Thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển của đất nước
TCCS - Hạnh phúc của nhân dân vừa là đích hướng tới, vừa là động lực nội sinh của quá trình phát triển đất nước. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc nhận thức và quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất, tiếp tục khẳng định sự nhất quán trong tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm. Để hiện thực hóa mục tiêu này cần có sự tham gia đồng bộ của toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Hạnh phúc - thước đo chất lượng phát triển và định hướng giá trị của quốc gia
Hạnh phúc là một khái niệm có nhiều quan niệm khác nhau, khó xác định một cách tuyệt đối, bởi luôn chịu sự chi phối của bối cảnh văn hóa - xã hội, trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống và hệ giá trị của mỗi quốc gia. Do đó, cách hiểu về hạnh phúc luôn vận động, biến đổi theo tiến trình phát triển của xã hội loài người. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, khi các điều kiện vật chất, thiết chế xã hội và nhận thức của con người thay đổi, nội hàm “hạnh phúc” cũng được mở rộng, phản ánh những ưu tiên và kỳ vọng mới của con người đối với cuộc sống.
Xuất phát từ khát vọng thường trực của con người về mưu cầu hạnh phúc, vấn đề này đã được tiếp cận từ nhiều phương diện, trong đó nổi bật là phương diện triết học. Với phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã tạo ra bước chuyển căn bản trong nhận thức lý luận về nội hàm “hạnh phúc”. Khác với các quan niệm mang tính thần bí, duy tâm của tôn giáo, triết học Mác khẳng định, con người cần được hạnh phúc trong thực tại. Đồng thời, vượt lên quan điểm cho rằng hạnh phúc là sự thụ hưởng mang tính cá nhân thuần túy, C. Mác nhấn mạnh tính xã hội của hạnh phúc khi cho rằng, người đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất thì đó là người hạnh phúc nhất. Cách tiếp cận này không chỉ khẳng định bản chất xã hội của nội hàm “hạnh phúc”, mà còn gắn hạnh phúc cá nhân với lợi ích cộng đồng và sự phát triển chung của xã hội.
Trên bình diện nghiên cứu hiện đại, nhiều học giả phương Tây cho rằng, hạnh phúc thường được tiếp cận như sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân trong một bối cảnh xã hội cụ thể, bao gồm cả nhu cầu vật chất, tinh thần và các điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội. Theo đó, hạnh phúc gắn liền với mức độ con người cảm nhận và đánh giá tích cực về cuộc sống của mình trên cơ sở so sánh giữa những kết quả đạt được và kỳ vọng mong muốn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, cách hiểu này đã mở rộng, không còn bị giới hạn trong sự thỏa mãn vật chất đơn thuần, mà bao hàm những giá trị rộng hơn như sự an toàn, sự gắn kết xã hội, cơ hội phát triển cá nhân, chất lượng môi trường sống và khả năng tự chủ. Điều này cho thấy, “hạnh phúc” ngày càng được nhìn nhận như một khái niệm đa chiều, phản ánh chất lượng tổng thể của đời sống con người trong một xã hội nhất định.
Ở Việt Nam, nhận thức lý luận về nội hàm “hạnh phúc” ngày càng tiệm cận với các giá trị của nhân loại, song có sự tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, đặc biệt được xác định là một trong những giá trị cốt lõi trong hệ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối xuyên suốt của Đảng. Đây là sự phát triển nhận thức lý luận quan trọng, soi đường cho việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong thực tiễn. Theo đó, “hạnh phúc” được hiểu là mục tiêu đạt được trạng thái tích cực tương đối ổn định, trong đó cảm xúc tích cực chiếm ưu thế so với cảm xúc tiêu cực và được củng cố thông qua các trải nghiệm nhận thức của con người. Nói cách khác, “hạnh phúc” là mức độ hài lòng tổng thể của con người đối với cuộc sống, là sự kết hợp giữa yếu tố chủ quan (nhận thức, cảm xúc, kỳ vọng) và các điều kiện khách quan (thể chế, kinh tế, xã hội, môi trường).
Từ những luận giải trên có thể thấy, “hạnh phúc” không chỉ là phạm trù mang tính triết học - xã hội mà đang ngày càng được xác định như một mục tiêu phát triển ở cấp độ quốc gia. Việc nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với cuộc sống trở thành một tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng và tính bền vững của quá trình phát triển. Điều này không chỉ thể hiện bước tiến trong tư duy phát triển, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản cách tiếp cận trong hoạch định chính sách thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”, lấy con người làm trung tâm, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường. Qua đó, hướng tới xây dựng một xã hội phát triển bền vững, nơi mọi người dân đều có điều kiện và cơ hội thực chất để mưu cầu và thụ hưởng hạnh phúc.
Quá trình phát triển tư duy của Đảng về thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”
Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với hạnh phúc của nhân dân luôn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(1). Quan niệm đó không chỉ thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc, mà còn khẳng định rõ bản chất vì con người của con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội mà cách mạng Việt Nam đã lựa chọn.
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là đích đến cao nhất của sự phát triển. Cùng với sự vận động của thực tiễn và sự phát triển của tư duy lý luận, nhận thức của Đảng về thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, từ chỗ gắn với yêu cầu bảo đảm những điều kiện sống cơ bản đến việc xác lập hạnh phúc như tiêu chí căn bản để đánh giá chất lượng phát triển và năng lực cầm quyền của Đảng.
Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất để bảo đảm cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, trước thời kỳ đổi mới, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, mô hình phát triển và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội bộc lộ những hạn chế, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển, tìm kiếm con đường phù hợp hơn nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân.
Đại hội VI (năm 1986) của Đảng - đại hội mở đầu công cuộc đổi mới - tiếp tục khẳng định quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn chỉ, lý tưởng của Đảng, đó là: “Đảng ta không có mục đích nào khác là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân”(2). Trên tinh thần đó, công cuộc đổi mới được tiến hành với phương châm “tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”, đồng thời hạnh phúc của nhân dân cũng là cơ sở quan trọng để Đảng kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” được xác định là bảo đảm điều kiện tồn tại và phát triển tối thiểu của con người trong xã hội - tiền đề quan trọng cho những bước phát triển tiếp theo của quá trình đổi mới.
Trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng, đứng trước sự sụp đổ, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội mới mang lại cơm no áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân và phồn vinh cho Tổ quốc”(3). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991) được thông qua tại Đại hội VII của Đảng nhấn mạnh mục tiêu xây dựng một xã hội, trong đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Ở giai đoạn này, việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” không chỉ gắn với cải thiện đời sống vật chất, mà còn gắn với yêu cầu giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo lập môi trường an toàn để người dân yên tâm lao động, sản xuất và xây dựng cuộc sống lâu dài.
Khi công cuộc đổi mới đạt được những kết quả bước đầu, đất nước từng bước vượt qua khủng hoảng, Đại hội VIII (năm 1996) và Đại hội IX (năm 2001) của Đảng phát triển nhận thức về mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân theo hướng toàn diện hơn. Trong mạch tư duy đó, hạnh phúc của nhân dân được mở rộng nội hàm, không chỉ là đáp ứng nhu cầu sinh tồn, mà còn là nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ xã hội cơ bản. Trên nền tảng đó, Đại hội X (năm 2006) của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận, khẳng định hạnh phúc của nhân dân không thể được bảo đảm một cách bền vững nếu việc thực hiện mục tiêu này thiếu dân chủ và quyền làm chủ thực chất của người dân.
Đến Đại hội XI (năm 2011), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta làm sâu sắc hơn mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân, khi xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội mà con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện(4).
Đại hội XII (năm 2016) và Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục khẳng định việc đặt lợi ích và hạnh phúc của nhân dân ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới, “Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5); đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải gắn chặt với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển.
Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (tháng 1-2026) đã đề cập trực tiếp đến thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân, với yêu cầu “nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân”(6). Đồng thời nhấn mạnh “Nhân dân là là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân”(7); “… lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu(8).
Xuyên suốt tiến trình phát triển nhận thức qua các kỳ đại hội, có thể thấy quan điểm của Đảng về thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân ngày càng được khẳng định rõ hạnh phúc vừa là mục tiêu phát triển, vừa là động lực của đổi mới, đồng thời là thước đo chất lượng phát triển và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Qua đó, khẳng định định hướng lấy con người làm trung tâm và thể hiện rõ tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tính nhân văn của con đường phát triển ở Việt Nam.
Yêu cầu mới, tầm nhìn mới trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững, việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” cần được hoạch định theo lộ trình phù hợp với từng chặng đường phát triển, bảo đảm tính kế thừa, liên tục và từng bước nâng cao.
Giai đoạn 2026 - 2030 là thời kỳ Việt Nam đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Trong giai đoạn này, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống vật chất tiếp tục giữ vai trò trọng tâm, bởi đây là nền tảng trực tiếp bảo đảm các điều kiện cần thiết để nâng cao mức độ thụ hưởng của người dân. Giai đoạn này phản ánh xu hướng vận động cơ bản của xã hội Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời với sự biến đổi của cơ cấu xã hội, hệ giá trị, lối sống và các chuẩn mực ứng xử. Trong quá trình đó, hạnh phúc của người dân có điều kiện được nâng lên thông qua cải thiện thu nhập, nâng cao tuổi thọ, mở rộng cơ hội phát triển và khẳng định vai trò, vị thế của cá nhân trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, chính quá trình chuyển đổi này cũng đặt ra nguy cơ suy giảm hoặc mai một các giá trị truyền thống tốt đẹp gắn với gia đình, cộng đồng và sự gắn kết xã hội. Vì vậy, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn 2026 - 2030 cần được triển khai với các ưu tiên: một là, nâng cao hạnh phúc trong đời sống kinh tế - vật chất, tập trung vào việc làm, thu nhập, điều kiện sống và an ninh kinh tế; hai là, thúc đẩy các giá trị nhân văn mới của xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, như quyền con người, bình đẳng, tự do, tôn trọng cá nhân và cơ hội phát triển; ba là, gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, mang đặc trưng và bản sắc văn hóa dân tộc, nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bền vững văn hóa.
Giai đoạn 2030 - 2045, mục tiêu phát triển được xác định trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội(9). Trong giai đoạn này, trọng tâm của mục tiêu “hạnh phúc” không còn chỉ dừng ở việc nâng cao đời sống kinh tế - vật chất, mà chuyển mạnh sang bảo đảm chất lượng sống, mở rộng khả năng tự lựa chọn, tự thể hiện và phát triển toàn diện của con người. Sự chuyển dịch đó phản ánh sự phát triển của xã hội, đề cao ý nghĩa cuộc sống, giá trị tinh thần, quyền tự do cá nhân và nhu cầu khẳng định bản thân. Đồng thời, phát triển bền vững trở thành một nội dung cấu thành quan trọng của hạnh phúc. Vì vậy, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn này nhằm: 1- Nâng cao chất lượng sống và mức độ hài lòng tổng thể của người dân trên các phương diện vật chất, tinh thần, sức khỏe, giáo dục và môi trường sống; 2- Mở rộng điều kiện để mỗi cá nhân được tự do lựa chọn, tự thể hiện, phát huy năng lực sáng tạo và phát triển toàn diện; 3- Bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, an ninh sinh thái và phát triển bền vững, qua đó tạo nền tảng lâu dài cho một xã hội phồn vinh, nhân văn và hạnh phúc.
Nhìn tổng thể, các giai đoạn trên cho thấy việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” ở Việt Nam là một quá trình phát triển có tính kế thừa và phát triển: từ ưu tiên bảo đảm nền tảng kinh tế - vật chất sang chú trọng hơn đến chất lượng sống, hệ giá trị và phát triển bền vững; qua đó, từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người toàn diện trong một xã hội phồn vinh, văn minh và hạnh phúc. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần xác định rõ vai trò và sự tham gia đồng bộ của các chủ thể thực hiện. Trong đó, Đảng, Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo và bảo đảm thực hiện thông qua việc ban hành, hoàn thiện thể chế, chính sách. Với vai trò lãnh đạo toàn diện, Đảng nhất quán xác định hạnh phúc của nhân dân không chỉ là đích đến của phát triển, mà còn là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng, hiệu quả của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Theo đó, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay giá trị định tính, mà từng bước được thể chế hóa thành yêu cầu chính trị - pháp lý đối với hoạt động quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện của Nhà nước. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 xác định mục tiêu xây dựng một xã hội “phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân” là định hướng xuyên suốt.
Trên cơ sở đó, trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”, mỗi cá nhân là chủ thể trực tiếp, chủ động và đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn “thước đo hạnh phúc”, bởi hạnh phúc trước hết được cảm nhận, đánh giá và lựa chọn bởi chính chủ thể con người. Gia đình là nền tảng, chủ thể tích cực tham gia kiến tạo và duy trì các giá trị hạnh phúc. Chính sự vận hành đồng bộ của các chủ thể này quyết định khả năng thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” từ định hướng giá trị thành hiện thực phát triển.
Định hướng thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong sự nghiệp phát triển đất nước
Từ vai trò, vị trí của các chủ thể trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” có thể thấy, hiệu quả hiện thực hóa mục tiêu này phụ thuộc không chỉ vào năng lực của từng chủ thể, mà còn vào khả năng nhận diện đúng bối cảnh thực tiễn, tận dụng cơ hội và ứng phó hiệu quả với các thách thức đặt ra từ môi trường quốc tế và trong nước. Đây chính là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, hoàn thiện thể chế, chính sách; đồng thời để mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội chủ động tham gia kiến tạo các điều kiện của hạnh phúc gắn với phát triển nhanh và bền vững.
Trên bình diện quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo, tạo điều kiện để Việt Nam duy trì môi trường đối ngoại thuận lợi, mở rộng hội nhập và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển. Quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đang mở ra cơ hội nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng dịch vụ công, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế và nâng cao chất lượng sống của người dân. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế cũng đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xung đột và phân mảnh kinh tế diễn biến phức tạp, xu hướng bảo hộ và điều chỉnh chuỗi cung ứng có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng, việc làm và thu nhập, từ đó ảnh hưởng đến nền tảng vật chất của hạnh phúc. Đồng thời, các rủi ro toàn cầu, thách thức an ninh phi truyền thống và nguy cơ phân hóa xã hội trong kỷ nguyên số đặt ra yêu cầu phải bảo đảm công bằng xã hội, ổn định và củng cố niềm tin xã hội.
Ở trong nước, những thành tựu sau 40 năm đổi mới đã tạo nền tảng quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho việc tiếp tục nâng cao chất lượng sống và hiện thực hóa mục tiêu “hạnh phúc”. Đặc biệt, sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về phát triển lấy con người làm trung tâm, coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu và động lực của phát triển, là cơ sở chính trị quan trọng để Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và huy động sự tham gia của toàn xã hội. Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo cũng mở ra dư địa mới để nâng cao hạnh phúc theo hướng toàn diện, bền vững hơn. Tuy nhiên, các thách thức nội tại vẫn hiện hữu như sự tăng trưởng kinh tế chưa thật sự bền vững, nguy cơ tụt hậu về khoa học - công nghệ, “bẫy thu nhập trung bình”,… tác động trực tiếp đến khả năng cải thiện thu nhập và chất lượng sống của người dân. Hạn chế về tư duy phát triển, thể chế và năng lực quản trị ở một số lĩnh vực làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực và cơ hội tiếp cận công bằng giữa các nhóm xã hội. Bên cạnh đó, các vấn đề xã hội và môi trường như già hóa dân số, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, cùng với tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn diễn biến phức tạp, tác động đến niềm tin xã hội và cảm nhận an toàn của người dân. Ngoài ra, yêu cầu giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong bối cảnh xuất hiện nhiều rủi ro mới cũng đặt ra áp lực lớn đối với việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”.
Trên cơ sở nhận diện bối cảnh quốc tế và trong nước, có thể thấy thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” là một nhiệm vụ có tính chiến lược toàn diện và lâu dài. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng trong việc cải thiện điều kiện sống, nâng cao phúc lợi xã hội và từng bước nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với cuộc sống, qua đó khẳng định sự chuyển biến tích cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cũng như trong việc thực hiện mục tiêu phát triển vì con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những bất cập, hạn chế như nhận thức về mục tiêu “hạnh phúc” chưa thật sự thống nhất và đầy đủ ở các cấp, các ngành; năng lực tổ chức thực hiện và chất lượng quản trị ở một số cấp, ngành còn hạn chế; nguồn lực thực hiện mục tiêu hạnh phúc còn phân tán và chưa được phân bổ hợp lý…
Từ thực tiễn trên, việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn phát triển mới cần được cụ thể hóa bằng những phương hướng đồng bộ và khả thi, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển vật chất với bồi đắp các giá trị tinh thần, hướng tới một mô hình phát triển nhanh, bền vững và lấy con người làm trung tâm.
Để định hướng đó được chuyển hóa thành kết quả thực tế, trước hết, cần nâng cao năng lực của các chủ thể trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”. Đối với Nhà nước và hệ thống chính trị, cần chuyển mạnh sang quản trị phục vụ, lấy con người và sự hài lòng của người dân làm trung tâm; xây dựng bộ máy công quyền liêm chính, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đối với cá nhân, cần chú trọng nâng cao năng lực tự nhận thức, xác lập hệ giá trị đúng đắn, kỹ năng sống, kỹ năng thích ứng và tinh thần tự lực, chủ động kiến tạo cuộc sống. Đối với gia đình, cần củng cố vai trò là môi trường hình thành nhân cách, nuôi dưỡng sự yêu thương, chia sẻ, trách nhiệm và các giá trị văn hóa.
Về nội dung thực hiện, cần tập trung vào các lĩnh vực tác động trực tiếp đến chất lượng sống của người dân. Cụ thể là: 1- Gắn phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng sống và bảo đảm an sinh xã hội. Tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành việc làm bền vững, thu nhập ổn định, điều kiện sống tốt hơn và hệ thống an sinh xã hội bao trùm, hiệu quả; 2- Coi trọng phát triển giáo dục, văn hóa và con người theo hướng toàn diện; 3- Bảo đảm quyền con người, phát huy dân chủ, tăng cường công bằng xã hội; 4- Gắn phát triển với bảo vệ môi trường, an ninh con người.
Về phương thức thực hiện, cần chuyển mạnh sang quản trị theo kết quả, lấy mức độ hài lòng của người dân làm thước đo trọng tâm. Theo đó, mỗi chương trình, đề án liên quan đến mục tiêu “hạnh phúc” cần có mục tiêu rõ ràng, chỉ tiêu cụ thể, cơ chế giám sát và đánh giá minh bạch. Cùng với đó, cần chuẩn hóa phương pháp đo lường chỉ số hạnh phúc, tổ chức khảo sát định kỳ, công bố kết quả theo ngành, địa phương để phục vụ điều chỉnh chính sách(10). Đồng thời, tăng cường cơ chế tham vấn, đối thoại, phản biện xã hội; đẩy mạnh điều phối liên ngành, liên vùng; bổ sung đánh giá tác động hạnh phúc đối với các chính sách lớn; đổi mới công tác truyền thông, giáo dục và nhân rộng các mô hình gia đình hạnh phúc, trường học hạnh phúc, nơi làm việc hạnh phúc.
Để các phương hướng, nội dung và phương thức phát huy hiệu quả, cần đồng thời bảo đảm các điều kiện thực hiện: Một là, hệ thống thể chế, pháp luật phải minh bạch, đồng bộ, khả thi; bộ máy tổ chức phải liêm chính, chuyên nghiệp, vận hành hiệu quả; hai là, nguồn lực cần được phân bổ có trọng tâm, trọng điểm, gắn với kết quả đầu ra; ba là, hạ tầng dữ liệu và công nghệ phải đủ mạnh để phục vụ đo lường, dự báo và điều hành chính sách; bốn là, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh và thiết lập cơ chế giám sát, phản hồi, trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Trên nền tảng các định hướng, phương thức và điều kiện thực hiện nêu trên, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, kiên định mục tiêu phát triển vì con người, lấy nhân dân làm trung tâm. Đây là định hướng có tính nguyên tắc, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển. Mọi chiến lược, quy hoạch, chính sách phải thực sự xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, hướng tới nâng cao chất lượng sống và mức độ hài lòng của người dân; đồng thời khắc phục tư duy phát triển thiên về tăng trưởng thuần túy, xem nhẹ tác động xã hội, mở rộng cơ chế để nhân dân tham gia hiệu quả vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách.
Thứ hai, phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội. Theo đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số; gắn tăng trưởng với tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập thực chất và cải thiện điều kiện sống của người dân. Đồng thời, cần điều tiết các quan hệ lợi ích, thu hẹp chênh lệch giàu - nghèo và bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng, miền, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội thụ hưởng công bằng thành quả phát triển.
Thứ ba, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao phúc lợi toàn dân. Theo đó, cần hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội theo hướng bao trùm, bền vững, thích ứng với biến đổi dân số và thị trường lao động; nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội. Cùng với đó, chuyển mạnh từ hỗ trợ sang tạo cơ hội phát triển, giúp người dân chủ động vươn lên và ổn định cuộc sống lâu dài.
Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh, an toàn. Hạnh phúc của con người chỉ có thể được nuôi dưỡng bền vững trong môi trường sống văn minh, nhân văn, kỷ cương và an toàn. Do đó, cần chú trọng phát triển văn hóa, bồi đắp hệ giá trị con người Việt Nam; củng cố và nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hóa cơ sở; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quyền sống trong môi trường trong lành, an toàn của người dân.
Thứ năm, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vì hạnh phúc của nhân dân. Một xã hội hạnh phúc phải được đặt trên nền tảng pháp quyền, kỷ cương và công bằng và quản trị hiệu quả. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý; đẩy mạnh cải cách hành chính; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng bộ máy công quyền liêm chính, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân.
Thứ sáu, giữ vững quốc phòng - an ninh, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Hòa bình, ổn định không chỉ tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, mà còn bảo đảm để người dân yên tâm lao động, sinh sống và thụ hưởng thành quả phát triển. Vì vậy, cần kiên định đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả đối ngoại, qua đó giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an toàn cho đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Tựu trung, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn phát triển mới đặt ra yêu cầu tiếp tục kiên định đường lối đổi mới, phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao toàn diện đời sống của nhân dân, qua đó phát huy tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
--------------------
* Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ trọng điểm “Thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; mã số: KHTCCS (2025)-06
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 64
(2), (3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 362, 764
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 65
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 28
(6), (7), (8), (9) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 81, 38 - 39, 121, 84
(10) Trên cơ sở tiếp cận khoa học về hạnh phúc và mục tiêu “hạnh phúc”, hệ tiêu chí xác định mục tiêu “hạnh phúc” có thể được phân thành hai nhóm cơ bản: 1- Nhóm tiêu chí tổng hợp (các chỉ số hạnh phúc thành phần có khả năng phản ánh khái quát mức độ hạnh phúc của cá nhân, cộng đồng hoặc quốc gia); 2- Nhóm tiêu chí cụ thể (các tiêu chí, chỉ báo đo lường các chỉ số hạnh phúc thành phần, phản ánh các khía cạnh cụ thể của đời sống vật chất, tinh thần và xã hội của con người)
Dưới cờ Đảng vẻ vang, chung sức, đồng lòng dựng xây đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội  (27/02/2026)
Dưới cờ Đảng vẻ vang, chung sức, đồng lòng dựng xây đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội  (26/02/2026)
Tỉnh Lâm Đồng nâng cao chất lượng quản trị địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới phồn vinh, hạnh phúc  (20/02/2026)
Các chính đảng, tổ chức và bạn bè quốc tế gửi thư, điện chúc mừng tới Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam  (26/01/2026)
- Nâng cao tính nhân dân của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn mới
- Nâng cao hiệu quả thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”*
- Sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân - “Điểm tựa” vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Thanh thiếu niên hai nước tiếp tục viết nên những trang mới của tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc bằng trí tuệ, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với tương lai đất nước*
- Giá trị văn hóa trong phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Hồng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm