu tiên. Ngoài ra, các lĩnh vực hợp tác về giáo dục, đào tạo, hỗ trợ hậu cần quân sự cũng góp phần để hai bên từng bước tăng cường hợp tác về an ninh, quốc phòng. Đây là những bước đi thận trọng, phù hợp với chủ trương chính sách an ninh, quốc phòng của mỗi nước.

Thứ tư, Mỹ điều chỉnh lập trường và quan điểm rõ hơn về vấn đề Biển Đông. Tại Đối thoại Shangri-La về an ninh châu Á - Thái Bình Dương lần thứ tám, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.Ghết phát biểu: Mỹ đặc biệt coi trọng các khu vực hàng hải chung, trong đó Biển Đông là nơi đang gây ngày càng nhiều quan ngại. Mỹ không đứng về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, song phản đối sử dụng vũ lực và các hành động cản trở tự do hàng hải, gây khó khăn cho hợp tác của Mỹ hay của bất kỳ quốc gia liên quan trong các hoạt động kinh tế hợp pháp; kêu gọi tất cả các bên hợp tác giải quyết khác biệt thông qua nỗ lực hòa bình, đa phương, tuân thủ luật pháp quốc tế. Tuyên bố ứng xử Biển Đông năm 2002 là một bước quan trọng theo hướng này và Mỹ hy vọng việc thực hiện toàn diện thỏa thuận này sẽ được tiếp tục. Đây có thể coi là phát biểu ở cấp cao nhất của Mỹ về Biển Đông, thể hiện thái độ rõ ràng hơn của Mỹ. Đáng chú ý, việc Mỹ đề nghị thiết lập cơ chế đối thoại hải quân thường niên, có thể bắt đầu ngay trong năm 2010 tại Ha-oai sau cuộc đối thoại quốc phòng tháng 9-2010, là cơ hội để Việt Nam thúc đẩy các lợi ích trên Biển Đông. Tại Hội nghị Diễn đàn An ninh khu vực (ARF 17) hồi tháng 7-2010 và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) lần thứ 5vào tháng 10-2010, Ngoại trưởng Mỹ khẳng định Mỹ có “lợi ích quốc gia” về tự do hàng hải ở Biển Đông; Mỹ phản đối sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông; khuyến khích các bên liên quan giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng luật quốc tế ở Biển Đông, tôn trọng Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và hướng tới hình thành Bộ Quy tắc ứng xử (COC); nhấn mạnh các nước cần hợp tác trong các vấn đề an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ nhân đạo; đề nghị các nước trong khu vực tìm kiếm giải pháp lâu dài cho vấn đề Biển Đông trên nguyên tắc tuân thủ nghiêm túc DOC; khuyến khích Trung Quốc đã có bước đi ban đầu hướng tới thảo luận COC với các nước ASEAN.

Thứ năm, về giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, nhân đạo và y tế: Trong chuyến thăm Việt Nam gần đây, Ngoại trưởng Mỹ H.Clin-tơn tuyên bố Mỹ sẽ nghiên cứu nghiêm túc việc hỗ trợ Việt Nam xây dựng trường đại học theo mô hình đại học ở Mỹ tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Mỹ coi hợp tác giáo dục là một trong những ưu tiên nhằm thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết giữa hai nước, đồng thời xây dựng lực lượng tri thức trẻ có quan điểm chịu ảnh hưởng giá trị Mỹ và ủng hộ Mỹ trong tương lai. Theo Đại sứ Mỹ tại Việt Nam M.Mi-cha-lac, số lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Mỹ đã lên tới hơn 13.000 sinh viên, đưa Việt Nam đứng hàng thứ 9 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có sinh viên theo học tại Mỹ. Cùng với sự phát triển tích cực của quan hệ song phương, gần đây, Chính quyền Mỹ có bước đi chủ động tích cực hơn trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Mỹ tuyên bố cố gắng xử lý vấn đề môi trường ở sân bay Đà Nẵng để làm mô hình cho hợp tác giải quyết chất đi-ô-xin. Đáng chú ý, hoạt động của Nhóm đối thoại Việt - Mỹ về vấn đề chất độc da cam (trong khuôn khổ kênh 2) đã thông qua kế hoạch hành động giai đoạn 10 năm (2010 - 2019) nhằm thúc đẩy chính quyền và các tổ chức, cá nhân ở Mỹ hỗ trợ khoản ngân sách 300 triệu USD đê giúp đỡ nạn nhân và tẩy độc môi trường ở Việt Nam. Về vấn đề rà phá bom mìn, Mỹ dự định thông qua khoản ngân sách 3,5 triệu USD trong năm nay để giúp Việt Nam trong vấn đề này. Về đối phó với nước biển dâng và biến đổi khí hậu, hai bên đã tổ chức thành công nhóm làm việc về biến đổi khí hậu trong tháng 3-2010 để triển khai kết quả của Hội nghị biến đổi khí hậu; phối hợp thúc đẩy Sáng kiến hợp tác hạ nguồn sông Mê Công và hợp tác khu vực Tiểu vùng sông Mê Công nhằm đánh giá tác động của việc xây dựng các đập thượng nguồn sông Mê Công đối với Việt Nam. Về cứu trợ thiên tai, Mỹ đánh giá Việt Nam có kinh nghiệm đối phó với lũ lụt trong khi Mỹ cũng chịu tác động của lũ lụt, muốn hai bên tiếp tục hợp tác, đặc biệt là chia sẻ thông tin, dự báo thảm họa.

Thứ sáu, cộng đồng người Việt tại Mỹ tiếp tục có chuyển biến tích cực trước thực tế phát triển của đất nước và tác động của chủ trương, chính sách đối với kiều bào của Đảng và Nhà nước ta; có xu hướng tăng đầu tư về trong nước trong bối cảnh kinh tế Mỹ suy thoái. Tuy có một số cá nhân, tổ chức trong cộng đồng, do mặc cảm quá khứ, tiếp tục có các hoạt động chống Việt Nam về dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, chi phối cộng đồng ở mức độ nhất định và cản trở sự phát triển của quan hệ Mỹ - Việt Nam, nhưng cần thấy rằng, cộng đồng này có vị trí ngày càng cao trong xã hội, tham gia sâu hơn vào chính trị dòng chính của Mỹ, nổi lên là việc lần đầu tiên người Việt có đại diện trong Hạ viện Mỹ. Đặc điểm này đưa lại triển vọng tác động hai chiều đối với quan hệ Mỹ - Việt Nam và quan hệ trong nước với cộng đồng người Việt tại Mỹ. Nếu ta tranh thủ tốt yếu tố này sẽ mở ra cơ hội để tiếp cận sâu hơn và tác động trực tiếp vào chính giới Mỹ nhằm thúc đẩy quan hệ Mỹ - Việt Nam.

Nhìn tổng thể, tăng cường quan hệ mọi mặt với Việt Nam là một trong những nội dung cơ bản trong điều chỉnh chính sách của Mỹ với Đông Nam Á và ASEAN thời gian qua. Đây là những điều chỉnh khá cơ bản, lâu dài và toàn diện, tạo điều kiện để quan hệ Mỹ - Việt Nam phát triển, trên cơ sở hai bên cùng có lợi./.