Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người

GS, TS LÊ NGỌC HÙNG
Đại học Quốc gia Hà Nội
16:59, ngày 04-03-2026

TCCS - Đảng ta luôn quan tâm xây dựng giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam. Quan điểm, định hướng hình thành giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Trong bối cảnh mới, hệ giá trị văn hóa Việt Nam cần được nghiên cứu gắn với quá trình đổi mới đất nước, thể hiện dòng chảy phát triển và biến đổi xã hội. Một trong những góc nhìn từ phương diện này là nhìn nhận, đánh giá từ góc độ lý thuyết về hệ thống sinh thái phát triển con người.

Tổng Bí thư Tô Lâm với đại biểu và học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểu đại diện cho tuổi trẻ các dân tộc thiểu số trên khắp mọi miền Tổ quốc_Nguồn: nhandan.vn

1- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng ta về văn hóa và việc xây dựng hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1). Năm 1945, ngay sau “Tuyên ngôn độc lập”, trong “Thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc xây dựng “một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em... Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(2). Năm 1955, sau khi hòa bình vừa được lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư “Gửi các em học sinh” (ngày 24-10-1955), trong đó chỉ rõ yêu cầu giáo dục “thể, trí, mỹ, đức”: “Đối với các em, việc giáo dục gồm có:

- Thể dục: Để làm cho thân thể mạnh khỏe, đồng thời cần giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung.

- Trí dục: Ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới.

- Mỹ dục: Để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp.

- Đức dục: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công (5 cái yêu)”(3).

Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta về văn hóa là xây dựng nền văn hóa mới với hệ giá trị cơ bản phản ánh nội dung, tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng. Đến năm 1976, Đảng ta chủ trương “xây dựng nền văn hóa mới”(4), “con người xã hội chủ nghĩa”(5), “xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong cả nước, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà”(6). Chủ trương xây dựng nền văn hóa mới “quá trình xây dựng, vun đắp những tư tưởng đúng, những tình cảm lành mạnh, những phong tục, tập quán tốt đẹp; đồng thời là quá trình đấu tranh không khoan nhượng chống tư tưởng tư sản, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, quét sạch ảnh hưởng của văn hóa thực dân, phong kiến, những nhân tố lạc lậu trong đời sống văn hóa của các hội ta”(7).  

Năm 1982, hệ giá trị cơ bản của văn hóa mới, con người mới được xác định là một hệ thống kế thừa giá trị của văn hóa truyền thống, như yêu nước, dân chủ, bình đẳng “Thương nước - thương nhà, thương người - thương mình” và hình thành, phát triển giá trị “làm chủ tập thể” của văn hóa mới, hiện đại.

Nghị quyết Đại hội VI (năm 1986) nhấn mạnh xây dựng hệ giá trị cơ bản bao gồm dân chủ, nhân đạo, chủ nghĩa anh hùng, kỷ cương pháp luật và nguyên tắc “mọi người sống và làm việc theo pháp luật”. Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam được xây dựng trên cơ sở phát huy giá trị của văn hóa truyền thống dân tộc và tiếp biến giá trị tiến bộ của văn hóa thế giới.

Báo cáo chính trị tại Đại hội VII (năm 1991) chủ trương “Tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”(8). Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996) đề ra quan điểm định hướng “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”(9). Quan điểm nhấn mạnh: “Xây dựng văn hóa là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Có chính sách đầu tư thích đáng cho văn hóa, văn nghệ. Phát triển các hoạt động văn hóa, văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân theo đường lối của Đảng và sự quản lý của Nhà nước”(10). Mục tiêu là xây dựng hệ giá trị cơ bản của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành giá trị mới phù hợp với văn hóa truyền thống và yêu cầu của thời đại. Cách thức là nâng cao mức sống văn hóa, mức hưởng thụ văn hóa; đồng thời, đấu tranh chống sự xâm nhập của sản phẩm văn hóa độc hại.

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991 - 2000) và 15 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đánh giá kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và tình trạng đói nghèo căn bản được giảm bớt. Một trong những thành tựu cơ bản, quan trọng gắn với xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam được ghi nhận và đánh giá cao là việc cả nước hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Tuy nhiên, Nghị quyết nhận định: “Một số giá trị văn hóa và đạo đức xã hội suy giảm”. Đây có thể là hệ quả từ tác động mặt trái của cơ chế thị trường, của toàn cầu hóa, từ sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh chóng; khuynh hướng “thương mại hóa” trong giáo dục, văn hóa... Trước tình hình này, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII tại Đại hội IX của Đảng định hướng “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh”(11). Điều này tiếp tục đặt nền móng cho việc hình thành hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được nêu ra năm 1996, đến năm 2001 được tiếp tục xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách với những giá trị cơ bản là tinh thần yêu nước, tự lực, tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm 2006, “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được xác định là đặc trưng thứ tư trong tám đặc trưng của “xã hội xã hội chủ nghĩa”(12) mà nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xác định là “nền tảng tinh thần của xã hội”. Quan điểm định hướng của Đảng là tiếp tục “phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hóa - xã hội”; đồng thời, trước yêu cầu của phát triển và biến đổi xã hội, Đảng chủ trương tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự điều chỉnh, bổ sung giá trị văn hóa có thể thấy qua một số ví dụ cụ thể, như trường hợp điều chỉnh, bổ sung giá trị văn hóa gia đình Việt Nam: Mô hình gia đình Việt Nam với “xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình” năm 1986 được điều chỉnh thành mô hình gia đình với hai giá trị “ấm no, hạnh phúc” năm 1991; mô hình gia đình có bốn giá trị có tính kế thừa và phát triển mới là gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” được xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996) và đến xây dựng mô hình gia đình với giá trị mới bao gồm “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo” năm 2011.

Năm 2011, Đại hội XI của Đảng chỉ rõ, cùng với những thành tựu to lớn đã đạt được trong kinh tế, văn hóa và xã hội, văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế; môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại; phân hóa xã hội tăng lên. Do vậy, cần đưa văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hằng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức “đề kháng” đối với sản phẩm văn hóa độc hại. Từ đây đặt ra vấn đề “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”(13).

Năm 2016, Đại hội XII của Đảng tiếp tục định hướng phải gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Đặc biệt, mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam được gắn với xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội cần được gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh cần được gắn kết chặt chẽ với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

Năm 2021, Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ mới là tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa; bảo vệ và phát huy giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại; có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa; xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng hiệu quả các giá trị và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới.

Trao truyền các giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau_Ảnh: Tư liệu

2- Sự phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam từ góc nhìn của lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người

Giá trị chân - thiện - mỹ được nhiều nghiên cứu chỉ ra là đích đến của giá trị văn hóa. Về sự phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam, một số tác giả đưa ra các hệ “cặp” giá trị văn hóa Việt Nam phản ánh tác động của quá trình đổi mới, phát triển đất nước và biến đổi xã hội từ năm 1986 đến nay. Đó là các “cặp” giá trị văn hóa trong mối quan hệ văn hóa “cá nhân” và “xã hội”, bao gồm “dân chủ và pháp quyền”; “nhân ái và yêu nước”; “trung thực và bản lĩnh”; “trách nhiệm và hợp tác”. Một số tác giả đề xuất mô hình “Hệ năm giá trị văn hóa” thể hiện ở hành vi ứng xử của con người Việt Nam, bao gồm “yêu nước, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo, trung thực” và thêm hai giá trị “đoàn kết, nhân ái” thành mô hình “Hệ bảy giá trị”, bao gồm “yêu nước, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo, trung thực, đoàn kết, nhân ái”... 

Nhiều cách tiếp cận được đưa ra để  làm rõ sự hình thành, biểu hiện và phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam, trong đó có lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người. Từ góc độ tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người(14), hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam được định hình, thể hiện và phát triển trong mọi mặt đời sống của con người dưới tác động của các yếu tố thuộc dòng chảy phát triển và biến đổi xã hội trên các hệ thống từ cấp độ vi mô đến cấp độ vĩ mô (Hình 1). 

Từ góc độ nhìn nhận, phân tích trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người, việc hình thành hệ giá trị văn hóa Việt Nam cần được nghiên cứu toàn diện trên cả góc độ vĩ mô, trung mô, bên ngoài và vĩ mô.

Cụ thể, có thể hình dung trên cấp độ cá nhân của sự phát triển con người, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của dòng phát triển tâm lý xã hội của mỗi cá nhân từ lứa tuổi dưới 16, lứa tuổi 16 - 60 và từ đủ 60 tuổi trở lên. Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam có thể biểu hiện, hình thành và phát triển với đặc trưng, đặc thù phù hợp với từng lứa tuổi. Đồng thời, hệ giá trị cơ bản này chịu tác động từ điều kiện sinh sống của cá nhân trong hệ thống sinh thái vi mô dưới hình thức trực tiếp nhất là “gia đình”, cụ thể là văn hóa gia đình Việt Nam. Trước tác động của dòng chảy phát triển và biến đổi xã hội, mô hình gia đình Việt Nam từng bước được điều chỉnh, bổ sung giá trị mới, chuyển từ mô hình gia đình ấm no, hạnh phúc trước năm 1996 đến mô hình gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh hiện nay.

Đồng thời, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của dòng chảy phát triển hệ thống sinh thái trung mô dưới hình thức trực tiếp nhất là trường học đối với trẻ em, nơi làm việc đối với người lớn và các tổ chức mà cá nhân tham gia với tư cách thành viên. Đối với trẻ em, thiếu niên và thanh niên đang đến trường, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và sự biến đổi, phát triển của các tổ chức mà học sinh, sinh viên là thành viên, bao gồm Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, câu lạc bộ của học sinh, sinh viên. Biểu hiện rõ nhất của hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam đối với học sinh phổ thông trước tác động của dòng chảy phát triển và biến đổi xã hội trong lĩnh vực giáo dục là giá trị học vấn được nâng lên, giá trị công bằng về cơ hội giáo dục được mở rộng.

Đối với học sinh phổ thông, từ năm 2013 đến 2018, theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, Hội nghị Trung ương 8  khóa XI, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, một trong những nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu là đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề; tập trung vào giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Từ năm 2018 đến nay, chương trình giáo dục phổ thông đã đề cập phẩm chất (những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người) và năng lực cốt lõi (năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần có để sống, học tập và làm việc hiệu quả), yêu cầu cần đạt với “Năm phẩm chất chủ yếu” và “Mười năng lực cốt lõi” để hình thành, phát triển cho học sinh phổ thông. “Năm phẩm chất chủ yếu” là “yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm” và “Mười năng lực cốt lõi”, bao gồm ba năng lực chung là “năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”. “Bảy năng lực đặc thù” là “năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất”(15). Hệ thống “Năm phẩm chất chủ yếu” và “Mười năng lực cốt lõi” có thể trở thành mục tiêu của việc hình thành, phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam trong chương trình giáo dục mầm non, đồng thời có thể trở thành nền tảng cho việc hình thành, phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam trong chương trình giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Từ góc độ nghề nghiệp, giới, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam cần được nghiên cứu dưới góc độ xây dựng chuẩn mực văn hóa trong từng giai cấp, giới, nhóm xã hội... Ví dụ, đối với hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bộ “Bốn giá trị”, bao gồm “tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” trở thành một bộ phận cấu thành của hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam.

Hệ thống bên ngoài được hiểu là một hay hơn một môi trường, khung cảnh không thu hút sự tham gia tích cực của cá nhân, nhưng môi trường, khung cảnh đó có ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng bởi khung cảnh bao chứa cá nhân đang phát triển. Ví dụ, một hệ thống bên ngoài của trẻ em có thể là nơi làm việc của cha mẹ hay lớp học của anh, chị của trẻ em đó hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức khác. Môi trường, khung cảnh này không trực tiếp có sự tham gia tích cực của trẻ em, nhưng thay đổi trong khung cảnh đó đều bị ảnh hưởng và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em. Người lớn cũng có thể bị ảnh hưởng bởi hệ giá trị của văn hóa trong nước và thế giới với nhiều mức độ, tính chất khác nhau từ bên ngoài, nhất là từ mạng xã hội. Việc xây dựng văn hóa trong hệ thống bên ngoài tạo thành môi trường văn hóa lành mạnh cho việc hình thành, phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và biến đổi xã hội.

Hệ thống vĩ mô từ góc nhìn lý thuyết các hệ thống sinh thái phát triển con người là hệ thống tổng hòa các hệ thống vi mô, hệ thống trung mô và hệ thống bên ngoài, thể hiện rõ nhất qua nội dung khái niệm “nền văn hóa”, “nền kinh tế”, “hệ thống giáo dục quốc dân” và hệ thống pháp luật, chính sách bao trùm mọi mặt đời sống xã hội của con người.

Trên cấp độ vi mô, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của sự biến đổi hệ thống phân tầng xã hội, bao gồm các giai tầng xã hội, mối liên hệ, quan hệ xã hội giữa các giai tầng xã hội, tổ chức và cộng đồng xã hội. Ví dụ, cùng với sự phân hóa xã hội về mặt kinh tế là sự phân hóa xã hội về hệ giá trị cơ bản của văn hóa, trong đó xuất hiện giá trị mới theo hướng khuyến khích làm giàu chính đáng đi đôi với việc xóa đói, giảm nghèo, rõ nhất là vừa cạnh tranh, vừa hợp tác.

Rõ ràng, trước yêu cầu của đổi mới đất nước từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung, mệnh lệnh hành chính sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam cũng thích ứng, phù hợp với biến đổi kinh tế, xã hội, đồng thời được định hướng phát triển thông qua việc Nhà nước sử dụng thể chế, luật pháp, nguồn lực, công cụ điều tiết, chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa./.

----------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 458
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 413
(3) Hồ Chí Minh: “Gửi các em học sinh (24-10-1955)”, Báo Nhân dân, số 600, ngày 24-10-1955, https://hochiminh.nhandan.vn/gui-cac-em-hoc-sinh-495.html
(4), (5), (6), (7) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 501, 501, 507, 501
(8) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 113
(9) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t. 55, tr. 391
(10) Xem: Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-viii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-viii-cua-dang-1549
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 89
(12) Tám đặc trưng, đó là: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 223
(14) Trong góc độ bài viết, hệ thống sinh thái phát triển con người là các hệ thống sinh thái vi mô, hệ thống trung mô, hệ thống bên ngoài và hệ thống vĩ mô phát triển con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập thế giới, chuyển đổi số
(15) Xem: Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Chương trình giáo dục phổ thông: Chương trình tổng thể” (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26-12-2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Hà Nội, 2018