Về hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay

TS LƯƠNG HUYỀN THANH
Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
22:52, ngày 30-05-2026

TCCS - Thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật là hoạt động không chỉ đáp ứng nhu cầu cá nhân mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Do vậy, cần có cơ chế, chính sách phát triển phù hợp nhằm định hướng thẩm mỹ, nâng cao khả năng tiếp cận công bằng, lành mạnh cho nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và phu nhân thưởng lãm Nhã nhạc cung đình Huế, ngày 26-5-2025_Ảnh: baovanhoa.vn

Khái quát về hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật

Hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật

Thuật ngữ “thưởng thức văn học, nghệ thuật” xuất hiện sớm, gắn với mỹ học cổ điển, được hiểu là quá trình tiếp nhận, cảm thụ, chiêm nghiệm và đánh giá các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ được thể hiện trong tác phẩm văn học, nghệ thuật (VHNT), qua đó con người phát triển năng lực thẩm mỹ và hoàn thiện nhân cách. Khác với “thưởng thức”, thiên về hoạt động tinh thần, cảm xúc, “tiêu dùng văn học, nghệ thuật” nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội - kinh tế của quá trình tiếp nhận VHNT. Thuật ngữ này xuất hiện muộn hơn, có nguồn gốc từ lý thuyết tiêu dùng văn hóa trong xã hội học phương Tây giữa thế kỷ XX, được phát triển mạnh mẽ trong các công trình của Pierre Bourdieu và các nhà nghiên cứu văn hóa - xã hội học sau này. Theo Bourdieu, tiêu dùng văn hóa (chủ yếu gắn liền với lĩnh vực nghệ thuật, giải trí) là một hình thức tiêu thụ đặc biệt, trong đó con người tiếp nhận, thưởng thức và sử dụng các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, như sách, phim, ảnh, âm nhạc, sân khấu, triển lãm,… hay các hình thức biểu đạt thẩm mỹ khác. Khác với tiêu dùng vật chất đơn thuần, tiêu dùng văn hóa hướng đến giá trị tinh thần và thẩm mỹ, phản ánh năng lực cảm thụ, tri thức và vị thế xã hội của chủ thể. Thị hiếu và hành vi tiêu dùng văn hóa không phải là sự lựa chọn cá nhân thuần túy, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi vốn văn hóa, tập tính văn hóa và trường xã hội mà cá nhân thuộc về. Theo phân tích của Bourdieu, việc tiêu dùng văn hóa không chỉ là một hình thức đầu tư và biểu hiện vốn văn hóa, qua đó cá nhân khẳng định địa vị trong “trường xã hội” của mình mà còn có vai trò trong việc tái sản xuất vốn văn hóa, tái sản xuất cấu trúc xã hội(1). Trước những thay đổi mạnh mẽ của đời sống xã hội, các nghiên cứu về tiêu dùng văn hóa sau này đã mở rộng hơn, tuy nhiên những hiểu biết về tiêu dùng văn hóa mà Bourdieu cung cấp như sự khác biệt giữa tiêu dùng văn hóa với tiêu dùng vật chất; sự phân hóa trong thị hiếu và điều kiện tiêu dùng văn hóa; vai trò của tiêu dùng văn hóa trong tái sản xuất vốn văn hóa,… vẫn được xem là những kiến thức nền tảng để nghiên cứu về tiêu dùng văn hóa, trong đó có tiêu dùng VHNT - một bộ phận nhạy cảm và tinh tế của văn hóa.

Ở Việt Nam, các văn kiện của Đảng không trực tiếp dùng khái niệm “tiêu dùng văn học, nghệ thuật”, song nội hàm của khái niệm này được thể hiện xuyên suốt trong các chủ trương, đường lối phát triển văn hóa của Đảng. Các mục tiêu như “xây dựng đời sống văn hóa phong phú”, “chăm lo đáp ứng nhu cầu giáo dục và văn hóa”, hay “bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa của nhân dân” đã gián tiếp khẳng định hoạt động thưởng thức, tiêu dùng sản phẩm văn học, nghệ thuật là một nhu cầu tất yếu, phản ánh trình độ phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Ngay từ Đại hội VI - đại hội đầu tiên của thời kỳ đổi mới - Đảng ta đã khẳng định việc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, văn nghệ của nhân dân là một trong các nhiệm vụ quan trọng, bởi lẽ “không hình thái tư tưởng nào có thể thay được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”(2). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII xác định nhiệm vụ cụ thể là: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người” và “vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng”. Quan điểm này cũng được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân (Điều 60). Mọi người có quyền sáng tạo... văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40). Như vậy, từ phương diện lý luận và pháp lý, thưởng thức, tiêu dùng VHNT ở Việt Nam được khẳng định là một nội dung của quyền văn hóa, đồng thời là biểu hiện của sự phát triển con người, được Nhà nước bảo đảm bằng các chính sách phát triển phù hợp.

Quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật

Quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT là một khâu của quản lý văn hóa, có thể được hiểu là tổng thể các biện pháp, chính sách, cơ chế và công cụ mà Nhà nước và các tổ chức xã hội sử dụng nhằm điều tiết, định hướng, phát triển việc tiếp cận, tiếp nhận và tiêu dùng các sản phẩm VHNT của công chúng. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc ban hành các chính sách định hướng, thiết lập khung khổ pháp lý và tạo môi trường thuận lợi cho công chúng thưởng thức, tiêu dùng VHNT. Tuy nhiên, hiệu quả của quản lý không chỉ dựa trên quyền lực hành chính mà còn cần đến sự phối hợp và tham gia chủ động của cộng đồng sáng tạo, doanh nghiệp văn hóa, các tổ chức xã hội và công chúng trong quá trình thực thi chính sách.

Trong hệ thống quản lý văn hóa, hoạt động thưởng thức và tiêu dùng VHNT giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là khâu cuối của chuỗi sản xuất - phân phối - tiếp nhận các giá trị văn hóa, vừa là khâu mở đầu cho quá trình tái sản xuất văn hóa mới. Quản lý hiệu quả hoạt động này có vai trò quyết định trong định hướng thẩm mỹ xã hội, hình thành thị hiếu công chúng và phát triển thị trường văn hóa, nghệ thuật lành mạnh. Quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT, góp phần bảo đảm định hướng chính trị, tư tưởng và giá trị thẩm mỹ trong tiếp nhận sản phẩm VHNT. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin, sự đa dạng về hình thức và nội dung sản phẩm VHNT kéo theo nguy cơ lai tạp, thương mại hóa cực đoan, thậm chí xuyên tạc các giá trị truyền thống. Quản lý nhà nước, với vai trò điều tiết, kiểm soát và định hướng, giúp củng cố nền tảng tư tưởng xã hội, xây dựng môi trường văn hóa, nghệ thuật lành mạnh cho công chúng. Quản lý hoạt động thưởng thức và tiêu dùng VHNT còn thúc đẩy phát triển thị trường văn hóa trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách, quy hoạch mạng lưới thiết chế văn hóa, khuyến khích nhu cầu thưởng thức, tiêu dùng VHNT của người dân, điều tiết cân bằng giữa giá trị nghệ thuật và giá trị kinh tế, giữa cung - cầu trong đời sống xã hội; qua đó, tạo động lực cho sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm VHNT Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế. Quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT còn góp phần giáo dục, hoàn thiện nhân cách con người. Thông qua việc định hướng thẩm mỹ và xây dựng môi trường thưởng thức VHNT lành mạnh, cơ quan quản lý giúp công chúng nâng cao năng lực cảm thụ, phát triển năng lực tư duy phản biện và nâng cao chất lượng đời sống tinh thần. Mặt khác, quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT còn là khâu phản hồi quan trọng trong hệ thống quản lý văn hóa. Thông qua nghiên cứu, thống kê và đánh giá hành vi tiêu dùng VHNT, cơ quan quản lý có thể nắm bắt xu hướng thị hiếu, nhu cầu thẩm mỹ của công chúng, từ đó điều chỉnh chính sách sản xuất, đầu tư, quảng bá và giáo dục văn hóa, nghệ thuật phù hợp.

Nhận thức rõ điều đó, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT của công chúng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định: Không ngừng nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và trình độ thưởng thức nghệ thuật của công chúng, đặc biệt quan tâm tầng lớp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng. Tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực sáng tạo và phê bình, được hưởng thụ ngày càng nhiều tác phẩm văn nghệ có giá trị trong nước và ngoài nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” tiếp tục khẳng định: “Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên. Phát huy vai trò của văn học - nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người. Bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của mỗi người dân và của cộng đồng”(3); đồng thời nhấn mạnh việc bảo đảm công bằng về cơ hội và hưởng thụ văn hóa của người dân: “Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội”(4). Trong bối cảnh mới, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam” nhấn mạnh: “Bảo đảm đầy đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hóa, tiếp cận bình đẳng văn hóa; phát triển dịch vụ văn hóa, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của Nhân dân… thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân”(5). Như vậy, Đảng ta không chỉ coi trọng việc đáp ứng nhu cầu thưởng thức, tiêu dùng mà còn hướng tới việc nâng cao khả năng tiếp cận và phát triển năng lực thưởng thức, tiêu dùng VHNT của người dân.

Trước những biến động phức tạp, sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ số, yêu cầu đặt ra đối với công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa, VHNT ngày càng cấp bách. Đại hội XIII của Đảng định hướng công tác lãnh đạo, quản lý hoạt động VHNT, cụ thể là: “Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật…; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường”(6). Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng, phát triển văn học - nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hóa dân tộc và tầm vóc của công cuộc đổi mới… Nâng cao đời sống văn hóa, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp Nhân dân”(7). Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030” xác định rõ, một trong các nhiệm vụ cụ thể nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ nghệ thuật cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận, hưởng thụ, tham gia và sáng tạo văn hóa của mỗi người dân và cộng đồng thông qua các trung tâm văn hóa, nghệ thuật cùng với các thiết chế văn hóa khác như bảo tàng, thư viện… “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” cũng xác định rõ nhiệm vụ: Từng bước hình thành cộng đồng người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ văn hóa trong nước thông qua hoạt động quảng bá, nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa của công chúng; phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục của các đơn vị, tổ chức văn hóa nhằm phát triển công chúng, người tiêu dùng về năng lực hiểu biết, cảm thụ các sản phẩm, dịch vụ văn hóa.

Thực trạng quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay

Những chuyển biến tích cực

Thời gian qua, hệ thống pháp lý ở Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và các vấn đề liên quan từng bước được hoàn thiện. Công tác bảo hộ quyền tác giả ngày càng được chú trọng với việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2005) và các văn bản sửa đổi, bổ sung (như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, ngày 26-4-2023, của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan) đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ quyền của người sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 và Nghị định 17/2023/NĐ-CP tập trung vào các vấn đề phát sinh từ internet, bản quyền kỹ thuật số, các biện pháp bảo vệ quyền hiệu quả hơn, phản ánh sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài sản trí tuệ trong nền kinh tế số và sự cần thiết phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng cao. Điều này tạo ra một môi trường pháp lý ngày càng chặt chẽ và minh bạch cho việc sáng tạo và thụ hưởng các tác phẩm VHNT trong bối cảnh mới.

Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cho từng lĩnh vực như xuất bản, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh… cho phép quản lý chuyên sâu, phù hợp với đặc thù của từng loại hình nghệ thuật. Luật Điện ảnh (sửa đổi), Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Xuất bản, các nghị định về nghệ thuật biểu diễn, kiểm duyệt nội dung, quản lý các hoạt động trên môi trường mạng,… đã và đang được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn. Ví dụ, Luật Điện ảnh năm 2022 hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động điện ảnh trong bối cảnh mới, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng phổ biến phim trực tuyến, đồng thời đơn giản hóa một số thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà làm phim. Luật Xuất bản năm 2012 được Quốc hội khóa XIII ban hành ngày 20-11-2012 là văn bản pháp lý quan trọng điều chỉnh toàn bộ hoạt động xuất bản tại Việt Nam, trong đó xác định xuất bản là hoạt động văn hóa tư tưởng, nhằm truyền bá tri thức, giá trị văn hóa, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  Đặc biệt, Luật đã bổ sung các định nghĩa liên quan đến “xuất bản điện tử” và “xuất bản phẩm điện tử”, không chỉ mở rộng phạm vi điều chỉnh mà còn là thừa nhận chính thức các hình thức xuất bản mới, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động sáng tạo và phổ biến VHNT trên nền tảng kỹ thuật số. Luật cũng nghiêm cấm xuất bản phẩm có nội dung chống phá Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết, kích động chiến tranh, bạo lực, truyền bá tư tưởng phản động, lối sống đồi trụy, tiết lộ bí mật nhà nước, xuyên tạc lịch sử, vu khống, xúc phạm danh dự cá nhân, tổ chức. Đồng thời, các quy định về “lưu chiểu” đối với xuất bản phẩm điện tử cho thấy nỗ lực của Nhà nước trong việc duy trì quản lý nội dung chặt chẽ, ngay cả trong môi trường số, nhằm cân bằng giữa tự do sáng tạo và tuân thủ chuẩn mực xã hội…

Bên cạnh các quy định về kiểm soát nội dung và các hành vi bị cấm nhằm duy trì định hướng văn hóa - xã hội, Nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách khuyến khích, tài trợ, đặt hàng và bảo đảm quyền lợi vật chất cho người sáng tạo, nhằm thúc đẩy sự phát triển của VHNT; ban hành chính sách khuyến khích sáng tạo và phát triển không gian nghệ thuật mới như hỗ trợ các sự kiện văn hóa, nghệ thuật lớn (Liên hoan phim Việt Nam, Festival Huế, Tuần lễ văn hóa các dân tộc…), đồng thời tạo điều kiện cho các nghệ sĩ trẻ, nghệ thuật đương đại, mô hình triển lãm số,… phát triển.

Những năm gần đây, sản phẩm VHNT đã tăng đáng kể về số lượng và chất lượng nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức, tiêu dùng VHNT ngày càng cao và đa dạng của người dân. Theo thống kê trong 5 năm (2017 - 2022), các nhà sáng tác thuộc Trung tâm Hỗ trợ sáng tác VHNT (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã có 5.555 lượt văn nghệ sĩ tham gia các trại sáng tác, cho ra đời 19.157 tác phẩm, cụ thể: văn học có 9.654 tác phẩm; mỹ thuật 1.936 tác phẩm; nhiếp ảnh 4.311 tác phẩm; âm nhạc 1.258 tác phẩm; sân khấu 455 tác phẩm; điện ảnh 390 tác phẩm; kiến trúc 81 tác phẩm; văn nghệ dân gian 280 tác phẩm; văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số 447 tác phẩm; múa 315 tác phẩm(8). Nhiều tác phẩm, chương trình và sự kiện nghệ thuật được đầu tư chuyên nghiệp, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Năm 2025, chỉ tính riêng chuỗi chương trình nghệ thuật chính luận lớn trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thu hút số lượng lớn khán giả, tạo nên những ngày hội nghệ thuật rực rỡ, lan tỏa tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác quản lý hoạt động thưởng thức và tiêu dùng VHNT ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, bất cập và đang đứng trước không ít thách thức, nhất là sự phân hóa trong thị hiếu thẩm mỹ và khả năng tiếp cận hưởng thụ VHNT của công chúng. Ở các đô thị lớn, người dân có nhiều cơ hội trong việc tiếp cận các loại hình nghệ thuật hiện đại, tương tác với môi trường sáng tạo và công nghệ cao, thì tại nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biển, đảo, người dân vẫn ít có cơ hội tiếp cận do thiếu thiết chế văn hóa, điều kiện hạ tầng kỹ thuật và trình độ thẩm mỹ chưa được bồi dưỡng tương xứng. Bên cạnh đó, sự đa dạng hóa kênh truyền thông và nội dung nghệ thuật đã tạo ra hiện tượng “phân mảnh thị hiếu”, làm cho việc quản lý, định hướng và điều tiết hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn hóa trở nên khó khăn hơn.

Một trong những tồn tại của đời sống VHNT hiện nay là sự thiếu chọn lọc trong tiêu dùng văn hóa. Nhiều sản phẩm giải trí nặng tính thương mại, ít giá trị nghệ thuật vẫn được tiêu thụ rộng rãi, trong khi những tác phẩm mang giá trị nhân văn, nghệ thuật cao lại gặp khó trong việc tiếp cận công chúng. Đáng chú ý trong môi trường số hiện nay, hành vi tiêu dùng văn hóa không lành mạnh còn thể hiện qua việc một bộ phận người xem, người đọc tìm đến các nguồn nội dung phi chính thống như phim lậu, sách lậu, nền tảng phát tán trái phép sản phẩm VHNT. Hành vi này đã tiếp tay cho hoạt động vi phạm bản quyền, gây tổn hại cho các chủ thể sáng tạo, cho sự phát triển thị trường văn hóa, phá vỡ nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và cản trở sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp văn hóa. Về bản chất, đây là biểu hiện của sự mất cân đối giữa năng lực tiếp nhận thẩm mỹ và hành vi tiêu dùng VHNT trong xã hội đương đại khi công chúng chưa được trang bị đầy đủ tri thức, kỹ năng cần thiết để lựa chọn, đánh giá và tiêu dùng sản phẩm VHNT một cách có trách nhiệm.

Mặc dù hệ thống pháp luật về quản lý hoạt động thưởng thức và tiêu dùng VHNT ở Việt Nam đã có nhiều bước phát triển, song thực tế vẫn tồn tại không ít thách thức và bất cập trong quá trình thực thi. Việc thực thi pháp luật trong môi trường số còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề vi phạm bản quyền xuyên biên giới. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ (như trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo/thực tế tăng cường trong nghệ thuật) đòi hỏi pháp luật phải liên tục cập nhật để theo kịp. Cân bằng giữa tự do sáng tạo và kiểm soát nội dung vẫn là một vấn đề nhạy cảm, cần xem xét thận trọng. Việc cấp phép, kiểm duyệt vẫn còn biểu hiện máy móc, chưa bắt kịp tốc độ phát triển của thực tiễn, đặc biệt trong môi trường số, khiến nghệ sĩ và nhà sản xuất gặp khó khăn. Sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, khiến chính sách bị phân mảnh, thiếu tính liên thông và chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thống nhất về tiêu dùng văn hóa.

Một thách thức khác nằm ở việc thiếu chiến lược toàn diện về định hướng tiêu dùng VHNT bền vững. Việc định hướng thị hiếu người tiêu dùng thông qua giáo dục nghệ thuật trong nhà trường, truyền thông văn hóa, nghệ thuật trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến lúng túng trong tiếp cận VHNT của nhiều người, nhất là giới trẻ.

Sân khấu concert "Anh trai vượt ngàn chông gai" diễn ra tối ngày 14-12-2025 tại Hưng Yên_Ảnh: vnexpress.net

Những yêu cầu đặt ra đối với việc quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật trong bối cảnh mới

Thứ nhất, đổi mới tư duy và phương thức quản lý văn học, nghệ thuật theo hướng kiến tạo phát triển.

Trong bối cảnh mới hiện nay, quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT cần được định vị không chỉ như một công việc hành chính mà là một chức năng quản trị văn hóa mang tính chiến lược. Tư duy quản lý truyền thống thường nhấn mạnh vào kiểm soát, cấp phép và xử lý vi phạm không còn đáp ứng được sự vận động nhanh của thị trường văn hóa, nghệ thuật hiện nay. Thay vào đó, quản lý cần chuyển sang mô hình quản trị kiến tạo, chú trọng định hướng giá trị, phát triển thị trường văn hóa, nghệ thuật lành mạnh, hỗ trợ sáng tạo và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng của công chúng. Đổi mới tư duy còn bao hàm việc nhận thức lại mối quan hệ giữa quản lý và phát triển. Quản lý thưởng thức, tiêu dùng VHNT không chỉ là kiểm soát thị hiếu mà phải hướng tới xây dựng văn hóa thưởng thức nghệ thuật, tức là hình thành công chúng có năng lực thẩm mỹ, biết chọn lọc, cảm thụ và tôn trọng giá trị nghệ thuật.

Thứ hai, gắn quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng văn học, nghệ thuật với quản lý phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo.

Sự gia tăng nhanh chóng của nhu cầu tiêu dùng VHNT trong những năm gần đây là một chỉ báo cho thấy thị trường văn hóa Việt Nam đang bước vào giai đoạn sôi động với sự tham gia của nhiều chủ thể như nhà nước, doanh nghiệp, nghệ sĩ, tổ chức xã hội và người tiêu dùng. Trước thực tiễn đó, quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT cần gắn liền với mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, coi đây vừa là hoạt động tinh thần, vừa là lĩnh vực sản xuất, kinh doanh đặc thù. Quản lý cần bảo đảm sự cân bằng giữa giá trị nghệ thuật và lợi ích kinh tế, khuyến khích sáng tạo nhưng không thương mại hóa cực đoan. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý về bản quyền, sở hữu trí tuệ, bảo vệ nghệ sĩ… Việc thúc đẩy các mô hình hợp tác công - tư, đầu tư xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp văn hóa sáng tạo là yêu cầu tất yếu nhằm tạo nguồn cung đa dạng cho nhu cầu thưởng thức, tiêu dùng VHNT của công chúng. Tuy nhiên, quản lý nhà nước vẫn đóng vai trò định hướng giá trị, ngăn ngừa xu hướng tầm thường hóa, lai căng hoặc mất bản sắc trong sáng tạo và tiêu dùng sản phẩm VHNT.

Thứ ba, tăng cường quản lý trong không gian số và bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa.

Công nghệ số và internet đã làm thay đổi căn bản cách thức công chúng tiếp cận và tiêu dùng VHNT. Các nền tảng trực tuyến như YouTube, Netflix, Spotify, Tiki, Waka hay các phương tiện truyền thông xã hội như TikTok, Facebook,… đang trở thành không gian tiêu dùng văn hóa, nghệ thuật chủ đạo của giới trẻ. Sự phát triển này mở ra cơ hội mở rộng dân chủ hóa tiếp cận văn hóa cũng như các tác phẩm VHNT, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn cho quản lý khi thông tin tràn lan, sản phẩm “rác” gia tăng, vi phạm bản quyền phổ biến và nguy cơ lệch chuẩn thẩm mỹ. Do đó, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là cần thực hiện chuyển đổi số trong quản lý văn hóa. Nhà nước cần xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa quốc gia, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong việc giám sát, dự báo xu hướng tiêu dùng văn hóa nói chung và VHNT nói riêng, đồng thời hoàn thiện pháp luật về an ninh văn hóa mạng, bản quyền số và trách nhiệm của nền tảng trung gian. Quản lý trong bối cảnh toàn cầu hóa còn đòi hỏi khả năng hợp tác quốc tế về quản trị văn hóa số, nhất là trong việc chia sẻ dữ liệu, bảo vệ quyền lợi tác giả, quyền lợi người tiêu dùng và kiểm soát nội dung xuyên biên giới.

Thứ tư, định hướng giá trị thẩm mỹ và bồi dưỡng năng lực tiếp nhận văn hóa của công chúng.

Công tác quản lý cần chú trọng nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ, định hướng giá trị cho người tiêu dùng văn hóa cũng như tiêu dùng VHNT. Việc xây dựng công chúng văn hóa, nghệ thuật, hình thành năng lực tiếp nhận và thưởng thức văn hóa, VHNT có chiều sâu phải trở thành một nội dung trọng tâm của công tác quản lý. Điều này có thể thực hiện thông qua việc đổi mới giáo dục VHNT trong nhà trường, đẩy mạnh truyền thông văn hóa, tổ chức các chương trình nghệ thuật công cộng và khuyến khích các không gian sáng tạo cộng đồng.

Thứ năm, tăng cường phối hợp đa chủ thể và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý.

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập mạnh mẽ hiện nay, quản lý hoạt động thưởng thức, tiêu dùng VHNT không thể chỉ dựa vào vai trò đơn tuyến của Nhà nước. Cần hình thành mô hình quản trị đa chủ thể, trong đó Nhà nước đóng vai trò định hướng và điều tiết, còn doanh nghiệp, nghệ sĩ, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và công chúng cùng tham gia giám sát, phản biện và phát triển thị trường. Để làm được điều đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về văn hóa nói chung và VHNT nói riêng về đầu tư, thuế, hỗ trợ sáng tạo và cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng VHNT. Đồng thời, cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, tăng cường đào tạo về quản trị công nghiệp sáng tạo, marketing và truyền thông văn hóa. Một nền quản trị văn hóa hiện đại phải vừa linh hoạt - thích ứng - dự báo, vừa giữ vững định hướng chính trị - tư tưởng - thẩm mỹ trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của môi trường toàn cầu.

Như vậy, trong bối cảnh mới, quản lý hoạt động thưởng thức và tiêu dùng VHNT không dừng ở cấp độ kiểm soát, mà cần phát triển theo hướng hỗ trợ, đồng hành, kiến tạo môi trường sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận VHNT của công chúng, bảo đảm quyền tiếp cận công bằng và phát huy vai trò của VHNT như một nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, một biểu hiện của sức mạnh mềm quốc gia. Đây là định hướng quan trọng để phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới./.

----------------------------

(1) Xem: Bourdieu, P: Distinction: A social critique of the judgment of taste (Sự phân biệt: Phê phán xã hội học về năng lực phán đoán thẩm mỹ), Cambridge, MA: Harvard University Press, 1984; Bourdieu, P: The rules of art. Genesis and structure of the literary field (Những quy tắc của nghệ thuật: Sự hình thành và cấu trúc của trường văn học), Stanford, CA: Stanford University Press, 1996
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 129
(3) Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014, tr. 50
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 128
(5) Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 145
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 97, 98, 99
(8) Xem: Thụy Phương: “Hơn 19 nghìn tác phẩm ra đời từ các nhà sáng tác, giai đoạn 2017 - 2022”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 17-8-2025, https://nhandan.vn/hon-19-nghin-tac-pham-ra-doi-tu-cac-nha-sang-tac-giai-doan-2017-2022-post901453.html