Quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc
TCCSĐT - Năm 2010, Việt Nam và Trung quốc kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong những năm gần đây, cùng với quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế giữa hai nước ngày càng phát triển theo hướng đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy hạn chế và bất cập vẫn còn nhưng triển vọng là rất tốt đẹp.
Thực trạng quan hệ giai đoạn 2001-2010
Về thương mại: Trong thời gian 2001-2010, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc đã có những bước phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Do lãnh đạo hai nước đã tạo tiền đề tốt đẹp đưa quan hệ thương mại hai nước bước vào thế kỷ XXI, nên năm 2000, kim ngạch mậu dịch song phương đạt trên 2,5 tỉ USD, lần đầu tiên vượt mục tiêu 2 tỉ USD. Từ năm 2001- 2010, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Mức tăng trưởng kim ngạch mậu dịch hai nước từ năm 2001-2008 bình quân trên 25%. Một số mốc quan trọng là: Năm 2004 kim ngạch mậu dịch hai nước đạt xấp xỉ 7,2 tỉ USD, vượt mục tiêu Chính phủ hai nước đề ra là 5 tỉ USD vào năm 2005. Năm 2005 đạt 9,12 tỉ USD, tăng 26,6% so năm 2004, năm 2006 đạt 10,63 tỉ USD, tăng 16,5% so năm 2005, năm 2007 đạt 16,35 tỉ USD, tăng 53,8% so năm 2006, năm 2008, đạt 20,82 tỉ USD tăng gấp 2,28 lần so với năm 2005 và hoàn thành trước hai năm mục tiêu đề ra là 20 tỉ USD vào năm 2010. Năm 2009 tuy bị tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn tiếp tục tăng trưởng. Tổng mức buôn bán hai chiều đạt 21,35 tỉ USD tăng 2,6% so năm 2008. Ước tính năm 2010 là trên 22 tỉ USD.
Những dấu ấn nổi bật trong quan hệ thương mại giữa 2 nước những năm qua là: Sự gia tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Nếu năm 2000 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 1,5 tỉ USD, thì năm 2005 đã đạt 3,22 tỉ USD, năm 2006 đạt 3,65 tỉ USD, năm 2007 đạt 4,65 tỉ USD, năm 2008 đạt 4,85 tỉ USD, năm 2009 đạt 4,91tỉ USD và ước tính năm 2010 đạt 5,2 tỉ USD. Như vậy, kim ngạch xuất khẩu năm 2000-2009 tăng gấp 3,19 lần, bình quân mỗi năm tăng 13,75%, và nếu so với năm 2005, con số tương ứng là 52% và 11% . Đó là những tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao và liên tục với xu hướng khá bền vững năm sau cao hơn năm trước, rất đáng ghi nhận. Không chỉ tăng trưởng cao, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng rất đa dạng, khai thác tốt các thế mạnh hàng hoá sản xuất của Việt Nam. Hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là dầu thô, than đá, và các loại nông sản nhiệt đới bao gồm: cao su, rau hoa quả, hạt điều, hạt tiêu, sắn lát, đồ gỗ cao cấp, thực phẩm chế biến, thuỷ hải sản tươi sống. Hàng hoá nông sản, thuỷ sản Việt Nam đã tìm được thị trường lớn và khá ổn định lại không đòi hỏi chất lượng quá cao nên vấn đề đầu ra cho nông sản hàng hoá được giải quyết, có tác dụng kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển, góp phần tạo việc làm mới ở nông thôn, nhất là các tỉnh biên giới, tăng thu nhập cải thiện đời sống nông dân.
Về nhập khẩu, kim ngạch tăng rất nhanh, từ 1,4 tỉ USD năm 2000, tăng lên 5,89 tỉ USD năm 2005 và 16,4 tỉ USD năm 2009. Như vậy trong 9 năm (2000-2009) kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng gấp 11,7 lần, bình quân mỗi năm tăng 31,45%. Các mặt hàng nhập khẩu (NK) từ thị trường này máy móc thiết bị, nguyên nhiên liệu tương thích với trình độ sản xuất, khả năng thanh toán, đáp ứng nhanh nhu cầu của nền sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, tự phát… và bổ sung quỹ hàng tiêu dùng của nhân dân ta. Hàng nhập khẩu từ Trung Quốc gồm: máy móc thiết bị, sắt thép, phân bón và vật tư nông nghiệp, hoá chất, phương tiện vận tải, nguyên phụ liệu dệt may, da. Các nhóm hàng trên chiếm trên 90% kim ngạch nhập khẩu hàng năm từ Trung Quốc.
Hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta có ưu điểm là chi phí vận chuyển thấp, giá cả và cơ cấu mặt hàng phù hợp với thu nhập và thị hiếu của người dân, nhất là hàng tiêu dùng.. Tiềm năng và tính bổ sung lẫn nhau trong phát triển kinh tế giữa hai nước ngày càng được khai thác và phát huy, thể hiện qua cơ cấu hàng hoá trao đổi ngày càng phản ánh sát thực lực, trình độ phát triển kinh tế và nhu cầu phụ thuộc lẫn nhau của hai nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Không chỉ tăng trưởng khá, cơ cấu mặt hàng đa dạng mà phương thức mậu dịch ngày càng phát triển. Nếu giai đoạn 1991-2000, quan hệ thương mại hai nước chủ yếu thông qua mậu dịch biên giới, thì giai đoạn 2001-2010, mậu dịch chính ngạch đã chiếm vị trí áp đảo trong tổng giá trị thương mại hai nước với các loại hình thương mại đa dạng như: tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh, gia công...
Quan hệ hợp tác, thương mại giữa các địa phương hai nước từ chỗ chỉ tập trung giữa các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta với hai tỉnh Quảng Tây, Vân Nam đã phát triển rộng đến các tỉnh, thành phố nằm sâu trong nội địa như Thượng Hải, Quảng Đông, Hải Nam, Giang Tô... Thông qua quan hệ thương mại phát triển và đa dạng, bộ mặt xã hội, đời sống của nhân dân ở vùng biên giới hai nước thay đổi cơ bản. Hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng nhộn nhịp cùng với sự ra đời của hàng loạt các khu kinh tế tại cửa khẩu đã giúp các địa phương điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp.
Về đầu tư: Từ năm 2005 đến năm 2010, vốn FDI từ Trung Quốc tại Việt Nam đạt mức cao hơn nhiều các năm trước đó. Nếu 15 năm 1989-2004, Trung Quốc chỉ có 70 dự án FDI với số vốn tích luỹ 91,6 triệu USD, thì riêng năm 2006 đã đạt 401,3 triệu USD, năm 2007 đạt 572,5 triệu USD, năm 2008 đạt 373,5 triệu USD. Năm 2009, tuy bị tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới nhưng vốn FDI từ Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng với 76 dự và 380 triệu USD vốn đăng ký mới, nâng tổng số vốn FDI từ nước này (1989-2009) lên 2.930,3 triệu USD. Ước tính năm 2010 vốn FDI sẽ đạt trên 400 triệu USD và nâng tổng số vốn FDI từ Trung Quốc tại Việt Nam lên trên 3,3 tỉ USD (8 tháng đầu năm 2010 có 61 dự án và 133,8 triệu USD vốn đăng ký mới.
Cơ cấu đầu tư khá hợp lý, bao gồm các ngành và lĩnh vực Việt Nam đang cần và Trung Quốc có thế mạnh như: chế biến thức ăn gia súc, chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất linh kiện, lắp ráp ô tô, xe gắn máy, khai khác mỏ, xây dựng các nhà máy nhiệt điện, xây dựng, nâng cấp các công trình giao thông; xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, du lịch nghỉ dưỡng, ngân hàng…
Về hợp tác phát triển: Từ năm 2001 đến nay nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi từ Trung Quốc đã tăng lên mạnh mẽ và được hai nước ưu tiên sử dụng trong các lĩnh vực mà Việt Nam đang cần. Đó là hợp tác trong lĩnh vực điện với trên 10 dự án, lĩnh vực khai khoáng 10 dự án, lĩnh vực luyện kim 5 dự án, lĩnh vực phân bón, hoá chất 5 dự án, lĩnh vực cơ khí 3 dự án. Ngày 22-10-2008, trong chuyến thăm Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo dã chứng kiến lễ ký các văn kiện hợp tác kinh tế quan trọng: Thỏa thuận giữa Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc và Bộ Tài chính Việt Nam về việc cung cấp tín dụng dự án đường sắt nhẹ Hà Nội - Hà Đông và việc sử dụng tín dụng ưu đãi bên mua; Thỏa thuận hợp tác giữa UBND thành phố Hải Phòng với Chính quyền thành phố Thâm Quyến về việc xây dựng khu kinh tế thương mại Trung - Việt tại Hải Phòng; Thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2009-2010 giữa Hội liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam với Hội Hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc; Thỏa thuận giữa Tập đoàn dầu khí Việt Nam với CMG (Tập đoàn Chiêu Thương) về việc xây dựng, vận hành Cảng Sao Mai - Bến Đình và Thoả thuận hợp tác chiến lược giữa Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam với Công ty dầu khí Hải Dương Quốc gia Trung Quốc (CNOC)… Các hạng mục hợp tác trên đã và đang lần lượt đi vào hoạt động, góp phần đáng kể trong việc phát triển kinh tế, xã hội mỗi nước.
Về du lịch: Quan hệ du lịch giữa Việt Nam và Trung Quốc những năm qua và hiện nay phát triển toàn diện cả lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam và khách Việt Nam sang Trung Quốc. Trung Quốc liên tục là nước đứng đầu về số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam từ trước đến nay. Từ năm 2001-2010, số lượng khác du lịch Trung Quốc đến Việt Nam luôn đạt từ trên nửa triệu người đến 800 nghìn lượt người, trong đó năm cao nhất đạt 778,4 nghìn lượt người (2004) và năm thấp nhất là 519 nghìn lượt người ((2009). 8 tháng đầu năm 2010 con số này đã đạt tới 591,3 nghìn lượt người, tăng 96,2% so cùng kỳ năm 2009 và ước tính cả năm sẽ đạt trên 800 nghìn lượt khách, mức cao nhất từ trước đến nay.
Bước phát triển mới và tăng trưởng cao trong quan hệ kinh tế giữa hai nước những năm qua ngày càng phát huy tác dụng quan trọng đối với mỗi nước. Sự tăng trưởng về kim ngạch xuất nhập khẩu luôn vượt mục tiêu đề ra, các dự án hợp tác kinh tế và đầu tư trực tiếp vào các lĩnh vực ngày càng đa dạng phù hợp với tiềm năng, thế mạnh và nhu cầu mỗi nước đã và đang góp phần nâng cao giá trị hàng hoá của cả hai nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc.
Quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước có bước phát triển mạnh mẽ và sâu rộng trong những năm gần đây là do mối quan hệ chính trị giữa hai nước đang ngày càng phát triển tốt đẹp. Các chuyến thăm thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy quan hệ toàn diện giữa hai bên không ngừng nâng cao. Việc nâng quan hệ hai nước trở thành mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, việc thành lập và đi vào hoạt động của Ban chỉ đạo quan hệ song phương giữa Chính phủ hai nước đã góp phần hết sức quan trọng trong việc giải quyết kịp thời các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển toàn diện quan hệ song phương, nhất là đưa quan hệ hợp tác kinh tế thương mại lên tầm cao mới. Bên cạnh đó, các bộ, ngành của hai nước đã thường xuyên gặp gỡ, trao đổi và điều chỉnh, bổ sung nội dung các hiệp định trong các lĩnh vực hợp tác kinh tế thương mại nhằm không ngừng hoàn thiện hành lang pháp lý cho hợp tác kinh tế và trao đổi thương mại. Những kết quả trên cũng không tách rời vai trò tác dụng to lớn có hiệu quả của các chương trình xúc tiến quốc gia, sự nỗ lực của các địa phương, nhất là các tỉnh biên giới phía Bắc và sự chủ động của cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng Việt Nam. Với việc hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền và đẩy mạnh đàm phán các vấn đề trên biển đã góp phần ổn định và tăng cường môi trường hợp tác, thương mại đầu tư giữa hai nước. Các kỳ họp của Uỷ ban hợp tác kinh tế liên Chính phủ hai nước vừa qua và kết quả các cuộc họp giữa các bộ ngành hai nước trong lĩnh vực quản lý, chất lượng kiểm nghiệm kiểm dịch đã từng bước tháo gỡ những khó khăn, khắc phục những mặt hạn chế trong lĩnh vực thương mại.
Những hạn chế: Trong quan hệ thương mại hai nước còn tồn tại một số hạn chế lớn. Cán cân thương mại hai nước ngày càng mất cân đối, tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam ngày càng tăng. Nếu năm 2000, Việt Nam còn xuất siêu sang Trung Quốc 135,3 triệu USD, thì từ năm 2001 bắt đầu quá trình nhập siêu từ Trung Quốc với số lượng ngày càng tăng với tốc độ nhanh: Năm 2001 là 200 triệu USD, năm 2005 là 2671 triệu USD, năm 2006 là 4,14 tỉ USD, năm 2007 là 9 tỉ USD, năm 2008 là 11,1 tỉ USD, năm 2009 đã tăng lên 11,5 tỉ USD, gấp 55 lần so với năm 2001 và năm 2020 ước gần 12 tỉ USD.
Việc tổ chức biên mậu giữa hai nước vẫn còn nhiều bất cập. Tình trạng buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại, hàng giả hàng chất lượng kém vẫn còn tiếp diễn gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và tâm lý người tiêu dùng. Mức tăng trưởng mậu dịch giữa hai nước tuy tăng nhanh nhưng chưa vững và chưa phản ánh hết tiềm năng rất lớn của mỗi nước.
Về đầu tư, hầu hết các dự án đều có quy mô nhỏ vốn ít và tập trung vào các lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên và công nghiệp chế biến với công nghệ trung bình. Quy mô đầu tư FDI của Trung Quốc tại Việt Nam hiện nay gồm các lĩnh vực không phải là thế mạnh của Trung Quốc, nhiều dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, thậm chí gây ô nhiễm môi trường .. Nhiều hạng mục công trình không hoàn thành đúng thời gian đã định. Việc giải ngân nhiều dự án chậm.
Đầu tư của Việt Nam sang Trung Quốc những năm gần đây tuy đã có bước tiến mới nhưng quy mô còn nhỏ. Tính đến cuối năm 2009, Việt Nam mới có 8 dự án FDI tại nước này với số vốn đăng ký 11,2 triệu USD.
Quan hệ du lịch giữa Việt Nam và Trung Quốc những năm qua và hiện nay phát triển nhưng tính bền vững chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế.
Để khắc phụ những hạn chế trên, các cơ quan hữu quan của hai nước đã tiến hành các cuộc họp của Tiểu ban thương mại và đầu tư giữa hai nước nhằm cụ thể hoá các biện pháp đẩy mạnh khai thác tiềm năng kinh tế và tính bổ sung lẫn nhau, từng bước thuận lợi hoá các thủ tục hành chính, đưa việc quản lý biên mậu, đầu tư giữa hai nước phát triển một cách lành mạnh, góp phần duy trì và làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian tới.
Đầu tư trực tiếp (FDI) của Trung Quốc vào Việt Nam cho đến nay đứng thứ 15 trong số các nước và lãnh thổ đầu tư vào Việt Triển vọng những năm tới
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trong những năm tới có triển vọng tốt đẹp do đã hội tụ đầy đủ các yếu tố và điều kiện chủ quan, khách quan thuận lợi. Về chủ quan, quan hệ chính trị truyền thống tốt đẹp giữa hai nước đã được củng cố và phát triển trong 60 năm qua, là chỗ dựa vững chắc cho mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện về kinh tế trong những năm tới. Các văn kiện hợp tác kinh tế cấp Chính phủ, cấp ngành, cấp vùng, cấp địa phương và cấp doanh nghiệp đã được ký kết giữa hai nước đã và đang phát huy tác dụng tích cực, tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế triển khai các chương trình, dự án phù hợp với tiềm năng và thế mạnh mỗi bên. Về khách quan, Hiệp định Tự do thương mại ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), cả hai nước đều là thành viên của WTO, APEC và các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực khác, đang tạo thêm thuận lợi về thuế quan cho quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam. Việt Nam được coi là “đích đến” trong chiến lược thương mại và đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc. Kinh nghiệm phát triển của các tỉnh gần biên giới Việt Nam cho thấy, các doanh nghiệp Trung Quốc rất coi trọng thị trường Việt Nam, thí dụ tỉnh Quảng Đông. Một số học giả Trung Quốc nói thẳng rằng xét theo chu kỳ công nghệ thì nhiều doanh nghiệp của Quảng Đông, cũng như của những tỉnh khác có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, như Phúc Kiến chẳng hạn... đang có nhu cầu mở rộng thị trường ASEAN, trong đó quan trọng nhất là Việt Nam để di chuyển công nghệ và tiếp nhận thế hệ công nghệ cao hơn. Trong ASEAN, Việt Nam là địa chỉ thuộc loại tốt nhất. Trong tầm nhìn rộng hơn, xu hướng di chuyển đầu tư và thương mại với nỗ lực xây dựng “hai hành lang, một vành đai” phát triển kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, chiến lược “một trục, hai cánh” mà Trung Quốc muốn thiết lập với ASEAN. Hiện nay, xu hướng tăng giá đồng nhân dân tệ càng thúc đẩy quá trình này. Trong tầm nhìn chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam cũng rất cần mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá và thu hút vốn FDI từ Trung Quốc với công nghệ phù hợp. Dự báo tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất, nhập khẩu hai chiều Việt Nam - Trung Quốc 2011-2015 sẽ ở mức 15%/năm. Trung Quốc có đủ năng lực vật chất cũng như sự quan tâm chiến lược rộng lớn để triển khai các hoạt động “trên toàn tuyến”, cả đầu tư lẫn thương mại vào thị trường Việt Nam.Vì cho đến nay, môi trường đầu tư của Việt Nam vẫn được coi là “hấp dẫn” của Trung Quốc do sự ổn định về chính trị, là nước láng giềng,có biên giới với nhiều cửa khẩu quốc tế. Đối với các doanh nghiệp Trung Quốc ngày nay, quan trọng nhất là thị trường Việt Nam đang mang lại cho họ rất nhiều lợi ích
Hiện nay, việc Trung Quốc tiếp tục tăng giá đồng nhân dân tệ cộng với áp lực đòi tăng lương của người lao động trong nước, trong khi đó hàng hoá tồn đọng nhiều và tăng nhanh, khiến cho nhiều doanh nghiệp Trung Quốc dịch chuyển các nhà máy sang Việt Nam. Đó là một xu hướng gần như chắc chắn. Có thể chưa có sự gia tăng đột biến FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong thời gian trước mắt. Song, về lâu dài, sự tăng mạnh của dòng vốn FDI và hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc vào Việt Nam là xu hướng cần được tính đến./.
Người nghèo tại Mỹ và châu Âu  (30/09/2010)
Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhiệm kỳ 2006-2010  (30/09/2010)
Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhiệm kỳ 2006-2010  (30/09/2010)
Những thành tựu kinh tế- xã hội của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa  (30/09/2010)
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam thăm Hoa Kỳ  (30/09/2010)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm