Tiếp biến văn hóa ở cấp độ cá nhân - Phân tích trường hợp Alexandre Yersin ở Nha Trang, Khánh Hòa
TCCS - Alexandre Yersin (1863 - 1943) là nhà khoa học người Pháp gốc Thụy Sĩ, có nhiều đóng góp lớn cho ngành y học Việt Nam cũng như thế giới. Ông đã sống, làm việc tại Nha Trang, Khánh Hòa hơn 50 năm và quyết định chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai cho mình. Từ góc độ nghiên cứu tiếp biến văn hóa, trường hợp Alexandre Yersin có thể coi là một biểu hiện đặc thù của tiếp biến văn hóa ở cấp độ cá nhân.
Tiếp biến văn hóa là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử nhân loại. Tiếp biến văn hóa diễn ra khi các nhóm người có nền văn hóa khác nhau tiếp xúc liên tục, từ đó dẫn đến sự thay đổi trong mô thức văn hóa của một hoặc cả hai nhóm(1). Tiếp biến văn hóa như một hiện tượng gắn với giao lưu, tiếp nhận, biến đổi và tái cấu trúc văn hóa trong lịch sử(2). Tiếp biến văn hóa không chỉ là sự vay mượn hoặc tiếp nhận một số yếu tố văn hóa bên ngoài, mà còn là một quá trình phức hợp, trong đó các chủ thể văn hóa lựa chọn, điều chỉnh, thích nghi và tái định nghĩa những yếu tố ngoại lai trong bối cảnh xã hội cụ thể. Cách tiếp cận này cho phép nhìn nhận tiếp biến văn hóa không phải như sự hòa tan bản sắc, mà như một quá trình tương tác hai chiều, nơi các giá trị, chuẩn mực và thực hành văn hóa được thương lượng liên tục, ở cấp độ cộng đồng và cấp độ cá nhân. Vì vậy, nghiên cứu tiếp biến văn hóa không chỉ quan tâm đến kết quả biến đổi, mà còn đến chủ thể, điều kiện lịch sử và quan hệ quyền lực chi phối quá trình biến đổi đó.
Trong không gian thuộc địa, quan hệ giữa bên thống trị và bên bị trị thường tạo ra những bất đối xứng về quyền lực, tri thức, vị thế và khả năng áp đặt chuẩn mực. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa mọi hình thức tiếp xúc văn hóa trong bối cảnh này đều chỉ là sự áp đặt một chiều. Trong những trường hợp cụ thể, cá nhân vẫn có thể trở thành chủ thể trung gian, thông qua hành vi ứng xử, thực hành nghề nghiệp và quan hệ cộng đồng để làm giảm tính đối kháng, chuyển hóa tri thức ngoại lai thành những giá trị có ích cho đời sống bản địa.
Alexandre Yersin đến Đông Dương vào cuối thế kỷ XIX, trong bối cảnh Việt Nam đã bước vào thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến. Đây là giai đoạn sự tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa phương Tây diễn ra trong điều kiện lịch sử phức tạp, vừa gắn với quá trình du nhập tri thức khoa học, kỹ thuật và y học hiện đại, vừa chịu sự chi phối của quan hệ quyền lực giữa chính quyền thuộc địa và xã hội bản địa. Bối cảnh này là tiền đề quan trọng để nhận diện tính chất đặc thù của trường hợp Yersin, một chủ thể phương Tây hiện diện trong cấu trúc thuộc địa, nhưng lại được cộng đồng địa phương tiếp nhận thông qua những thực hành xã hội cụ thể.
Quá trình gắn bó của Yersin với cư dân địa phương được xem như một quá trình tiếp biến văn hóa ở cấp độ cá nhân, trong đó chủ thể vừa mang theo vốn tri thức, khoa học và văn hóa phương Tây, vừa từng bước thích nghi, tham gia vào đời sống địa phương và được cộng đồng bản địa tiếp nhận. Chính ở đây, tiếp biến văn hóa không chỉ biểu hiện như sự thích nghi, mà còn như một quá trình thương lượng văn hóa, trong đó cá nhân góp phần kết nối khác biệt và kiến tạo những giá trị nhân văn trong điều kiện lịch sử bất đối xứng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh này, các quá trình tiếp biến văn hóa vẫn diễn ra với nhiều sắc thái phức tạp. Sự hiện diện của người Pháp ở Việt Nam không chỉ gắn với bộ máy cai trị, quân sự và khai thác thuộc địa, mà còn đi cùng với một số thiết chế khoa học, y tế, giáo dục và kỹ thuật hiện đại. Những thiết chế này, dù nằm trong cấu trúc thuộc địa, vẫn tạo ra một số không gian tiếp xúc mới giữa tri thức phương Tây và đời sống bản địa.
Nha Trang, Khánh Hòa cuối thế kỷ XIX là một không gian có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình tiếp xúc văn hóa. So với các trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa lớn, như Hà Nội, Sài Gòn hay Huế, Nha Trang khi đó vẫn là một vùng ven biển với quy mô dân cư còn ít, đời sống kinh tế chủ yếu gắn với ngư nghiệp, nông nghiệp và giao thương ven biển. Đặc điểm địa lý - xã hội này tạo nên một không gian tiếp xúc tương đối mở, nơi quan hệ giữa người ngoại quốc và cư dân bản địa có thể diễn ra thông qua những tương tác gần gũi, thường nhật và trực tiếp hơn. Đây là điều kiện quan trọng để xem xét quá trình hình thành mối quan hệ giữa Yersin và cư dân địa phương.
Sự hiện diện của Alexandre Yersin tại Nha Trang gắn liền với Viện Pasteur - một thiết chế khoa học mang dấu ấn phương Tây trong bối cảnh thuộc địa. Tuy nhiên, cộng đồng địa phương nhắc đến Yersin không phải trong vai trò một viên chức thuộc địa, mà là một nhà khoa học, bác sĩ, nhà thám hiểm và người thực hành y học gắn bó với đời sống nhân dân. Không chỉ đem tri thức khoa học phương Tây đến không gian bản địa, Yersin còn từng bước thiết lập quan hệ gần gũi với cư dân địa phương thông qua hoạt động khám, chữa bệnh, hỗ trợ đời sống, quan sát tự nhiên, nghiên cứu khí hậu, nông nghiệp và thám hiểm các vùng đất mới(3).
Trường hợp Alexandre Yersin có thể được tiếp cận gần với dạng thức “hội nhập” - là chiến lược tiếp biến mà trong đó chủ thể vẫn duy trì những yếu tố căn bản của văn hóa gốc, tham gia, thích nghi và thiết lập quan hệ tích cực với môi trường văn hóa mới(4). Yersin không từ bỏ căn tính của một nhà khoa học phương Tây, ông gắn bó với y học thực nghiệm, nghiên cứu vi sinh, thám hiểm và các thiết chế khoa học hiện đại, nhưng lại từng bước thích nghi với đời sống bản địa, tạo dựng mối quan hệ gần gũi với cư dân Nha Trang, Khánh Hòa, được người dân nơi đây tiếp nhận như một nhân vật thân thuộc trong ký ức văn hóa của họ.
Biểu hiện của quá trình tiếp biến này là sự thích nghi trong đời sống thường nhật và quan hệ xã hội. Yersin không sống biệt lập trong không gian khép kín của người châu Âu, mà duy trì quan hệ trực tiếp với cư dân địa phương, nhất là những người dân nghèo ở khu vực Xóm Cồn. Ông học và sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, sống giản dị, gần gũi, thường xuyên khám chữa bệnh, giúp đỡ người dân và quan tâm đến đời sống của trẻ em địa phương(5). Dưới góc độ văn hóa học, những hành vi này không chỉ phản ánh phẩm chất cá nhân, mà còn là biểu hiện của quá trình thích nghi văn hóa. Thông qua giao tiếp, lối sống và ứng xử thường ngày, Yersin từng bước điều chỉnh khoảng cách giữa một người phương Tây với cộng đồng bản địa, từ đó tạo nền tảng xã hội cho sự tiếp nhận văn hóa hai chiều.
Một chỉ dấu quan trọng của quá trình tiếp biến là việc người dân địa phương gọi Yersin bằng những tên thân mật, như “ông Năm”, “bác Năm”. Trong văn hóa Việt Nam, hệ thống xưng hô không chỉ dùng để định danh, mà còn thể hiện vị trí của cá nhân trong mạng lưới quan hệ thân tộc, cộng đồng và tình cảm xã hội. Khi gọi Yersin là “bác Năm”, người dân địa phương đã chuyển hóa hình ảnh một người ngoại quốc thành một nhân vật gần gũi trong hệ quy chiếu văn hóa bản địa.
Biểu hiện thứ hai là sự chuyển hóa tri thức khoa học phương Tây thành những thực hành phục vụ đời sống cộng đồng địa phương. Với tư cách bác sĩ và nhà khoa học, Yersin không chỉ tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hay trong khuôn khổ Viện Pasteur, mà còn vận dụng tri thức khoa học vào những nhu cầu cụ thể của cư dân. Các hoạt động như khám, chữa bệnh, quan sát khí tượng, cảnh báo bão, hỗ trợ nước sạch và giúp người dân cải thiện điều kiện sinh hoạt cho thấy, tri thức khoa học phương Tây trong trường hợp Yersin không chỉ là biểu tượng của ưu thế tri thức hiện đại trong bối cảnh thuộc địa, mà còn được chuyển hóa thành nguồn lực xã hội có ích cho cộng đồng.
Biểu hiện thứ ba là sự lựa chọn vị thế văn hóa của Yersin trong môi trường thuộc địa. Trong bối cảnh đó, người châu Âu thường được đặt ở vị thế cao hơn trong cấu trúc xã hội, dễ hình thành khoảng cách với cư dân bản địa. Tuy nhiên, Yersin không tự định vị mình như một viên chức thuộc địa, mà như một người làm khoa học và một bác sĩ gắn bó với đời sống nhân dân. Ông thường tránh các cuộc hội hè của người Pháp hoặc người Việt thuộc tầng lớp trên, nhưng lại sẵn sàng hòa nhập với đời sống người dân địa phương ở Nha Trang(6). Lựa chọn này cho thấy sự tiếp biến văn hóa ở Yersin không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là kết quả của những lựa chọn ứng xử có ý thức. Ông không đứng hoàn toàn bên ngoài cộng đồng bản địa, cũng không đánh mất căn tính khoa học phương Tây, mà xác lập một vị thế trung gian giữa hai không gian văn hóa.
Biểu hiện thứ tư là sự tiếp nhận Yersin trong ký ức văn hóa của cộng đồng địa phương. Sau khi ông qua đời, hình ảnh Yersin tiếp tục được người dân Nha Trang, Khánh Hòa lưu giữ qua các địa danh, câu chuyện, cách gọi và thực hành tưởng niệm. Ngôi nhà của ông được người dân gọi là “Lầu ông Năm”, hoặc “Nhà Trắng”, trở thành một dấu chỉ không gian gắn với ký ức địa phương(7). Yersin đã vượt ra ngoài vị thế của một người ngoại quốc từng sống ở Việt Nam, được ghi nhớ như một chủ thể có đóng góp cho đời sống địa phương, trở thành một phần của ký ức văn hóa Nha Trang, Khánh Hòa.
Từ các biểu hiện trên có thể thấy, quá trình tiếp biến văn hóa trong trường hợp Yersin không phải là sự tiếp nhận một chiều từ văn hóa bản địa, cũng không phải là sự áp đặt đơn tuyến của văn hóa phương Tây. Đó là một quá trình tương tác hai chiều, Yersin thích nghi với môi trường văn hóa địa phương, cộng đồng bản địa cũng tiếp nhận, gọi tên, ghi nhớ và tái định vị ông trong hệ thống văn hóa của mình. Sự vận động hai chiều này làm cho trường hợp Yersin có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu tiếp biến văn hóa. Tiếp biến không chỉ là sự biến đổi của cộng đồng khi tiếp xúc với yếu tố ngoại lai, mà còn là quá trình cá nhân thương lượng vị thế, tái cấu trúc quan hệ xã hội và góp phần hình thành các giá trị văn hóa mới. Trong điều kiện có bất đối xứng quyền lực, tiếp biến còn là quá trình thương lượng về vị thế xã hội, đạo đức nghề nghiệp và quan hệ cộng đồng. Cá nhân không chỉ lựa chọn giữa giữ gìn hay từ bỏ bản sắc văn hóa gốc, mà còn phải định vị mình trong một không gian quyền lực phức tạp. Với Yersin, bản sắc khoa học phương Tây không đối lập với sự gắn bó cùng cộng đồng bản địa, trái lại, chính vốn tri thức ấy được ông chuyển hóa thành phương tiện để xây dựng quan hệ nhân văn với người dân địa phương.
Từ trường hợp Alexandre Yersin có thể rút ra một số gợi mở quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu tiếp biến văn hóa:
Về phương diện lý thuyết, thứ nhất, trường hợp Alexandre Yersin là một biểu hiện của tiếp biến văn hóa kiểu thương lượng ở cấp độ cá nhân. Dạng tiếp biến này diễn ra khi cá nhân, trong điều kiện chịu sự ràng buộc của bối cảnh lịch sử và quan hệ quyền lực mất cân bằng, vẫn có khả năng lựa chọn cách ứng xử văn hóa nhằm kết nối các hệ giá trị khác biệt. Ở đây, thương lượng không chỉ là sự thỏa hiệp giữa hai nền văn hóa, mà là quá trình cá nhân chủ động điều chỉnh hành vi, tái định nghĩa tri thức và kiến tạo quan hệ xã hội mới. Chính vì thế, Yersin không chỉ là một nhà khoa học phương Tây từng sống ở Việt Nam, mà còn là một chủ thể văn hóa góp phần làm giảm căng thẳng của bối cảnh thuộc địa bằng các thực hành cụ thể, bền bỉ và giàu tính nhân văn.
Thứ hai, trường hợp Yersin nằm ở không gian văn hóa lai ghép (hybrid). Không gian này không hoàn toàn thuộc về văn hóa phương Tây, cũng không hoàn toàn thuộc về văn hóa bản địa, mà được hình thành từ các tương tác cụ thể trong đời sống thường nhật. Đó là nơi tri thức khoa học phương Tây gặp gỡ nhu cầu sinh hoạt của cư dân Nha Trang, Khánh Hòa, nơi một bác sĩ châu Âu được gọi bằng tên thân mật “bác Năm”, nơi các thực hành khám chữa bệnh, cảnh báo bão, hỗ trợ nước sạch, quan tâm đến trẻ em và dân nghèo trở thành cầu nối giữa hai hệ giá trị văn hóa khác nhau. Không gian này cho thấy tiếp biến văn hóa không chỉ diễn ra trong các thiết chế lớn, mà còn được kiến tạo từ những hành vi cụ thể, bền bỉ và có ý nghĩa xã hội.
Thứ ba, trường hợp Yersin giúp nhận diện rõ hơn quá trình tái cấu trúc bản sắc cá nhân trong điều kiện giao thoa văn hóa. Yersin không trở thành một người Việt theo nghĩa từ bỏ căn tính phương Tây, nhưng ông cũng không còn là một người phương Tây xa lạ trong ký ức địa phương. Hình ảnh của ông được cộng đồng Nha Trang, Khánh Hòa tiếp nhận, gọi tên, lưu giữ và bản địa hóa qua các câu chuyện, địa danh, tên đường, tên trường, tên công viên, bệnh viện, cách xưng hô và thực hành tưởng niệm…, trở thành một phần của ký ức văn hóa địa phương.
Về phương diện thực tiễn, trường hợp Yersin gợi mở bài học quan trọng trong ứng xử văn hóa và giao lưu quốc tế hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, giao lưu văn hóa sẽ bền vững khi không dừng lại ở sự hiện diện hình thức của các yếu tố ngoại lai, mà được chuyển hóa thành sự hiểu biết, tôn trọng, đối thoại và chia sẻ lợi ích với cộng đồng tiếp nhận. Một chủ thể ngoại lai có thể được cộng đồng bản địa tiếp nhận tích cực, khi tri thức, năng lực và vị thế xã hội của cá nhân được sử dụng để phục vụ đời sống con người, thay vì củng cố khoảng cách quyền lực.
Trường hợp Alexandre Yersin còn có ý nghĩa đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị ký ức văn hóa địa phương. Ký ức về Yersin ở Nha Trang, Khánh Hòa không chỉ là ký ức về một nhà khoa học nổi tiếng, mà còn là ký ức về một mô hình quan hệ văn hóa dựa trên sự gần gũi, trách nhiệm xã hội và tinh thần nhân văn. Nếu được tiếp cận đúng hướng, di sản ký ức này có thể trở thành nguồn lực cho giáo dục lịch sử - văn hóa, phát triển du lịch văn hóa, xây dựng hình ảnh địa phương và thúc đẩy đối thoại văn hóa Việt - Pháp trong bối cảnh mới. Việc phát huy giá trị Yersin không chỉ dừng ở việc tôn vinh tiểu sử một cá nhân, mà cần đặt trong mạch giao lưu, tiếp biến và chia sẻ giá trị giữa các nền văn hóa.
Phân tích trường hợp Alexandre Yersin tại Nha Trang, Khánh Hòa cho thấy, tiếp biến văn hóa không chỉ là quá trình biến đổi diễn ra giữa các cộng đồng hay nhóm xã hội, mà còn có thể được nhận diện ở cấp độ chủ thể cá nhân. Có thể xem Yersin là một trường hợp đặc thù của dạng thức hội nhập, ông không từ bỏ căn tính khoa học phương Tây, nhưng cũng từng bước thích nghi, gắn bó và được cộng đồng bản địa tiếp nhận. Đây là cơ sở để nhìn nhận giao lưu văn hóa không chỉ như sự trao đổi giữa các nền văn minh, mà còn như quá trình nhân văn hóa các quan hệ xã hội thông qua hành động cụ thể của con người./.
---------------------
(1) Xem: Redfield, R., Linton, R., & Herskovits, M. J.: “Memorandum for the study of acculturation” (Tạm dịch: Bản ghi nhớ về nghiên cứu sự giao thoa văn hóa), American Anthropologist, 1936, 38(1), tr. 149 - 152, https://doi.org/10.1525/aa.1936.38.1.02a00330
(2) Xem: Trần Quốc Vượng (chủ biên): Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 1996, tr. 161 - 190
(3) Xem: Mollaret, Henri H., & Brossollet, Jacqueline (Nguyễn Việt Hồng dịch): Alexandre Yersin, người chiến thắng bệnh dịch hạch, Nxb. Thông tin, 1991; Nguyễn Đình Tư: Non nước Khánh Hòa, Nxb. Sông Lam, 1969
(4) Xem: Berry, John W.: “Acculturation: Living successfully in two cultures” (Tạm dịch: Sống thành công trong hai nền văn hóa), International Journal of Intercultural Relations, 2005, 29(6), tr. 697 - 712, https://doi.org/10.1016/j.ijintrel.2005.07.013
(5) Xem: Deville, P. (Đặng Thế Linh dịch): Yersin: Dịch hạch và thổ tả, Nxb. Trẻ, 2013
(6) Xem: Mollaret, Henri H., & Brossollet, Jacqueline (Nguyễn Việt Hồng dịch): Alexandre Yersin, người chiến thắng bệnh dịch hạch, Nxb. Thông tin, 1991
(7) Xem: Vassal, G. M. C. (Nguyễn Nam Huân dịch): Ba năm ở An Nam hay Nha Trang 100 năm trước, Nxb. Hội Nhà văn, 2015
- Hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam hiện nay
- Phát huy truyền thống hào hùng của phụ lão ái quốc
- Lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam: Phát huy truyền thống anh hùng trong kỷ nguyên mới
- "Sức mạnh mềm" văn hóa trong quan hệ Việt Nam - Philippines: Từ tương đồng giá trị đến tin cậy chiến lược
- Quan hệ Việt Nam - Philippines: Từ nền tảng đối tác chiến lược đến không gian hợp tác mới
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm