Thanh Hóa nỗ lực giảm nghèo bền vững

Phạm Ánh Tuyết
23:36, ngày 27-10-2025

TCCS - Xác định giảm nghèo bền vững không chỉ có ý nghĩa an sinh xã hội, nâng cao đời sống người dân, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, thu hẹp chênh lệch vùng miền và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cân bằng, bền vững, vì vậy, trong suốt nhiều nhiệm kỳ qua, xóa đói giảm nghèo luôn được Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa xác định là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu cùng những giải pháp đồng bộ, hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Giảm nghèo bền vững

Thanh Hóa là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 cả nước, dân số đứng thứ ba toàn quốc (thời điểm trước khi sắp xếp, sáp nhập các tỉnh, thành phố). Địa hình Thanh Hóa rất đa dạng, trải dài từ vùng biển đến vùng núi cao, phân hóa thành miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Dân cư phân bố không đều giữa vùng đồng bằng trù phú và miền núi. Tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, Kinh, Mường, Thái, Mông, Dao, Thổ... Những đặc điểm này khiến bài toán giảm nghèo ở Thanh Hóa vừa mang tính cấp bách, vừa có tầm quan trọng chiến lược.

Hộ nghèo của Thanh Hóa chủ yếu tập trung ở các địa phương miền núi, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Điều kiện kinh tế - xã hội nơi đây nhiều khó khăn. Đầu những năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi còn rất cao; năm 2010, khu vực nông thôn có tới 26,96% hộ nghèo. Nhờ sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và quyết liệt thực hiện các giải pháp giảm nghèo của tỉnh, diện mạo miền núi Thanh Hóa đã chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế bình quân vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt khá, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, kết cấu hạ tầng dần được củng cố.

Đặc biệt, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU về tăng cường lãnh đạo công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi đến năm 2020 - đây là một quyết sách chiến lược nhằm huy động nguồn lực cho vùng cao. Kết quả rất ấn tượng: giai đoạn 2013 - 2015, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện miền núi giảm bình quân 5,5%/năm, giai đoạn 2016 - 2019 giảm 4,62%/năm; tốc độ giảm nghèo ở 7 huyện nghèo (Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân) cao gấp 2,2 lần mức giảm bình quân chung của tỉnh. Nhờ những nỗ lực đó, đến năm 2018, huyện Như Xuân trở thành huyện nghèo 30a đầu tiên của tỉnh thoát khỏi danh sách huyện nghèo. Thành công của Như Xuân không chỉ cải thiện cuộc sống người dân địa phương mà còn tạo động lực để vùng miền núi Thanh Hóa tiếp tục vươn lên.

Giai đoạn 2021 - 2025, Thanh Hóa tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp xóa đói, giảm nghèo và đã đạt được những kết quả quan trọng. Từ xuất phát điểm cuối năm 2021 với tỷ lệ hộ nghèo đa chiều 6,74%, tỉnh đã giảm nghèo nhanh và tương đối đồng đều qua các năm. Giai đoạn 2022 - 2024, Thanh Hóa giảm được 1,58% số hộ nghèo mỗi năm - vượt chỉ tiêu đề ra. Số hộ nghèo (theo chuẩn mới) đã giảm từ hơn 67 nghìn hộ (đầu 2022) xuống còn khoảng hơn 20 nghìn hộ cuối 2024. Bên cạnh đó, hàng chục nghìn hộ cận nghèo cũng từng bước vươn lên, một bộ phận thoát khỏi diện cận nghèo để chuyển sang nhóm hộ có mức sống trung bình. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn (nơi tập trung phần lớn người nghèo của tỉnh) đã giảm mạnh từ 8,86% năm 2020 xuống chỉ còn 4,76% vào năm 2024. Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng từ khoảng 42 triệu đồng/năm (2020) lên 60,86 triệu đồng năm 2024 (tăng 1,44 lần). Có thể nói, chương trình giảm nghèo bền vững của Thanh Hóa đã góp phần cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn; bộ mặt nhiều vùng quê đổi thay tích cực với hạ tầng khang trang, môi trường xanh - sạch - đẹp, các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy.

Trong các huyện nghèo và miền núi - “mặt trận” cam go nhất công tác giảm nghèo cũng đạt kết quả nổi bật. Tại 7 huyện nghèo của tỉnh, nhờ tập trung nguồn lực của Chương trình 30a và mục tiêu quốc gia (MTQG), tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh trong 3 năm qua. Nếu như đầu năm 2022, tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở các huyện này lên tới 68,4% (trong đó hộ nghèo chiếm 32,88%, cận nghèo 35,52%), thì đến cuối năm 2024 con số tổng cộng chỉ còn 33,77% (hộ nghèo 11,88%, cận nghèo 21,89%). Như vậy, mức độ nghèo đa chiều ở vùng trọng điểm nghèo đã giảm gần một nửa chỉ sau 3 năm, cho thấy hiệu quả rõ rệt của các chính sách dự án giảm nghèo. Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn các huyện nghèo cũng cải thiện đáng kể: từ mức khoảng 30 triệu đồng/người cuối năm 2023, dự kiến đạt 48 triệu đồng vào cuối năm 2025 (tăng 1,8 lần so với năm 2020). Nhiều mô hình giảm nghèo thành công đã xuất hiện tại vùng cao. Như mô hình trang trại tổng hợp của ông Đỗ Viết Thái (xã Luận Khê) cho thu nhập 200 triệu đồng/năm, gia đình ông đã thoát nghèo và trở thành hộ sản xuất kinh doanh giỏi; gia đình ông Bùi Văn Phụng (xã Mỹ Tân) nhờ được hỗ trợ một con bò sinh sản và vay vốn phát triển chăn nuôi kết hợp trồng rừng, sau 7 năm đã vươn lên có thu nhập 80 triệu đồng/năm, thoát nghèo bền vững… Những tấm gương vươn lên thoát nghèo nhờ chính sách hỗ trợ sinh kế không chỉ cải thiện cuộc sống cho chính họ, mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tinh thần vượt khó trong cộng đồng.

Các địa phương miền núi Thanh Hóa (trước khi sáp nhập) đã có bước chuyển biến rõ nét. Huyện Như Xuân sau khi ra khỏi diện huyện nghèo (năm 2018) tiếp tục duy trì đà giảm nghèo, hiện tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn trên dưới 3%. Huyện Quan Sơn, một huyện biên giới khó khăn, đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 40,04% năm 2021 xuống còn 30,02% năm 2023. Huyện này được phân bổ 244 tỷ đồng vốn Chương trình mục tiêu quốc gia và đã triển khai hàng loạt dự án hỗ trợ sinh kế (bò giống, lợn giống, gia cầm...) cho trên 1.400 hộ nghèo, cận nghèo, kết quả giúp hàng trăm hộ thoát nghèo. Huyện Quan Hóa - một huyện vùng cao cũng có kết quả tương tự: năm 2021 còn 3.738 hộ nghèo (33,5%), đến cuối năm 2022 giảm còn 3.154 hộ (28,16%). Quan Hóa đặt mục tiêu trong năm 2023 giảm thêm 5,62% (tương ứng 630 hộ) để hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống gần 22%. Các huyện Bá Thước, Lang Chánh, Mường Lát… đều báo cáo tỷ lệ nghèo giảm bình quân 3 - 4% mỗi năm trở lên. Đặc biệt, huyện Thạch Thành đã chính thức không còn xã nghèo: 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới, thu nhập bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh và bền vững. Đây là minh chứng cho thấy chủ trương gắn giảm nghèo với xây dựng nông thôn mới đã đem lại kết quả kép, vừa nâng cao đời sống người dân vừa thúc đẩy phát triển nông thôn toàn diện.

Ở khu vực đồng bằng và đô thị, tuy số lượng hộ nghèo không lớn nhưng công tác giảm nghèo cũng được chú trọng để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Giai đoạn 2021 - 2023, nhiều địa phương đồng bằng như Hoằng Hóa, Quảng Xương, Thiệu Hóa… đã “về đích” sớm mục tiêu giảm nghèo, hiện tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 1%. Điển hình, thành phố Thanh Hóa (tên gọi cũ) và các vùng phụ cận triển khai hiệu quả Đề án hỗ trợ người nghèo sinh sống trên sông, đã cấp đất và xây dựng 182 căn nhà tái định cư cho các hộ vạn chài, giúp họ “an cư lạc nghiệp” trên bờ. Những hộ dân từng sống cảnh lênh đênh nay đã có nhà cửa ổn định, con em được đi học đàng hoàng. Đây là thành quả mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, hướng tới mục tiêu giảm nghèo đô thị và đảm bảo an sinh cho nhóm yếu thế (người vô gia cư, lang thang cơ nhỡ). Song hành, công tác đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho lao động nghèo khu vực thành thị cũng được đẩy mạnh, nhằm tận dụng cơ hội từ quá trình công nghiệp hóa trên địa bàn tỉnh (nhất là tại Khu Kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp).

Nhìn chung, từ 2021 đến nay, Thanh Hóa đã giảm nghèo vừa nhanh, vừa hướng tới bền vững. Nhanh thể hiện ở tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên 1,5%/năm, thuộc nhóm cao so với cả nước. Bền vững thể hiện ở đời sống của người dân sau khi thoát nghèo được nâng lên rõ rệt, thu nhập tăng, khả năng chống chịu rủi ro tốt hơn; nhiều mô hình giảm nghèo giúp người dân có sinh kế lâu dài. Theo đánh giá, Thanh Hóa nằm trong số những địa phương thực hiện Chương trình giảm nghèo đa chiều hiệu quả nhất, các chỉ tiêu giai đoạn 2021 - 2025 dự kiến hoàn thành sớm hơn kế hoạch. Kết quả đó là nền tảng để Thanh Hóa tự tin hướng tới mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 không còn xã nghèo, không còn xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Giải pháp xóa đói giảm nghèo bền vững trong thời gian tới

Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo nhưng khu vực miền núi Thanh Hóa vẫn là trọng điểm nghèo của tỉnh. Tính đến cuối năm 2024, số hộ nghèo ở 11 huyện miền núi vẫn còn 23.541 hộ, chiếm 14,75% tổng số hộ khu vực này, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung toàn tỉnh. Trong khi đó, nhờ thành tựu phát triển những năm qua, tỷ lệ hộ nghèo khu vực đồng bằng và đô thị đã giảm rất thấp (một số địa phương chỉ còn dưới 1%). Toàn tỉnh hiện nay tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2022 - 2025) chỉ khoảng 2% và nếu tính cả hộ cận nghèo là khoảng 2,02%, tương ứng khoảng 20.660 hộ. Công tác xóa đói giảm nghèo vì vậy tập trung vào khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số - đây là “mặt trận” then chốt, quyết định đến thành công chung của sự nghiệp giảm nghèo bền vững của tỉnh.

Hiện nay, nhiều khó khăn, thách thức cần tháo gỡ: (1) Đối tượng nghèo còn lại chủ yếu rất khó thoát nghèo (già yếu, bệnh tật, vùng sâu, vùng xa, điều kiện khó khăn); (2) Tâm lý trông chờ, ỷ lại của một số ít hộ nghèo cần được xóa bỏ để thay bằng ý chí tự lực; (3) Hạn chế về trình độ, kỹ năng của lao động nghèo, cùng các rào cản phong tục tập quán lạc hậu ở vùng dân tộc; (4) Một số bất cập về cơ chế, chính sách và phối hợp thực hiện, đặc biệt trong giai đoạn đầu triển khai chương trình mới; (5) Tác động của thiên tai, dịch bệnh. Nhận diện rõ những vấn đề này là cơ sở để tỉnh Thanh Hóa đề ra các giải pháp đồng bộ, hiệu quả hơn trong chặng đường tiếp theo.

Trước thực trạng trên, đề xuất giải pháp xóa đói giảm nghèo bền vững tại Thanh Hóa:

Nâng cao chất lượng và hiệu quả chính sách giảm nghèo: Trước hết, rà soát, hoàn thiện khung chính sách hiện hành, khắc phục những bất cập trong cơ chế thực thi. Các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp đặc thù từng nhóm đối tượng và địa bàn. Ví dụ, với hộ nghèo không còn sức lao động, cần bổ sung chính sách trợ giúp xã hội bền vững (trợ cấp bảo hiểm xã hội, chăm sóc tại cộng đồng...); với hộ nghèo có lao động nhưng thiếu sinh kế, cần tăng cường hỗ trợ sinh kế gắn với thị trường. Chủ động ban hành cơ chế đặc thù, có chính sách hỗ trợ riêng cho các thôn, bản còn tỷ lệ nghèo cao; huy động doanh nghiệp nhận đỡ đầu xã nghèo; khuyến khích các mô hình tín dụng vi mô, quỹ tiết kiệm tự quản trong cộng đồng... Mục tiêu là tạo nên mạng lưới chính sách đa tầng, linh hoạt nhưng không bỏ sót đối tượng.

Nâng cao năng lực thực thi cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp. Tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về phương pháp tiếp cận giảm nghèo đa chiều, kỹ năng xây dựng dự án sinh kế, kỹ năng vận động người dân... nhất là cho cán bộ cấp xã, thôn ở vùng sâu, vùng xa. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hộ nghèo, cập nhật dữ liệu thường xuyên, kịp thời phát hiện những điểm nghẽn để điều chỉnh chính sách. Công tác giám sát, đánh giá chương trình giảm nghèo cần được thực hiện nghiêm túc, có sự tham gia của người dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả. Những nơi triển khai tốt cần được tuyên dương nhân rộng; nơi làm chưa tốt phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm kịp thời.

Phát huy vai trò của người dân, khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để thay đổi nhận thức, thái độ của hộ nghèo. Các cấp chính quyền, đoàn thể thường xuyên cử cán bộ xuống tận thôn bản “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với dân, hiểu rõ hoàn cảnh từng hộ để tư vấn, hướng dẫn phù hợp. Chú trọng tuyên truyền các tấm gương thoát nghèo thành công ngay trong cộng đồng, tạo sức lan tỏa tích cực.

Phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng trong hỗ trợ nhau giảm nghèo. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản và người uy tín vào công tác giảm nghèo. Các phong trào tương trợ giúp nhau phát triển kinh tế như “hũ gạo tình thương”, “nuôi lợn tiết kiệm”, góp ngày công làm nhà cho hộ nghèo…, cần tiếp tục được nhân rộng. Tinh thần đoàn kết, lá lành đùm lá rách phải trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng. Đối với hộ đã thoát nghèo, cần động viên họ tham gia chia sẻ kinh nghiệm cho hộ nghèo, hình thành các câu lạc bộ gia đình thoát nghèo để vừa giám sát lẫn nhau không tái nghèo, vừa hỗ trợ nhau vươn lên.

Tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng nghèo một cách bền vững, có trọng tâm, trọng điểm. Cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư cho hạ tầng thiết yếu ở vùng khó khăn - nhất là giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế. Hết năm 2025, phấn đấu 100% số thôn, bản ở miền núi Thanh Hóa có đường giao thông đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trên 95% số hộ dân được dùng nước hợp vệ sinh. Hạ tầng tốt sẽ tạo tiền đề cho phát triển kinh tế hàng hóa, mở mang ngành nghề, giao thương thuận lợi hơn, từ đó góp phần giảm nghèo.

Đẩy mạnh phát triển sản xuất, tạo sinh kế đa dạng cho người nghèo. Mỗi phường, xã nghèo cần xác định một số mô hình sinh kế chủ lực phù hợp với lợi thế địa phương, như nuôi bò sinh sản, trồng rừng gỗ lớn, trồng cây dược liệu dưới tán rừng, phát triển cây ăn quả xứ lạnh, nghề mây tre đan truyền thống… Trên cơ sở đó, các dự án giảm nghèo nên ưu tiên nguồn lực cho những mô hình này, đồng thời chú trọng yếu tố liên kết sản xuất với thị trường. Chương trình OCOP phải gắn với công tác giảm nghèo. Tổ chức các lớp tập huấn khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp OCOP cho thanh niên, phụ nữ vùng cao, từ đó xuất hiện thêm nhiều chủ thể OCOP là người dân tộc thiểu số, vừa tạo việc làm vừa giữ gìn bản sắc văn hóa.

Bên cạnh OCOP, cần phát triển mạnh các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái ở miền núi như Pù Luông, bản Hang, Mường Xia…, biến cảnh quan thiên nhiên và văn hóa độc đáo của đồng bào thành sinh kế. Đây là hướng thoát nghèo bền vững, đã được thực tế chứng minh tại một số bản du lịch cộng đồng ở tỉnh.

Tỉnh cũng có thể lập đề án xuất khẩu lao động dành riêng cho thanh niên dân tộc thiểu số nhằm giúp họ có cơ hội việc làm và tích lũy vốn. Quan Sơn đã coi xuất khẩu lao động là một “đòn bẩy” giảm nghèo hiệu quả, nhiều huyện khác có thể học tập kinh nghiệm này.

Đẩy mạnh giáo dục, đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hộ nghèo. Đây là giải pháp căn cơ để “cắt đứt vòng đói nghèo” ở thế hệ tương lai. Khuyến khích doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đào tạo nghề tại chỗ cho lao động nghèo. Với những lao động đã qua đào tạo, hỗ trợ họ giới thiệu việc làm thông qua sàn giao dịch việc làm trực tuyến, phiên giao dịch lưu động về tận huyện. Mục tiêu cuối cùng là giúp người nghèo có việc làm và thu nhập ổn định để thoát nghèo bền vững./.