Xuất bản điện tử với bình đẳng tiếp cận tri thức trong phát triển kinh tế số ở Việt Nam
TCCS – Trong bối cảnh kinh tế số và xã hội số đang trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển bền vững, tri thức là nguồn lực sản xuất trực tiếp, quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng phát triển con người. Thực tiễn phát triển thời gian qua cho thấy, xuất bản điện tử từng bước mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, thu hẹp khoảng cách tri thức giữa các vùng, các nhóm xã hội, góp phần thúc đẩy học tập suốt đời và hỗ trợ thực hiện các chính sách an sinh tri thức.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số đang tạo nên một không gian phát triển mới - kinh tế số và xã hội số - nơi dữ liệu, tri thức và thông tin trở thành nguồn lực sản xuất chủ đạo. Theo báo cáo “Facts and Figures 2025” của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), khoảng 6 tỷ người - tương đương ba phần tư dân số thế giới - đã sử dụng Internet vào năm 2025, nhưng vẫn còn khoảng 2,2 tỷ người hoàn toàn ngoại tuyến, phần lớn sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình thấp. Khoảng cách kết nối này phản ánh sâu sắc khoảng cách số và do đó là khoảng cách trong tiếp cận tri thức, cơ hội học tập, việc làm, dịch vụ công, văn hóa...
Ở Việt Nam, theo báo cáo Digital 2025: Vietnam, đến tháng 1-2025 cả nước có khoảng 79,8 triệu người dùng Internet, chiếm 78,8% dân số, song vẫn còn hơn 21 triệu người chưa kết nối, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điều đó cho thấy cùng với nỗ lực phát triển kinh tế số, yêu cầu bảo đảm công bằng, bình đẳng trong tiếp cận tri thức và thông tin đang trở thành vấn đề vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội sâu sắc.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định chủ trương “đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 411/QĐ-TTg, ngày 31-3-2022) cụ thể hóa định hướng đó, coi phát triển hạ tầng số, dịch vụ số và kỹ năng số cho người dân là điều kiện để xây dựng xã hội số bao trùm.
Trong bối cảnh đó, xuất bản điện tử - với khả năng phân phối nội dung tri thức trên nền tảng số, chi phí biên gần như bằng 0, vượt qua ràng buộc về không gian và thời gian - trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để xuất bản điện tử không chỉ là một phân khúc thị trường mới của ngành xuất bản, mà còn trở thành công cụ hiệu quả của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong bảo đảm bình đẳng tri thức, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Từ góc độ kinh tế chính trị học, kinh tế số là trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất, trong đó các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng dựa ngày càng nhiều trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và hạ tầng kết nối băng rộng. Các báo cáo của tổ chức quốc tế như Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Ngân hàng Thế giới (World Bank) đều nhấn mạnh kinh tế số là động lực tăng trưởng mới, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ gia tăng chênh lệch giữa những người, những quốc gia có khả năng khai thác công nghệ và những đối tượng bị “bỏ lại phía sau” về kỹ năng và hạ tầng.
Xã hội số là không gian xã hội trong đó các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với Nhà nước, giữa các chủ thể kinh tế - xã hội được trung gian hóa ngày càng nhiều qua nền tảng số, dữ liệu số; các hoạt động học tập, lao động, tiêu dùng, giao tiếp xã hội,… đều có “phiên bản số”. Ở đó, tri thức vừa là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, vừa là điều kiện để chủ thể tham gia bình đẳng vào đời sống xã hội.
Bình đẳng tiếp cận tri thức trong kinh tế số có thể được hiểu là tình trạng trong đó mọi cá nhân, không phân biệt giai tầng, giới tính, dân tộc, vùng miền,… đều có cơ hội tương đối như nhau trong tiếp cận, sử dụng, sáng tạo và chia sẻ tri thức cần thiết cho phát triển cá nhân và xã hội. Khái niệm này gắn bó chặt chẽ với quyền tiếp cận thông tin - đã được luật hóa ở Việt Nam trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nơi khẳng định mọi công dân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, thông tin phải chính xác, đầy đủ, kịp thời và việc hạn chế quyền này chỉ được đặt ra vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.
Về xuất bản điện tử, Luật Xuất bản năm 2012 định nghĩa đây là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu và sử dụng phương tiện điện tử để tạo ra xuất bản phẩm điện tử; xuất bản phẩm điện tử là các xuất bản phẩm được định dạng số và đọc, nghe, nhìn bằng phương tiện điện tử. Xét từ góc độ hàng hóa, xuất bản điện tử là một dạng hàng hóa thông tin, tri thức dưới dạng số, có chi phí sao chép và phân phối rất thấp, nên nếu được tổ chức phù hợp, hoàn toàn có thể trở thành công cụ mạnh mẽ để mở rộng bình đẳng tri thức.
Theo kinh tế chính trị Mác - Lê-nin, sự phát triển của lực lượng sản xuất - trong đó khoa học, công nghệ và tri thức là yếu tố trung tâm - là động lực quyết định sự biến đổi của quan hệ sản xuất, hình thái kinh tế - xã hội. Trong thời đại ngày nay, tri thức không chỉ là “lực lượng sản xuất trực tiếp” mà còn kết tinh trong các phương tiện sản xuất số (hạ tầng viễn thông, nền tảng kỹ thuật số, cơ sở dữ liệu,...) và trong năng lực của người lao động (kỹ năng số, khả năng sáng tạo nội dung).
Từ đó, vấn đề công bằng xã hội trong kinh tế chính trị học không chỉ là vấn đề phân phối thu nhập, tài sản, mà còn là phân phối cơ hội tiếp cận các điều kiện phát triển - trong đó có tri thức và thông tin. Khi tri thức trở thành yếu tố quyết định năng suất lao động và năng lực cạnh tranh, thì bất bình đẳng tri thức dễ dàng biến thành bất bình đẳng thu nhập, việc làm, vị thế xã hội. Vì vậy, một Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước đóng vai trò tích cực trong việc điều tiết, định hướng sự phát triển của lực lượng sản xuất số và thị trường nội dung số, nhằm bảo đảm tri thức không trở thành đặc quyền của một nhóm nhỏ, mà được dân chủ hóa, mở rộng tới mọi tầng lớp nhân dân.
V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh vai trò của điện khí hóa, của khoa học, kỹ thuật đối với chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện ngày nay, có thể nói “số hóa” và “tri thức hóa” là phương thức hiện đại để phát huy vai trò của lực lượng sản xuất mới trong khuôn khổ định hướng xã hội chủ nghĩa. Xuất bản điện tử, với tư cách là kênh phổ biến tri thức tập trung, có thể trở thành hạ tầng mềm quan trọng của chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên số, nếu được tổ chức trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các nghiên cứu quốc tế gần đây cho thấy, về khoảng cách số (digital divide) chỉ ra rằng chênh lệch về hạ tầng, chi phí truy cập, kỹ năng số và năng lực sử dụng nội dung số là những nhân tố chính tạo ra bất bình đẳng trong việc hưởng lợi từ công nghệ. Báo cáo “Facts and Figures 2025” của ITU cho thấy mặc dù tỷ lệ dân số toàn cầu sử dụng Internet đã đạt khoảng 75%, nhưng mức chênh lệch giữa nhóm nước thu nhập cao và thu nhập thấp vẫn còn rất lớn, từ tỷ lệ sử dụng Internet cho đến tốc độ, chất lượng kết nối và khả năng chi trả.
UNESCO khi triển khai Ngày quốc tế về học tập số (International Day for Digital Learning) đã nhấn mạnh rằng học tập số có tiềm năng lớn trong cải thiện chất lượng và bình đẳng giáo dục, song lợi ích của nó không được phân bổ đồng đều. Do đó, cần chú trọng thiết kế các giải pháp số bao trùm, hướng tới những bối cảnh khó khăn, nguồn lực hạn chế. World Bank cũng xác định “bao trùm số” (digital inclusion) là trụ cột của chiến lược hỗ trợ các nước đang phát triển, tập trung vào hạ tầng kết nối, kỹ năng, dịch vụ số và khung pháp lý an toàn, tin cậy.
Những tiếp cận này cho thấy, xuất bản điện tử chỉ thực sự đóng góp cho bình đẳng tri thức khi được đặt trong tổng thể chính sách số bao trùm, gắn với hạ tầng, kỹ năng số và cơ chế giá cả, bản quyền phù hợp.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những định hướng lớn là “phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số” gắn với xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xã hội học tập, bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị nêu rõ mục tiêu đến năm 2025, hạ tầng số băng rộng cáp quang phủ hầu hết các xã, phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại thông minh, từng bước hình thành xã hội số, công dân số.
Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020) đặt mục tiêu phát triển đồng thời chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, trong đó về xã hội số, đến năm 2025, hạ tầng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại thông minh; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử đạt trên 50%. Đây là tiền đề quan trọng để xuất bản điện tử có thể thực sự đến được với đại đa số người dân.
Song song với chuyển đổi số, Đảng và Nhà nước ta triển khai mạnh mẽ các chính sách xây dựng xã hội học tập và văn hóa đọc. Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 - 2030” (Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30-7-2021) và Chương trình “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị giai đoạn 2021 - 2030” (Quyết định số 387/QĐ-TTg ngày 25-3-2022) nhấn mạnh việc phát triển môi trường học tập suốt đời, tận dụng công nghệ thông tin, tài nguyên học liệu số, thư viện số, trung tâm học tập cộng đồng.
Đề án “Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” (Quyết định số 329/QĐ-TTg năm 2017) đặt mục tiêu xây dựng và phát triển thói quen, nhu cầu, kỹ năng và phong trào đọc trong nhân dân, bao gồm cả xuất bản phẩm in và xuất bản phẩm điện tử, đặc biệt chú trọng người dân ở vùng nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 (Quyết định số 1909/QĐ-TTg năm 2021) cũng yêu cầu phát triển văn hóa gắn với chuyển đổi số, xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong thời đại mới.
Như vậy, có thể thấy xuất bản điện tử nằm ở giao điểm của ba định hướng lớn: chuyển đổi số quốc gia, xây dựng xã hội học tập, phát triển văn hóa đọc. Điều này mở ra không gian chính sách để xuất bản điện tử trở thành công cụ chủ động của Nhà nước trong thực hiện bình đẳng tri thức.
Luật Xuất bản năm 2012 là văn bản pháp lý nền tảng điều chỉnh hoạt động xuất bản, trong đó lần đầu tiên quy định đầy đủ về xuất bản điện tử (Điều 4, khoản 8, khoản 9) và phương thức xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử. Luật khẳng định hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, nhằm phổ biến tri thức, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức, lối sống tốt đẹp, đấu tranh chống lại các tư tưởng, hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia. Đây là cơ sở để khẳng định: xuất bản điện tử, xét đến cùng, phải phục vụ mục tiêu xây dựng con người, nâng cao dân trí, chứ không chỉ là hoạt động kinh doanh thuần túy.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 (có hiệu lực từ 1-7-2018) quy định rõ quyền được tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong thực hiện quyền này, trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong cung cấp thông tin. Luật không nhắc trực tiếp tới xuất bản điện tử, nhưng về bản chất, các hệ thống xuất bản điện tử của Nhà nước (như công báo điện tử, cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật, sách giáo khoa bản điện tử miễn phí,…) chính là hình thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin và tri thức bằng phương tiện số.
Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản và những chính sách chuyên ngành về xuất bản, báo chí, thông tin và truyền thông gần đây đều nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong xuất bản, phát triển xuất bản phẩm điện tử, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, đồng thời tăng cường bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường số. Bài viết “Phát triển xuất bản số ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Cộng sản (2022) đã chỉ ra nhiều hạn chế thể chế, chính sách và đề xuất cần xây dựng chiến lược phát triển xuất bản số gắn với chiến lược phát triển hạ tầng số quốc gia.
Nhìn chung, khung pháp luật cơ bản đã hình thành, nhưng còn một số khoảng trống như: chưa có một chiến lược quốc gia riêng về xuất bản điện tử, các quy định chi tiết về bản quyền số, chia sẻ dữ liệu, mô hình truy cập mở, ưu đãi thuế cho xuất bản điện tử phục vụ cộng đồng,... vẫn chưa đầy đủ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát huy vai trò của xuất bản điện tử trong bảo đảm bình đẳng tri thức.
Những năm gần đây, xuất bản điện tử ở Việt Nam có bước phát triển đáng ghi nhận. Năm 2015, có khoảng 1.163 xuất bản phẩm điện tử nộp lưu chiểu, song đến năm 2022, con số này đã tăng lên hơn 2.300 xuất bản phẩm điện tử; năm 2018 chỉ có 2 nhà xuất bản tham gia thị trường xuất bản điện tử, thì đến cuối năm 2022 đã có khoảng 19 nhà xuất bản phát hành sách trên các nền tảng số.
Đáng chú ý, năm 2022, có hơn 15 triệu lượt người sử dụng sách điện tử, tương đương khoảng 35 triệu bản sách được đọc, tăng 59% so với năm 2021. Điều này cho thấy nhu cầu sử dụng sách điện tử, sách nói tăng trưởng nhanh, đặc biệt trong bối cảnh hậu đại dịch Covid-19 khi nhiều hoạt động học tập, làm việc, giải trí chuyển dịch lên môi trường trực tuyến. Các nền tảng sách điện tử, sách nói như Waka, Fonos, Voiz FM, cùng các nền tảng đọc trên website, ứng dụng di động đã trở nên quen thuộc với đông đảo độc giả.
Tính đến hết năm 2023, có 24/57 nhà xuất bản tham gia xuất bản và phát hành điện tử (chiếm 42,1%), với khoảng 4.000 xuất bản phẩm điện tử (tăng 19,4% so với năm trước) và ước khoảng 36 triệu bản điện tử được phát hành (tăng 11%). Doanh thu từ hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử của các nhà xuất bản đạt hơn 9 tỷ đồng, lợi nhuận hơn 900 triệu đồng.
Những con số trên cho thấy xuất bản điện tử đang hình thành một phân khúc thị trường có tiềm năng, đóng góp trực tiếp cho doanh thu của nhà xuất bản, đồng thời mở rộng kênh tiếp cận tri thức cho người dân. Song nếu so với quy mô dân số gần 100 triệu người và mức độ sử dụng Internet cao (78,8% dân số), thị phần và doanh thu của xuất bản điện tử vẫn còn khiêm tốn, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn.
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của xuất bản điện tử đối với bình đẳng tri thức là khả năng thu hẹp khoảng cách địa lý. Ở Việt Nam, mạng lưới phát hành sách in truyền thống vẫn còn hạn chế ở nhiều vùng sâu, vùng xa, hải đảo; chi phí vận chuyển cao, thị trường nhỏ khiến doanh nghiệp không mặn mà đầu tư. Trong khi đó, với hạ tầng viễn thông được phủ rộng, người dân ở vùng xa xôi có thể tiếp cận sách điện tử, sách nói chỉ cần thiết bị di động và kết nối Internet.
Đáng chú ý, 92,5% số hộ gia đình dân tộc thiểu số có sử dụng điện thoại di động, nhưng chỉ khoảng 10,3% số hộ có máy tính. Điều này gợi ý một chiến lược: nếu các nhà xuất bản và cơ quan quản lý xây dựng được các nền tảng sách điện tử, sách nói tối ưu cho điện thoại thông minh, kết hợp chính sách giá phù hợp, thì đây sẽ là công cụ rất hiệu quả để đưa sách, tài liệu khoa học, pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào dân tộc thiểu số.
Xuất bản điện tử cũng mở ra cơ hội tiếp cận tri thức cho các nhóm yếu thế khác như người khuyết tật, người cao tuổi, người có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế. Các sản phẩm sách nói, sách điện tử có chức năng hỗ trợ chữ lớn, đọc tự động, tìm kiếm nhanh,... nếu được thiết kế bao trùm sẽ giúp họ vượt qua những rào cản về thị lực, thính lực, khả năng di chuyển. UNESCO và nhiều tổ chức quốc tế đã chỉ ra rằng các giải pháp học tập số, nếu được thiết kế hướng tới người có kỹ năng thấp, người khuyết tật, người nghèo,... có thể tạo nên “vòng tròn tích cực”, nâng cao năng lực cá nhân và cộng đồng.
Xuất bản điện tử cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy văn hóa đọc và học tập suốt đời. Đề án phát triển văn hóa đọc (QĐ 329/QĐ-TTg) coi việc phát triển xuất bản phẩm điện tử là một trong những phương tiện quan trọng để xây dựng thói quen, nhu cầu, kỹ năng đọc trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, học sinh, sinh viên.
Trong bối cảnh người Việt Nam dành trung bình hơn 6 giờ mỗi ngày trên Internet và phần lớn thời gian truy cập từ thiết bị di động, việc đưa sách, tạp chí khoa học, tài liệu giáo dục lên các nền tảng số, tích hợp với các hệ sinh thái học tập trực tuyến sẽ giúp gắn việc đọc với thói quen sử dụng Internet hằng ngày, qua đó biến tri thức thành một phần tự nhiên của đời sống số. Những mô hình phục vụ sách giáo khoa bản điện tử miễn phí cho học sinh trong thời gian giãn cách xã hội, như trường hợp bộ sách Cánh Diều được cung cấp miễn phí trên Internet, là minh chứng cụ thể cho việc xuất bản điện tử có thể hỗ trợ mục tiêu không để học sinh nào bị gián đoạn học tập vì điều kiện kinh tế hay dịch bệnh.
Khi gắn với các chương trình học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị (theo QĐ 387/QĐ-TTg), xuất bản điện tử có thể cung cấp hệ sinh thái học liệu số phong phú cho hệ thống trung tâm học tập cộng đồng, thư viện công cộng, nhà văn hóa, cơ sở giáo dục nghề nghiệp,... góp phần tạo nên không gian tri thức mở cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, nếu không được điều tiết tốt, xuất bản điện tử cũng có thể làm gia tăng bất bình đẳng tri thức.
Thứ nhất, khoảng cách số về hạ tầng và kỹ năng khiến những người không có thiết bị, không có kết nối đủ tốt hoặc thiếu kỹ năng số không thể khai thác lợi ích của xuất bản điện tử, trong khi nhóm đã “giàu tri thức” lại càng tiếp cận nhiều hơn - tái sản sinh bất bình đẳng.
Thứ hai, logic thị trường trong lĩnh vực xuất bản điện tử có xu hướng ưu tiên nội dung dễ tiêu thụ, giải trí, hoặc nội dung có khả năng sinh lợi nhanh, trong khi những tác phẩm học thuật, giáo dục cơ bản, tài liệu cho nhóm yếu thế thường ít hấp dẫn về mặt thương mại. Nếu Nhà nước không có cơ chế đặt hàng, hỗ trợ, thì những mảng nội dung mang tính công ích sẽ bị bỏ ngỏ, tri thức phục vụ công bằng xã hội sẽ bị “thương mại hóa” quá mức.
Thứ ba, vấn đề bản quyền, sao chép lậu trên môi trường số ở Việt Nam vẫn còn phổ biến. Việc tải lậu sách điện tử, chia sẻ trái phép trên các nền tảng không chỉ làm suy giảm động lực đầu tư nội dung, chất lượng của nhà xuất bản, tác giả, mà còn có thể kéo cả hệ sinh thái xuất bản điện tử vào xu hướng “giá rẻ - chất lượng thấp”, gây hại lâu dài cho văn hóa đọc.
Thứ tư, không gian số cũng là nơi lan truyền thông tin sai lệch, độc hại, nếu các xuất bản phẩm điện tử không được kiểm soát tốt về mặt nội dung hoặc nếu người dùng thiếu kỹ năng phân biệt, đánh giá, thì bình đẳng trong “tiếp cận tri thức” có thể biến thành bình đẳng trong tiếp cận thông tin sai lệch, cản trở mục tiêu phát triển con người và xã hội. Đây là thách thức mới đối với quản lý xuất bản trong kỷ nguyên số.
Từ góc nhìn kinh tế chính trị học, xuất bản điện tử là nơi thể hiện trực tiếp mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất trong lĩnh vực tri thức. Một mặt, nó mở ra khả năng vô cùng lớn để tri thức trở thành hàng hóa có chi phí biên thấp, dễ nhân rộng, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội. Mặt khác, nó cũng là hàng hóa đặc biệt mang tính tư tưởng - văn hóa, gắn với quyền tác giả, quyền tiếp cận thông tin và định hướng giá trị xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định hướng, điều tiết sự phát triển của xuất bản điện tử, đồng thời thừa nhận và phát huy vai trò của cơ chế thị trường. Nếu tuyệt đối hóa logic lợi nhuận, xuất bản điện tử có thể triệt tiêu chức năng công ích, làm suy yếu công cụ tư tưởng của Đảng trong không gian số. Ngược lại, nếu xem nhẹ cơ chế thị trường, không tạo động lực kinh tế đủ mạnh, khó thu hút doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng, nền tảng và nội dung số hiện đại, cũng như khó cạnh tranh với các nền tảng toàn cầu.
Vì vậy, cần tiếp cận xuất bản điện tử như một lĩnh vực “kinh tế - tư tưởng” kết hợp, trong đó Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải: (i) Giữ vai trò kiến tạo chiến lược, hoàn thiện thể chế; (ii) Đầu tư những khâu thị trường còn thiếu hoặc khó làm, đặc biệt là nội dung phục vụ lợi ích công, nhóm yếu thế; (iii) Điều tiết, định hướng thị trường theo mục tiêu công bằng xã hội; và (iv) Bảo đảm quyền tiếp cận tri thức như một thành tố của quyền con người. Luật Tiếp cận thông tin với nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trong thực hiện quyền này chính là “điểm tựa pháp lý” để Nhà nước thiết kế các cơ chế ưu tiên, hỗ trợ trong lĩnh vực xuất bản điện tử vì bình đẳng tri thức.
Các nghiên cứu quốc tế về tác động phân phối của số hóa cho thấy nếu không có chính sách thích hợp, số hóa có thể làm gia tăng bất bình đẳng về năng suất, việc làm và thu nhập; ngược lại, khi được thiết kế theo hướng bao trùm, đầu tư vào hạ tầng, kỹ năng và thể chế phù hợp, số hóa có thể thúc đẩy tăng trưởng đi kèm phân phối công bằng hơn. Điều này càng củng cố luận điểm: xuất bản điện tử - một thành tố của quá trình số hóa - cần được gắn chặt với chiến lược phát triển bao trùm của Việt Nam, không tách rời mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trên cơ sở phân tích lý luận, thể chế và thực tiễn, có thể đề xuất một số định hướng, giải pháp chính sau:
Hoàn thiện thể chế, chính sách cho xuất bản điện tử vì bình đẳng tri thức
Trước hết, cần nghiên cứu xây dựng “Chiến lược quốc gia về xuất bản điện tử” đến năm 2030, tầm nhìn 2045, đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển kinh tế số, xã hội số và chiến lược phát triển văn hóa. Chiến lược này cần xác định rõ mục tiêu kép: vừa phát triển thị trường xuất bản phẩm điện tử, vừa bảo đảm vai trò công cụ tư tưởng - văn hóa và công cụ thực hiện bình đẳng tri thức.
Trên cơ sở đó, cần từng bước sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản 2012 và các văn bản hướng dẫn theo hướng: (i) Cụ thể hóa hơn các loại hình xuất bản điện tử (e-book, audiobook, VR book, v.v.); (ii) Hoàn thiện quy định về bản quyền số, chia sẻ doanh thu, trách nhiệm của nền tảng phân phối; (iii) Thiết kế cơ chế khuyến khích mô hình xuất bản truy cập mở (open access), đặc biệt cho sản phẩm khoa học, giáo dục; (iv) Có ưu đãi thuế, tín dụng cho các dự án xuất bản điện tử phục vụ cộng đồng, nhóm yếu thế.
Song song, cần lồng ghép mục tiêu bình đẳng tri thức vào Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số (QĐ 411/QĐ-TTg), chương trình Chuyển đổi số quốc gia (QĐ 749/QĐ-TTg), Đề án xây dựng xã hội học tập (QĐ 1373/QĐ-TTg), Đề án phát triển văn hóa đọc (QĐ 329/QĐ-TTg). Các văn bản triển khai nên dành nội dung cụ thể cho nhiệm vụ phát triển xuất bản điện tử gắn với mục tiêu công bằng tri thức.
Phát triển hạ tầng, nền tảng số và mô hình xuất bản điện tử phục vụ vùng khó khăn, nhóm yếu thế
Để xuất bản điện tử thực sự trở thành công cụ thu hẹp khoảng cách tri thức, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư hạ tầng số cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm người dân ở đây có kết nối Internet ổn định, giá hợp lý, đồng thời hỗ trợ thiết bị đầu cuối (smartphone, máy tính bảng) cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, tương thích với mục tiêu phủ sóng băng rộng và phổ cập điện thoại di động (smartphone) trong các chương trình chuyển đổi số.
Về mô hình, cần khuyến khích xây dựng các nền tảng xuất bản điện tử quốc gia, công cộng (thư viện số quốc gia, kho sách giáo khoa bản điện tử miễn phí, kho học liệu mở) với giao diện thân thiện, hỗ trợ nhiều ngôn ngữ (trong đó có tiếng dân tộc), tối ưu cho thiết bị di động, phù hợp với trình độ kỹ năng số khác nhau. Các nền tảng này nên miễn phí hoặc có mức phí rất thấp, được Nhà nước đặt hàng, hỗ trợ ngân sách, nhằm bảo đảm mọi người dân đều có “mức tối thiểu” về tiếp cận tri thức.
Cùng với đó, cần khuyến khích mô hình hợp tác công - tư giữa cơ quan nhà nước, nhà xuất bản, doanh nghiệp công nghệ trong việc phát triển nền tảng, chia sẻ dữ liệu, đồng thời bảo đảm chủ quyền dữ liệu, an ninh thông tin, không để phụ thuộc hoàn toàn vào nền tảng xuyên biên giới.
Nâng cao chất lượng nội dung, khuyến khích tài nguyên giáo dục mở, xuất bản vì cộng đồng
Về nội dung, Nhà nước cần sử dụng các công cụ đặt hàng, trợ giá, ưu đãi thuế, hỗ trợ truyền thông để khuyến khích nhà xuất bản đầu tư xây dựng các bộ sách điện tử, sách nói, học liệu số chất lượng cao về giáo dục cơ bản, kỹ năng nghề, kỹ năng số, kiến thức pháp luật, y tế, bình đẳng giới, dân tộc, v.v., cho các nhóm đối tượng khác nhau, đặc biệt là nhóm yếu thế, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân.
Một hướng quan trọng là thúc đẩy tài nguyên giáo dục mở (Open Educational Resources – OER), cho phép người dùng truy cập, sử dụng, tùy biến, chia sẻ hợp pháp. Điều này phù hợp với xu thế quốc tế mà UNESCO khuyến nghị để giảm chi phí tri thức, hỗ trợ bình đẳng giáo dục và học tập suốt đời. Ở Việt Nam, việc phát triển OER có thể gắn với hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, các chương trình nghiên cứu khoa học sử dụng ngân sách nhà nước - kết quả nghiên cứu nên được xuất bản dưới dạng truy cập mở để toàn xã hội cùng hưởng lợi.
Trong lĩnh vực văn hóa, cần chú trọng số hóa di sản, tác phẩm kinh điển, sách lý luận chính trị và phát hành dưới dạng xuất bản phẩm điện tử, sách nói, giúp thế hệ trẻ tiếp cận dễ dàng hơn với tri thức, giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc, qua đó bồi dưỡng lý tưởng, niềm tin, bản lĩnh chính trị.
Phát triển kỹ năng số, văn hóa đọc số cho người dân
Không có bình đẳng tri thức nếu thiếu kỹ năng số và năng lực thông tin. Do đó, việc triển khai xuất bản điện tử cần gắn chặt với chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản cho người dân, nhất là học sinh, sinh viên, người lao động nông thôn, người cao tuổi. Các trung tâm học tập cộng đồng, thư viện, trường học, tổ chức đoàn thể có thể trở thành “điểm truy cập” giúp người dân được hướng dẫn cách sử dụng nền tảng sách điện tử, sách nói, cách tìm kiếm, đánh giá thông tin.
Giáo dục nhà trường cần lồng ghép nội dung về văn hóa đọc số, đạo đức số nhằm giúp người học biết sử dụng có chọn lọc, tránh lệ thuộc, biết bảo vệ quyền tác giả, tôn trọng pháp luật. Các chiến dịch truyền thông, phong trào thi đua xây dựng “Gia đình đọc sách - Gia đình số”, “Trường học đọc sách - Trường học số” có thể được triển khai gắn với Đề án xây dựng xã hội học tập và Đề án phát triển văn hóa đọc.
Tăng cường quản lý nhà nước, bảo vệ bản quyền, định hướng thị trường theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa
Để xuất bản điện tử phát triển bền vững và phục vụ tốt hơn mục tiêu công bằng tri thức, cần tiếp tục đổi mới phương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Một mặt, Nhà nước phải tăng cường năng lực giám sát, phát hiện, xử lý vi phạm bản quyền, xuất bản phẩm điện tử có nội dung độc hại, sai trái, lợi dụng không gian số để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, cần tạo điều kiện thuận lợi, đơn giản hóa thủ tục cấp phép, khuyến khích sáng tạo nội dung chân chính, chất lượng cao.
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các công cụ thuế, phí, trợ cấp, đặt hàng công cần được sử dụng linh hoạt để điều tiết thị trường xuất bản điện tử theo hướng: khuyến khích những sản phẩm mang lại giá trị văn hóa, giáo dục cao, phục vụ cộng đồng; hạn chế, chế tài nghiêm các hoạt động lợi dụng xuất bản điện tử để trục lợi, gây hại cho thuần phong mỹ tục, an ninh tư tưởng. Qua đó, xuất bản điện tử vừa là lĩnh vực kinh tế năng động, vừa là một trong những “mũi nhọn” tư tưởng - văn hóa trong kỷ nguyên số.
Xuất bản điện tử, với đặc trưng là phân phối tri thức trên nền tảng số, chi phí thấp, phạm vi lan tỏa rộng, đang và sẽ tiếp tục giữ vai trò chiến lược trong việc bảo đảm bình đẳng tiếp cận tri thức trong bối cảnh phát triển kinh tế số, xã hội số ở Việt Nam. Thực tiễn cho thấy số lượng xuất bản phẩm điện tử, số nhà xuất bản tham gia, số lượt sử dụng sách điện tử, sách nói đều tăng nhanh; các chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, xã hội học tập, văn hóa đọc tạo ra môi trường thuận lợi để xuất bản điện tử phát triển theo hướng bao trùm.
Tuy nhiên, những thách thức về khoảng cách số, chất lượng nội dung, bản quyền, tác động của cơ chế thị trường nếu không được xử lý tốt có thể làm suy giảm đóng góp của xuất bản điện tử đối với công bằng xã hội. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách; đầu tư hạ tầng và nền tảng số cho vùng khó khăn; phát triển các mô hình xuất bản vì cộng đồng, tài nguyên giáo dục mở; nâng cao kỹ năng số và văn hóa đọc số; đồng thời, tăng cường vai trò điều tiết, định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, để xuất bản điện tử thực sự trở thành công cụ hữu hiệu hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong kỷ nguyên số./.
Quản trị tài chính toà soạn trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí  (20/01/2026)
Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số  (31/12/2025)
Phát triển mô hình tòa soạn hội tụ đa nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí Việt Nam hiện nay  (29/12/2025)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Thanh thiếu niên hai nước tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước*
- Nâng cao sức hấp dẫn tuyển sinh của các trường đại học ở Hà Nội từ góc độ quản trị trải nghiệm người học
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm