Kon Tum tập trung thực hiện tốt chính sách dân tộc, xóa đói, giảm nghèo nhằm tạo sự phát triển ổn định và bền vững
TCCS - Là một tỉnh có trên 52% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số với trên 20 dân tộc, đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn; hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao (khoảng 80% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhờ thực hiện tốt chính sách dân tộc, xóa đói, giảm nghèo tại địa phương tình trạng này hiện nay đã thay đổi, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được nâng lên.
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác dân tộc và việc triển khai thực hiện các chính sách dân tộc đối với sự phát triển của tỉnh, cấp ủy, chính quyền các cấp của tỉnh Kon Tum đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc nhằm giúp đồng bào phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần... góp phần củng cố niềm tin của dân đối với Đảng, đối với công cuộc đổi mới của đất nước. Ngay sau khi có Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) "Về công tác dân tộc", Tỉnh ủy Kon Tum đã quán triệt đến các cấp, các ngành và xây dựng Chương trình hành động số 50-CTr/TU, ngày 20-5-2003, để triển khai thực hiện. Đồng thời, căn cứ vào các chủ trương của Trung ương Đảng, Chính phủ và tình hình thực tế của địa phương, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã chủ động ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chương trình, đề án chuyên đề để tiếp tục cụ thể hóa NQTW 7 khóa IX "Về công tác dân tộc" nhằm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, như: Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 14-6-2007, của Tỉnh ủy về đẩy mạnh xây dựng các xã đặc biệt khó khăn; Nghị quyết số 05-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số giai đoạn 2008 - 2015; Chỉ thị số 10-CT/TU, ngày 04-9-2008, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh công tác phân công đảng viên phụ trách hộ, nhóm hộ; Chương trình số 37-CTr/TU, ngày 17-9-2007, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tập trung xây dựng các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn; Thông báo số 550-TB/TU, ngày 05-12-2008, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Đề án thí điểm phát triển loại hình nhóm hộ, tổ hợp tác sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm xây dựng thôn, làng thành cộng đồng phát triển kinh tế bền vững đến năm 2010.
Với quan điểm xây dựng xã và thôn, làng vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo phương châm: kiên trì, kiên quyết, trọng điểm, đồng bộ, tập trung xây dựng các thôn, làng vùng đặc biệt khó khăn thành cộng đồng phát triển kinh tế bền vững, đoàn kết, có cuộc sống no đủ, vững mạnh, an toàn; sớm giảm khoảng cách chênh lệch phát triển giữa các xã đặc biệt khó khăn với vùng thị trấn, thị xã, Tỉnh ủy Kon Tum đã giao các sở, ban, ngành thực hiện nhiệm vụ đỡ đầu, kết nghĩa xây dựng xã để giúp cơ sở tập trung tháo gỡ, giải quyết những vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Đồng thời, trong khả năng cân đối nguồn lực và thẩm quyền cho phép tỉnh đã ban hành một số chính sách cụ thể, như:
- Tập trung nguồn lực đầu tư 8 xã trọng điểm đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% của 6 huyện không thuộc diện được hỗ trợ đầu tư của Chính phủ theo Nghị quyết số 30a và Quyết định số 229 của Thủ tướng Chính phủ với mức đầu tư 3 tỉ đồng/năm/xã, do ngân sách tỉnh bảo đảm. Hỗ trợ 52 thôn (làng) có tỷ lệ hộ nghèo từ 50% trở lên của 29 xã thuộc 7 huyện, thành phố không thuộc các huyện, xã được đầu tư của Chính phủ và của tỉnh với mức 100 - 200 triệu đồng/năm/thôn từ ngân sách của tỉnh và của huyện.
- Trích ngân sách tỉnh cấp bù 100% lãi suất vay vốn đối với các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trồng cao su trong vùng quy hoạch phát triển cao su tiểu điền trong thời hạn 7 năm của chu kỳ kiến thiết cơ bản cây cao su với diện tích cao su được hỗ trợ tối đa không quá 2 ha/hộ.
- Hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số đang công tác ở các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang từ xã đến tỉnh đi học đại học, thạc sĩ với mức 20 triệu đồng/người, đi nghiên cứu sinh: 30 triệu đồng/người.
Qua việc lãnh đạo triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy và việc lãnh đạo thực hiện các chương trình, dự án cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét về các mặt, góp phần củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng, đối với công cuộc đổi mới của đất nước. Nhất là sau khi có Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 18-01-2000, của Bộ Chính trị khóa IX và Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhiều vấn đề an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên được tích cực triển khai, riêng trên địa bàn Kon Tum đạt nhiều kết quả rất đáng khích lệ.
Từ năm 2006 đến năm 2010, các cơ quan hữu quan đã tạo điều kiện cho trên 50.000 lượt hộ nghèo được vay vốn với tổng số tiền trên 320 tỉ đồng (mức vay bình quân từ 10 - 15 triệu đồng/hộ); 3.350 hộ được hỗ trợ đất sản xuất, đất ở (đạt 56,54% số hộ thuộc đối tượng); 7.063 hộ được hỗ trợ làm nhà ở (đạt 98,2%), 4.467 hộ được hỗ trợ xây dựng công trình nước sinh hoạt (đạt 103,6%); 34.615 lượt người được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức nông, lâm, thủy sản; 15.447 lượt lao động được đào tạo (với tổng kinh phí 13,543 tỉ đồng); xây dựng 8 dự án chăn nuôi bò kết hợp phát triển kinh tế hộ (với kinh phí 1,5 tỉ đồng); thành lập 16 câu lạc bộ pháp lý tại 16 xã nghèo và có 613 trường hợp được trợ giúp pháp lý miễn phí; đã triển khai chính sách hỗ trợ sản xuất phát triển ngành nghề ở 22 xã nghèo (với kinh phí 5,6 tỉ đồng), góp phần giúp cho hộ nghèo có điều kiện tổ chức sản xuất, chăn nuôi... Hằng năm, có khoảng trên 14.500 lượt hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được cấp không thu tiền dầu hỏa, 32.500 lượt hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được hỗ trợ tiền điện, cấp cây giống, phân bón, muối I-ốt theo Chương trình 168 với tổng kinh phí hàng chục tỉ đồng. Nhờ những việc làm tích cực đó, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 38,63% năm 2005 xuống còn 16,4% năm 2010 (theo tiêu chí năm 2005).
Cùng lúc với việc giúp dân xóa đói giảm nghèo, các hoạt động văn hóa xã hội cũng được thực hiện đồng bộ và có hiệu quả. Hằng năm, công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được tỉnh quan tâm thực hiện một cách có hiệu quả. Hiện nay, 100% số xã, phường, thị trấn có trạm y tế (trong đó trên 60% là kiên cố); 100% số xã có y sỹ và nữ hộ sinh hoạt động; 100% số thôn, làng có nhân viên y tế; trên 56% số xã có bác sỹ. Công tác khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người già và các đối tượng chính sách khác được tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả; đã cấp thẻ khám, chữa bệnh cho 233.824 người nghèo theo Quyết định số 139 của Chính phủ. Tỷ lệ số hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt trên 80%.
Đối với công tác giáo dục đào tạo, tỉnh ngày càng quan tâm hơn đến vùng sâu, vùng xa. Toàn tỉnh có 70 điểm trường có lớp bán trú dân nuôi với 7.800 học sinh theo học; tất cả các huyện đều có trường phổ thông dân tộc nội trú; chất lượng giáo dục đối với học sinh DTTS từng bước được nâng lên, các chế độ, chính sách đối với học sinh DTTS được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đến nay, 100% số huyện, thành phố đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục THCS; 67/97 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 42 trường đạt chuẩn quốc gia. Chính sách cử tuyển và sử dụng con em đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng thực hiện, từ năm 2000 đến nay đã cử trên 500 học sinh đi học đại học và cao đẳng ở các ngành đào tạo theo nhu cầu của tỉnh.
Nhờ làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển y tế giáo dục nên đời sống văn hóa tinh thần của người dân tại các buôn, làng ngày càng khởi sắc, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số được gìn giữ và phát huy, người dân dần thoát đói, nghèo về văn hóa. Thông qua các dự án, chương trình, các ngành chuyên môn của tỉnh đã thực hiện tốt việc điều tra, bảo tồn một số thôn, làng tiêu biểu và lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc ít người như đã phục dựng được 9 lễ hội (1); đầu tư xây dựng, sửa chữa 526 nhà rông của 736 làng đồng bào dân tộc thiểu số (đạt 71,4%) và 4 tụ điểm văn hóa. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã và đang trở thành một phong trào rộng lớn, toàn tỉnh hiện có 402 làng văn hóa và 67.447 hộ được công nhận là Gia đình văn hóa. Công tác phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số được quan tâm, đã xây dựng được 3 chương trình tiếng dân tộc thiểu số (Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng) phát sóng hàng tuần; báo ảnh được in bằng 3 thứ tiếng Kinh, Xê Đăng, Ba Na...
Trong điều kiện của một tỉnh có nhiều khó khăn nhưng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa lại chiếm số đông, những kết quả nêu trên của tỉnh cũng chỉ là bước đầu. Để đạt được kết quả trên, trước hết là nhờ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nhất là cấp huyện và cơ sở phải thường xuyên, liên tục; phải coi trọng công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trên địa bàn để phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót, khuyết điểm và đề ra các giải pháp phù hợp trong từng giai đoạn. Mặt khác, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đều thực hiện có hiệu quả gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh; xây dựng, khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần theo các mô hình kinh tế trang trại, hộ gia đình; thực hiện các chính sách phải công khai, dân chủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
Thời gian tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trên địa bàn, tỉnh đang chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung thực hiện có hiệu quả một số nội dung, công việc sau:
- Tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối vối đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là NQTW 7 khóa IX "về công tác dân tộc"; Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, ngày 20-7-2004, của Thủ tướng Chính phủ "Về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn"; Nghị quyết 30a/2008/NĐ-CP, ngày 27-12-2008, của Chính phủ "Về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo"...
- Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; phát động sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản, no đủ - vững mạnh - an toàn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chăm đúng mức lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của nhân dân các dân tộc thiểu số, nhất là dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
- Tập trung phát triển kinh tế - văn hóa xã hội, xóa đói giảm nghèo; thực hiện có hiệu quả các chương trình dự án; giải quyết kịp thời những bức xúc trong nhân dân; phòng chống có hiệu quả thiên tai, dịch bệnh. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát thanh, truyền hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tại chỗ song song với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân, đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới.
- Tiếp tục củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; quan tâm đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ tại chỗ là người dân tộc thiểu số. Quan tâm bố trí đủ cán bộ làm chuyên trách công tác Dân tộc ở các cấp bảo đảm hoạt động chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.
Là một địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, việc thực hiện tốt các chính sách dân tộc, xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước trên địa bàn là hướng đi đúng đắn, thiết thực của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Kon Tum, bởi nó vừa mang tính trọng tâm, bức xúc trước mắt vừa mang tính căn bản, chiến lược lâu dài để thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sâu vùng xa, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số với vùng thị xã, thị trấn, góp phần xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định và phát triển một cách bền vững./.
Tháng 1, xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt 320 triệu USD  (10/02/2011)
Tháng đầu năm, khai thác 205.000 tấn thủy sản nuôi trồng  (10/02/2011)
Phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho 33 tập thể và 51 cá nhân  (10/02/2011)
Bra-xin với cuộc chiến xóa đói, giảm nghèo  (10/02/2011)
Cần Thơ công bố quyết định của Bộ Chính trị về nhân sự mới  (10/02/2011)
Đồng chí Thuận Hữu được phân công giữ chức Tổng biên tập Báo Nhân Dân  (10/02/2011)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xây dựng chính quyền số - Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu và gợi mở cho Việt Nam
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm