Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
TCCS - Tính nhân dân là thuộc tính bản chất, xuyên suốt của Quốc hội Việt Nam, phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất với nhân dân - chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới giàu mạnh và thịnh vượng, đặc biệt sau thành công của Đại hội XIV và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp, việc tiếp tục phát huy và nâng cao tính nhân dân của Quốc hội đặt ra những yêu cầu mới, cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.
Về tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam
Tính nhân dân là thuộc tính cốt lõi, mang tính bản chất của Quốc hội Việt Nam, được hình thành từ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(1). Quan điểm này trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cho tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam từ ngày thành lập đến nay.
Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"(2). Với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất, Quốc hội thực hiện ba chức năng cơ bản: lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tất cả các chức năng này đều phải hướng tới mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân, phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Tính nhân dân của Quốc hội được biểu hiện trên nhiều phương diện. Thứ nhất, về nguồn gốc hình thành, Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín(3). Thứ hai, về cơ cấu thành phần, đại biểu Quốc hội đại diện cho các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các vùng miền, các thành phần xã hội. Thứ ba, về nội dung hoạt động, mọi quyết sách của Quốc hội đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân và đất nước. Thứ tư, về phương thức hoạt động, Quốc hội hoạt động công khai, minh bạch, gắn bó mật thiết với cử tri và chịu sự giám sát của nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc phát huy tính nhân dân của Quốc hội. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu "tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân"(4). Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trong đó Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân(5).
Thực trạng biểu hiện tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam hiện nay
Một là, hoạt động lập pháp ngày càng gắn với thực tiễn đời sống nhân dân. Năm 2025 đánh dấu kỷ lục trong công tác xây dựng pháp luật với việc Quốc hội thông qua 38 luật cùng nhiều nghị quyết quan trọng(6). Đặc biệt, ngày 16-6-2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp, tạo cơ sở hiến định cho việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới(7). Tư duy lập pháp đã chuyển biến mạnh mẽ theo hướng "công tác lập pháp phải đi trước, mở đường cho phát triển", thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động lập pháp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân.
Quốc hội đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ "điểm nghẽn", khơi thông nguồn lực, trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân, như các chính sách về phát triển năng lượng quốc gia, phát triển mạng lưới đường sắt đô thị, thành lập Trung tâm tài chính quốc tế, phê duyệt các Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ma túy, về phát triển văn hóa. Những chính sách này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Quốc hội đến lợi ích thiết thực của nhân dân.
Hai là, hoạt động giám sát được đổi mới theo hướng thực chất, hiệu quả hơn. Quốc hội đã thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 1-3-2026(8), tạo nền tảng pháp lý vững chắc để nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, bảo đảm tính liên thông giữa giám sát - kiến nghị - theo dõi - đôn đốc thực hiện. Lần đầu tiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức thành công Diễn đàn về hoạt động giám sát với chủ đề "Giám sát của Quốc hội để kiến tạo phát triển", khẳng định vai trò giám sát gắn với kiến nghị chính sách, trách nhiệm giải trình, tháo gỡ điểm nghẽn cho phát triển.
Ba là, mối liên hệ giữa Quốc hội với cử tri và nhân dân ngày càng được tăng cường. Hoạt động tiếp xúc cử tri được thực hiện thường xuyên, đa dạng hình thức, bao gồm cả trực tiếp và trực tuyến. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã thành công tốt đẹp(9), với 500 người trúng cử đều bảo đảm đủ tư cách, thể hiện sự tín nhiệm của Nhân dân đối với những người đại diện cho mình.
Bốn là, chuyển đổi số trong hoạt động của Quốc hội được đẩy mạnh, tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận thông tin và tham gia vào quá trình lập pháp. Lần đầu tiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết phê duyệt Đề án Chuyển đổi số của Quốc hội giai đoạn 2025 - 2030(10). Quốc hội là đơn vị tiên phong thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số", thể hiện tinh thần gần dân, sát dân trong thời đại công nghệ số.
Bên cạnh những thành tựu nổi bật, tính nhân dân của Quốc hội vẫn còn một số hạn chế cần được nhận diện và khắc phục.
Thứ nhất, chất lượng hoạt động của một bộ phận đại biểu Quốc hội chưa thực sự đáp ứng kỳ vọng của cử tri. Tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách tuy đã được nâng lên nhưng vẫn chưa đạt mức tối ưu. Một số đại biểu kiêm nhiệm còn hạn chế về thời gian, điều kiện nghiên cứu sâu các vấn đề lập pháp, dẫn đến chất lượng thảo luận, phản biện chưa cao.
Thứ hai, cơ chế tiếp thu, phản hồi ý kiến cử tri chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả. Mặc dù hoạt động tiếp xúc cử tri được duy trì thường xuyên, song còn tình trạng “hình thức hóa” ở một số nơi. Kênh tiếp nhận ý kiến của người dân về các dự án luật chưa phát huy hết hiệu quả, đặc biệt đối với nhóm dân cư ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ ba, một số sản phẩm lập pháp chưa bám sát thực tiễn đời sống, còn tình trạng luật ban hành nhưng khó đi vào cuộc sống do thiếu tính khả thi hoặc chưa lường hết tác động đến các nhóm đối tượng trong xã hội.
Thứ tư, hoạt động giám sát tuy đã có nhiều đổi mới song việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát ở một số lĩnh vực còn chưa quyết liệt, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý các trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kết luận giám sát.
Giải pháp nâng cao tính nhân dân của Quốc hội trong giai đoạn mới
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn, việc nâng cao tính nhân dân của Quốc hội cần tập trung thực hiện một số giải pháp:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội - yếu tố cốt lõi bảo đảm tính nhân dân. Đại biểu Quốc hội là cầu nối giữa nhân dân với cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Do đó, cần tiếp tục nâng cao tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách; tăng cường bồi dưỡng kỹ năng lập pháp, giám sát, tiếp xúc cử tri cho đại biểu; xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của đại biểu dựa trên kết quả thực tế và sự hài lòng của cử tri. Tổng Bí thư Tô Lâm đã đề nghị Quốc hội khóa XVI đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động để tăng cường hiệu quả, gần dân và phản ứng nhanh hơn(11).
Thứ hai, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác lập pháp theo hướng kiến tạo phát triển, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân làm trung tâm. Cần tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Mở rộng và nâng cao chất lượng lấy ý kiến nhân dân đối với các dự án luật có tác động rộng lớn đến đời sống xã hội, đặc biệt cần ứng dụng công nghệ số để tạo các nền tảng lấy ý kiến trực tuyến hiệu quả, bảo đảm mọi tầng lớp nhân dân đều có cơ hội tham gia đóng góp ý kiến. Thực hiện tốt yêu cầu “pháp luật phải tốt không chỉ trong văn bản mà còn phải tốt trong cuộc sống”.
Thứ ba, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao gắn với trách nhiệm giải trình. Trên nền tảng Luật Hoạt động giám sát (sửa đổi), cần triển khai đồng bộ các phương thức giám sát mới, trong đó đặc biệt chú trọng giám sát gắn với kiến nghị chính sách, hiệu quả thực thi. Cần xây dựng cơ chế "hậu giám sát" chặt chẽ, có chế tài rõ ràng đối với việc không thực hiện kết luận giám sát. Mở rộng kênh để nhân dân tham gia, phản ánh và giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua các nền tảng số.
Thứ tư, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri, tạo mối liên hệ thực chất, bền chặt giữa đại biểu Quốc hội với nhân dân. Cần đa dạng hóa hình thức tiếp xúc cử tri, kết hợp trực tiếp với trực tuyến; tổ chức tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, theo nhóm đối tượng để nắm bắt sâu sát hơn tâm tư, nguyện vọng của từng nhóm dân cư. Xây dựng hệ thống quản lý, theo dõi, phản hồi ý kiến cử tri công khai, minh bạch, có thời hạn trả lời rõ ràng, bảo đảm "không có ý kiến cử tri nào bị bỏ quên".
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của Quốc hội để nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận của nhân dân. Trên cơ sở Đề án Chuyển đổi số giai đoạn 2025 - 2030, cần xây dựng nền tảng "Quốc hội số" cho phép người dân theo dõi trực tuyến các phiên họp, tham gia góp ý kiến về các dự thảo luật, tra cứu thông tin hoạt động của đại biểu Quốc hội. Phát triển các ứng dụng di động thân thiện để cử tri có thể phản ánh ý kiến mọi lúc, mọi nơi, rút ngắn khoảng cách giữa Quốc hội và nhân dân trong không gian số.
Thứ sáu, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội, bảo đảm tính nhân dân luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội theo hướng tôn trọng và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Quốc hội, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa “ý Đảng và lòng dân” trong mọi quyết sách. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã nhấn mạnh tinh thần "phụng sự nhân dân bằng tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân"(12).
Tính nhân dân là thuộc tính bản chất, là sức mạnh, là nguồn lực quan trọng nhất của Quốc hội Việt Nam. Trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng đổi mới để ngày càng xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, phản ánh và bảo vệ ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Trong giai đoạn mới, với những yêu cầu phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, tính nhân dân của Quốc hội cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa trên tất cả các phương diện: từ chất lượng đại biểu, hoạt động lập pháp, giám sát tối cao đến mối liên hệ với cử tri và ứng dụng chuyển đổi số. Chỉ khi tính nhân dân được bảo đảm và không ngừng nâng cao, Quốc hội mới thực sự trở thành biểu tượng sinh động của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
--------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 6, tr. 232
(2) Điều 69, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
(3) Điều 6, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 174
(5) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
(6) Trong năm 2025, Quốc hội đã thông qua 38 luật và nhiều nghị quyết quan trọng
(7) Ngày 16-6-2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
(8) Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1-3-2026
(9) Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
(10) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết phê duyệt Đề án Chuyển đổi số của Quốc hội giai đoạn 2025 - 2030
(11) Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 6-4-2026
(12) Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ I của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Phát huy vai trò đối ngoại nghị viện trong triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng  (11/04/2026)
Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI dự kiến dành 2,5 ngày để xem xét công tác tổ chức, nhân sự  (03/04/2026)
XÃ LUẬN: Dưới cờ Đảng quang vinh, vững bước tiến mạnh vào kỷ nguyên mới  (16/03/2026)
Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng  (04/03/2026)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Thanh thiếu niên hai nước tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước*
- Tiếp cận toàn diện trong quản lý phát triển xã hội - Nhìn từ quan niệm và nội dung cốt lõi của các lý thuyết phát triển đương đại
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm