Tập trung phát triển các đảo ven bờ tỉnh Quảng Ninh - Hướng tới xây dựng trung tâm kinh tế biển hiện đại và phát triển bền vững
TCCS - Biển, đảo không chỉ là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, mà còn là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh của Việt Nam. Với hệ thống đảo ven bờ trải dài và đa dạng, giữ vị trí trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế biển của đất nước, Quảng Ninh phát huy tiềm năng, thế mạnh để trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại và phát triển bền vững.
Chiến lược phát triển bền vững các đảo ven bờ tỉnh Quảng Ninh
Phát triển bền vững các đảo ven bờ là sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái biển đảo, tạo ra giá trị lâu dài và bền vững cho người dân và cộng đồng. Điều này đồng nghĩa với việc phát huy hiệu quả sử dụng tài nguyên biển, bảo tồn đa dạng sinh học và đồng thời xây dựng mô hình phát triển kinh tế gắn liền với phát triển xã hội trên đảo, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân ven biển.
Tỉnh Quảng Ninh sở hữu hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ, trải dài từ Vân Đồn đến Cô Tô, với đa dạng các hệ sinh thái biển phong phú, là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững quốc phòng - an ninh vùng ven biển. Các đảo ven bờ không chỉ mang lại giá trị kinh tế trực tiếp qua khai thác hải sản, phát triển du lịch sinh thái, mà còn đóng vai trò là căn cứ địa chiến lược, nâng cao năng lực kiểm soát và bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Tỉnh Quảng Ninh không chỉ là trung tâm công nghiệp than, mà còn đang từng bước chuyển đổi mạnh mẽ sang kinh tế biển xanh, lấy phát triển bền vững làm kim chỉ nam để xây dựng nền kinh tế năng động, sáng tạo, hội nhập sâu rộng với các đối tác trong khu vực và quốc tế. Việc phát triển các đảo ven bờ sẽ tạo nên những không gian kinh tế biển đa dạng, hiện đại, góp phần xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Các chiến lược phát triển các đảo ven bờ Quảng Ninh cần có Quy hoạch không gian biển, đảo tích hợp và bền vững. Phân vùng chức năng rõ ràng: Tổ chức lại không gian phát triển kinh tế biển dựa trên hệ sinh thái và chức năng sử dụng biển, đảo và vùng ven biển. Điều này giúp giảm xung đột trong khai thác và sử dụng tài nguyên biển. Phát triển du lịch bền vững; ưu tiên phát triển du lịch sinh thái kết hợp với bảo tồn biển, tận dụng thế mạnh tự nhiên và văn hóa của các đảo ven bờ. Xây dựng hạ tầng đồng bộ và hiện đại, bằng cách đầu tư kết cấu hạ tầng đa mục tiêu: Xây dựng và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng như điện, nước, giao thông, viễn thông, xử lý rác thải, nhằm bảo đảm “lợi ích kép” trong phát triển. Tiếp theo là chuyển dần sang phát triển mạnh năng lượng tái tạo, như điện gió và điện mặt trời, để cung cấp năng lượng bền vững cho các đảo phục vụ đời sống của người dân. Khuyến khích nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, hiệu quả và bền vững, bao gồm cả nuôi các đối tượng làm dược liệu biển và thực phẩm dinh dưỡng từ sản phẩm biển. Ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch, để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm biển.
Bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học biển đảo. Quản lý tài nguyên biển bền vững cũng là một trong những chiến lược phát triển các đảo ven bờ Quảng Ninh: Phát triển và quản lý bền vững kinh tế biển của tỉnh theo phương thức quản trị biển dựa vào không gian, liên ngành, với sự tham gia thực chất của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Bảo tồn hệ sinh thái biển: Thiết lập các khu bảo tồn biển cấp tỉnh và khu vực đệm sinh thái, đặc biệt tại vùng ven đảo có rạn san hô, cỏ biển hoặc nơi sinh sản thủy sinh vật. Coi trọng hợp tác quốc tế và khu vực trong phát triển kinh tế biển bền vững và đào tạo nguồn nhân lực biển hiệu quả. Tăng cường đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực kinh tế biển, đặc biệt là trong các ngành như năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái và công nghệ biển.
Thực trạng và tiềm năng phát triển các đảo ven bờ tỉnh Quảng Ninh
Từ năm 2019 đến năm 2023, tổng sản lượng hàng hóa thông qua các cảng biển Quảng Ninh đạt trên 627 triệu tấn, bình quân mỗi năm khoảng 124 triệu tấn. Riêng năm 2024, sản lượng hàng hóa qua cảng ước đạt gần 150 triệu tấn - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong 6 tháng đầu năm 2025, sản lượng tiếp tục tăng, đạt hơn 82 triệu tấn, tăng 9,72% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số lượt phương tiện tàu biển qua cảng đạt hơn 77.500 lượt, doanh thu dịch vụ cảng biển từ năm 2019 đến nay đạt gần 15.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 17,4%/năm. Dịch vụ cảng biển hiện đóng góp khoảng 0,49% vào GRDP của tỉnh. Về du lịch biển, đảo, trong giai đoạn 2019 đến giữa năm 2024, tỉnh đón gần 65 triệu lượt khách, trong đó du lịch biển đảo chiếm khoảng 43,3 triệu lượt. Các điểm đến như Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, Cô Tô, Quan Lạn, Vân Đồn đã hình thành các tuyến du lịch biển, du lịch tàu biển và nghỉ dưỡng cao cấp, góp phần đa dạng hóa sản phẩm và kéo dài thời gian lưu trú. Hệ thống cơ sở lưu trú toàn tỉnh đạt 1.625 cơ sở, với hơn 36.000 buồng phòng; riêng các cơ sở từ 3 sao trở lên có 82 đơn vị với hơn 12.000 phòng, từng bước đáp ứng nhu cầu của dòng khách chất lượng cao.
Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng cảng biển và giao thông biển đảo cũng có nhiều bước phát triển. Các cảng như Cảng Vạn Ninh, Ao Tiên, Cảng khách quốc tế Hòn Gai, Cảng khách quốc tế Hạ Long… được đầu tư hiện đại, phục vụ hiệu quả cả mục tiêu kinh tế và du lịch. Các tuyến tàu du lịch quốc tế, tàu nghỉ đêm, tuyến ven bờ được đưa vào khai thác đồng bộ, góp phần gia tăng giá trị cho chuỗi dịch vụ biển đảo.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều tồn tại cần được khắc phục. Hạ tầng kỹ thuật trên các đảo, đặc biệt là kết nối giao thông giữa đảo và đất liền còn chưa đồng bộ; hệ thống y tế, giáo dục, dịch vụ công cơ bản trên một số đảo vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Năng lực khai thác cảng biển, nhất là cảng nước sâu và cảng container chưa tương xứng với tiềm năng. Việc quản lý tài nguyên và môi trường biển còn hạn chế; tình trạng khai thác thủy sản chưa bền vững vẫn diễn ra. Nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho du lịch, dịch vụ và logistics biển, đảo còn thiếu hụt; đồng thời, các đảo ven bờ cũng đang chịu tác động ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống người dân và tính ổn định sinh thái.
Tuy nhiên, quá trình phát triển còn đối mặt với nhiều khó khăn: Hạ tầng kỹ thuật - đặc biệt là giao thông kết nối vẫn còn hạn chế; dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa - xã hội trên đảo chưa được đầu tư tương xứng. Việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường biển đảo chưa theo kịp tốc độ phát triển; tình trạng khai thác thủy sản chưa bền vững gây tổn hại đến hệ sinh thái. Dân số thấp, nhân lực chất lượng cao còn thiếu, ảnh hưởng tới khả năng phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, nhất là du lịch chất lượng cao và dịch vụ biển chuyên sâu.
Tỉnh Quảng Ninh sở hữu nhiều tiềm năng nổi trội để phát triển kinh tế biển, đảo. Về tài nguyên, các đảo ven bờ có nguồn hải sản phong phú, thích hợp để phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến theo chuỗi giá trị gia tăng cao. Các vùng biển quanh đảo như Vân Đồn, Bái Tử Long có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi biển công nghệ cao.
Du lịch biển, đảo là thế mạnh đặc biệt, với hệ sinh thái đa dạng, cảnh quan tự nhiên độc đáo, kết hợp giá trị văn hóa - lịch sử đặc sắc. Các đảo như Cô Tô, Quan Lạn, Minh Châu… đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư lớn vào lĩnh vực du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, thể thao biển, du lịch trải nghiệm văn hóa cộng đồng.
Về vị trí địa lý, Quảng Ninh gần các tuyến vận tải biển quốc tế, có nhiều cửa khẩu và điều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, dịch vụ logistics, thương mại biển. Tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo biển (gió, sóng, mặt trời) cũng được đánh giá cao, là hướng đi bền vững trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu và ứng phó biến đổi khí hậu.
Một số nhiệm vụ, giải pháp và định hướng để phát triển bền vững các đảo ven bờ tỉnh Quảng Ninh
Trong tiến trình thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc phát triển bền vững các đảo ven bờ trở thành một yêu cầu chiến lược, vừa mang tính cấp thiết trước mắt, vừa là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của quốc gia biển. Với vị trí đặc biệt quan trọng ở khu vực Đông Bắc, tỉnh Quảng Ninh không chỉ giữ vai trò cửa ngõ vùng biển Bắc Bộ, mà còn sở hữu hệ thống đảo ven bờ đa dạng về tài nguyên, sinh thái và giá trị chiến lược. Tuy nhiên, sự phát triển của các đảo ven bờ hiện nay vẫn còn gặp nhiều hạn chế như hạ tầng yếu, môi trường bị đe dọa, thiếu quy hoạch dài hạn, nguồn nhân lực biển chưa được phát huy đúng mức... Trước thực tế đó, để xây dựng mô hình phát triển bền vững, hiện đại và có bản sắc riêng cho hệ thống đảo ven bờ Quảng Ninh, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp và định hướng sau:
Một là, hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế quản lý đặc thù đối với phát triển đảo ven bờ
Thể chế và chính sách là nền tảng quyết định hiệu lực, hiệu quả trong quá trình tổ chức phát triển. Cần khẩn trương xây dựng và đề xuất ban hành chính sách đặc thù đối với huyện đảo và các đảo có dân cư sinh sống như Cô Tô, Quan Lạn, Ngọc Vừng..., tương tự như cơ chế đã áp dụng cho vùng núi cao, vùng sâu vùng xa và khu kinh tế trọng điểm. Bên cạnh đó, cần xây dựng khung pháp lý riêng cho phát triển các đảo nhỏ, theo hướng khuyến khích đầu tư dài hạn, ổn định, vào các ngành nghề thân thiện với môi trường. Chính sách cần đồng thời tạo điều kiện bảo tồn sinh thái biển và phát huy văn hóa bản địa. Cơ chế tài chính linh hoạt, ưu đãi thuế, tín dụng, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực du lịch sinh thái, nông nghiệp biển công nghệ cao, năng lượng tái tạo… là yêu cầu không thể thiếu. Tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền cấp huyện, xã đảo trong công tác quy hoạch, sử dụng tài nguyên, đất đai, quản lý cảng biển nhỏ và các hoạt động dịch vụ hàng hải.
Hai là, triển khai quy hoạch không gian biển, đảo tích hợp, đồng bộ, liên ngành và dài hạn.
Phát triển bền vững đòi hỏi phải có tư duy quy hoạch đi trước một bước. Quy hoạch biển, đảo không chỉ dừng ở việc phân chia không gian sử dụng, mà phải tạo ra tầm nhìn tổng thể, gắn kết các ngành và bảo đảm cân bằng giữa khai thác - sử dụng - bảo tồn. Quảng Ninh cần xây dựng quy hoạch không gian biển, đảo dựa trên nguyên tắc tích hợp đa ngành, gắn với dữ liệu số hóa, ứng dụng GIS và mô hình phân vùng chức năng. Đồng thời, cần xác định rõ vai trò của từng đảo, từng cụm đảo trong tổng thể phát triển kinh tế biển của tỉnh và vùng Bắc Bộ. Việc phân định không gian cho các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch, sinh hoạt dân cư và khu vực bảo tồn cần rõ ràng, minh bạch. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để kêu gọi đầu tư hiệu quả, hạn chế xung đột trong khai thác tài nguyên và gìn giữ hệ sinh thái biển đảo bền vững.
Ba là, đầu tư phát triển hạ tầng thiết yếu, hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu
Ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ là một trong những đột phá chiến lược. Đối với các đảo ven bờ, điều này càng có ý nghĩa cấp thiết, bởi hiện nay nhiều đảo còn thiếu điện lưới quốc gia, hệ thống cấp nước ổn định, giao thông kết nối yếu, xử lý chất thải chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. Tỉnh Quảng Ninh cần huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, vốn ODA, nguồn xã hội hóa để tập trung đầu tư vào các công trình trọng điểm: điện, nước sạch, xử lý rác thải và nước thải, y tế, giáo dục, thông tin liên lạc và cảnh báo thiên tai. Ngoài ra, cần phát triển mô hình “đảo thông minh”, tích hợp hạ tầng vật lý với công nghệ số trong quản lý tài nguyên, vận hành du lịch, đảm bảo an ninh và ứng phó thiên tai hiệu quả.
Bốn là, thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, gắn với bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học
Kinh tế biển xanh là trụ cột chiến lược đã được Đảng xác định trong Nghị quyết số 36-NQ/TW. Đối với tỉnh Quảng Ninh, cần chuyển hướng mô hình tăng trưởng theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và tái tạo hệ sinh thái biển. Cụ thể, ưu tiên phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, gắn với bảo tồn thiên nhiên và văn hóa bản địa; nuôi trồng thủy sản theo hướng tuần hoàn, an toàn sinh học; khuyến khích đầu tư điện gió, điện mặt trời nổi tại các đảo có tiềm năng; xây dựng chuỗi logistics biển đảo, từ hậu cần nghề cá đến chế biến, đóng gói, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm biển. Đồng thời, cần thiết lập các khu bảo tồn biển cấp tỉnh, khu vực đệm sinh thái quanh các rạn san hô, cỏ biển, vùng sinh sản tự nhiên của sinh vật biển; kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn thải từ tàu du lịch, hộ dân, khu dịch vụ ven đảo. Việc xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí du lịch xanh, du lịch không rác thải nhựa tại các đảo sẽ góp phần khẳng định thương hiệu du lịch bền vững của Quảng Ninh.
Năm là, phát triển nguồn nhân lực biển, đảo chất lượng cao và mở rộng hợp tác quốc tế
Con người là trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Tỉnh Quảng Ninh cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực biển, đảo theo hướng thực tiễn, linh hoạt và thích ứng với xu thế mới. Cần kết nối nhà trường, doanh nghiệp và chính quyền để tổ chức đào tạo nghề biển, kỹ năng làm du lịch, ứng dụng năng lượng tái tạo và khởi nghiệp xanh cho thanh niên vùng đảo. Song song đó, việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biển, đảo là cần thiết. Quảng Ninh cần chủ động tham gia các sáng kiến khu vực, như Mạng lưới các thành phố ven biển ASEAN, tam giác san hô, các dự án về biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Qua đó có thể tranh thủ được nguồn lực tài chính khí hậu, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để xây dựng mô hình đảo sinh thái, đảo thông minh theo chuẩn mực quốc tế./.
Quảng Ninh thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045  (01/12/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm