Chủ trương lập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Kết quả từ tư duy đặc sắc, đúng đắn của Hội nghị Trung ương 8 khóa I

TS NGUYỄN THỊ MAI
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
05:00, ngày 19-05-2026

TCCS - Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ ngày 10 đến 19-5-1941, tại Pắc Pó, Cao Bằng, Hội nghị Trung ương 8 khoá I của Đảng diễn ra dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị thảo luận, thông qua nhiều nội dung quan trọng, hoàn chỉnh quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam, trong đó đề cập đến một vấn đề quan trọng: lập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Chủ trương lập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả tư duy đặc sắc, đúng đắn của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I, thể hiện ở những điểm sau:

Một là, thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhà nước và cách mạng. Chánh cương vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đầu năm 1930, nêu rõ: “dựng ra Chính phủ công nông binh”(1). Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, nhiều nơi thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh lập ra chính quyền cách mạng - thường gọi là Xô viết Nghệ Tĩnh - trong nhiều tài liệu chính thống được gọi tên khác là “làng đỏ”. Các “làng đỏ” ở Nghệ An đã thực hiện: 1- Lập chính quyền dân chủ, rộng rãi cho dân chúng theo hình thức Xô viết; 2- Cho dân chúng các quyền tự do dân chủ: tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do đi lại; 3- Tịch ký tài sản của bọn phản cách mạng chia cho dân nghèo; 4- Hủy bỏ các thứ thuế chợ, thuế đò và các thứ nợ nô lệ; 5- Lập tòa án quần chúng xử bọn phản cách mạng; 6- Cho nam nữ được bình quyền; 7- Lập đội võ trang tự vệ; 8- Cứu tế những kẻ bị nạn, bị tàn sát; 9- Đuổi bọn phản động ra khỏi làng; 10- Lập trường học chính trị...(2).

Tỉnh ủy Cao Bằng phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học “Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941): Tầm nhìn chiến lược của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước"_Ảnh: baocaobang.vn

Có thể thấy, loại hình chính quyền Xô Viết là sự lựa chọn đầu tiên của Đảng ta về kiểu nhà nước cách mạng ở Việt Nam. Tuy nhiên, mô hình chính quyền này qua thực tiễn tỏ ra chưa phù hợp với một xã hội thuộc địa và phong kiến, nơi mà mâu thuẫn cơ bản nhất trong xã hội là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và phong kiến tay sai. Do đó, trừ bộ phận có quyền lợi gắn liền với thực dân Pháp đã ra mặt phản cách mạng, còn đa số nhân dân đều có mâu thuẫn với đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, đều có khát vọng đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn dân tộc và tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng, cần có sự tham gia của các giai tầng - từ công nông đến những người Việt Nam yêu nước trong xã hội. Mặt khác, chính quyền Xô viết là hình thức chính quyền công nông, không phải là chính quyền dân chủ nhân dân mang tính chất rộng rãi của các giai tầng trong xã hội.

Đến Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 11-1939, tuy đã có bước phát triển trong tư duy, nhận thức về chính quyền cách mạng, Đảng chủ trương không đưa khẩu hiệu lập Chính phủ “Xô viết công nông binh” mà thay bằng hình thức “Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông Dương”(3). Việc xác định loại hình chính quyền cách mạng tại hội nghị này vẫn trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương.

Hai là, tại Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941, vấn đề chính quyền cách mạng mới được giải quyết rõ ràng, đúng đắn và triệt để hơn. Hội nghị quyết định: “Sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý. Một chính phủ cộng hòa mạnh hơn không có quyền bắt các dân tộc nhỏ yếu tuân theo chính sách mình và tham gia chính phủ mình và các dân tộc thiểu số cũng không phải bắt buộc theo các dân tộc đa số và mạnh... Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng. Nếu các dân tộc nhỏ muốn cùng các dân tộc lớn thành lập liên bang dân chủ to lớn, đó không phải là một sự bắt buộc mà là một sự tùy ý muốn của nhân dân trong xứ”(4). “Riêng dân tộc Việt Nam... sau lúc đánh đuổi được Nhật - Pháp sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền”(5). Hội nghị Trung ương 8 thể hiện rõ hơn quyền dân tộc tự quyết khi chủ trương: “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”(6). Với chủ trương đó, Đảng đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, sau đó từng bước hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân.

Chính thể Dân chủ Cộng hòa được diễn đạt rõ ràng hơn trong Chương trình Việt Minh - văn kiện kèm theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941, nêu rõ: “Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra”(7). Trong những nhiệm vụ của chính phủ về chính trị nêu rõ: “Phổ thông đầu phiếu vô luận nam nữ hễ ai từ 18 tuổi trở lên được quyền bầu cử, ứng cử; Ban hành các quyền tự do dân chủ như: tự do xuất bản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong xứ và xuất dương...”(8). Ngoài ra, còn thể hiện rõ những nội dung cơ bản của chính sách đối nội, đối ngoại và thể chế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Như vậy, từ mô hình nhà nước công nông binh được xác định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, chuyển sang mô hình nhà nước dân chủ cộng hòa - chính thể nhà nước đại biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc - là một bước chuyển sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phản ánh đúng nét đặc thù của dân tộc và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Với việc lựa chọn chính thể cộng hòa dân chủ, nhưng là Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, không phải là Cộng hòa Dân chủ Liên bang Đông Dương; hơn nữa, khi Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941, nêu rõ nước ta là nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, đã nhấn mạnh đây là nền cộng hòa lấy dân chủ làm nền tảng, nhân dân có quyền bầu cử rộng rãi - khẳng định ngay từ đầu đây là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đây cũng là bước hoàn chỉnh và là sự nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan điểm quyền dân tộc tự quyết. Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941 được coi là bước hoàn chỉnh cho sự chuyển hướng chiến lược cách mạng nói chung và bước tiến hoàn chỉnh cho việc lựa chọn chính thể nhà nước cộng hòa dân chủ của một nước Việt Nam mới. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với điều kiện lịch sử của xã hội Việt Nam, là sự phát triển sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong học thuyết Mác - Lê-nin về nhà nước và cách mạng.

Ba là, ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhận định cách mạng Việt Nam đã bước vào thời kỳ “tiền khởi nghĩa” và phát động một phong trào chống Nhật mạnh mẽ trong toàn quốc. Về mặt tổ chức chính quyền, Chỉ thị đề ra nhiệm vụ:

“ - Thành lập ủy ban dân tộc giải phóng ở các nhà máy, mỏ, làng, ấp, đường phố, trại lính, trường học, công tư sở... Những ủy ban này vừa có tính chất Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật rộng rãi, vừa có ý nghĩa “tiền Chính phủ” của đồng bào trong các xí nghiệp, các làng...

- Thành lập “ủy ban nhân dân cách mạng” và “ủy ban công nhân cách mạng” ở những vùng quân du kích hoạt động.

- Thành lập “ủy ban nhân dân cách mạng Việt Nam” theo hình thức một Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam”(9) .

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, cách mạng đã chuyển thành cao trào, khởi nghĩa vũ trang liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Ở khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân đã phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã, châu, huyện. Phong trào kháng Nhật cứu nước dâng lên mạnh mẽ trong cả nước.

Ngày 16-4-1945, Tổng Bộ Việt Minh ra Chỉ thị “Về việc thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng”, xác định rõ thành phần ủy viên trong các ủy ban, do quần chúng mít tinh công khai hoặc bí mật bầu lên, mỗi đoàn thể cứu quốc có một đại biểu tham gia. Nhiệm vụ của các ủy ban là: bảo vệ, bênh vực quyền lợi mọi mặt của nhân dân; tổ chức huấn luyện chính trị quân sự; bảo vệ trật tự trị an, ngăn ngừa và diệt trừ việt gian; phân xử các xung đột, xích mích trong nội bộ nhân dân.

Từ yêu cầu thực tiễn của nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Quốc dân Đại hội Tân Trào, tháng 8-1945, đã cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, làm chức năng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ra đời, không chỉ hiện thực hóa mà còn khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo chủ trương lập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được đề ra tại Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941. Một chính thể nhà nước mới là kết quả của tư duy đặc sắc, đúng đắn, phù hợp với bối cảnh Việt Nam, góp phần quyết định làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Với chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quyền làm chủ của nhân dân được khẳng định. Đây là giá trị chính trị cốt lõi và xuyên suốt trong tổ chức và vận hành của Nhà nước, khi mà mọi quyền lực của Nhà nước đều phát xuất từ nhân dân, phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân. Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 khẳng định bầu cử phổ thông đầu phiếu không chỉ là quyền, mà còn là phương thức căn bản để nhân dân thực sự phát huy quyền làm chủ.

Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, nguyên tắc quyền lực nhân dân luôn được ghi trang trọng ở trang đầu của Hiến pháp. Điều 1, Hiến pháp năm 1946 - bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà”; “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(10). Như vậy, với chủ trương đề ra tại Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941 và quy định tại bản Hiến pháp đầu tiên, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện đúng đắn tầm nhìn chiến lược, từng bước hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

 Các bản hiến pháp sau đó tiếp tục ghi nhận quyền lực thuộc về nhân dân, đồng thời, quy định cả hình thức thực hiện quyền lực nhân dân thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tuy về hình thức, Nhà nước ta đổi từ chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng bản chất quyền lực thuộc về nhân dân, nguyên tắc quyền lực nhân dân vẫn luôn được giữ gìn, bổ sung và ngày càng hoàn thiện.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng và Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Bốn là, thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta quan tâm và không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đại hội VI của Đảng, năm 1986, khẳng định: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chức năng của Nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật. Nhà nước ta phải bảo đảm quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động”(11). Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tháng 1-1994, lần đầu tiên chính thức đưa vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vào Văn kiện của Đảng. Từ đây, Đảng luôn chú trọng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện rõ qua các kỳ đại hội Đảng và hội nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Điều 2, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”(12)

Ngày 9-11-2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, trong đó khẳng định rõ 8 đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định thống nhất, đầy đủ, rõ ràng về các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với những đặc trưng, giá trị phổ quát của Nhà nước pháp quyền đã được thế giới công nhận, đồng thời, thể hiện được tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.  

Tư tưởng, chủ trương lập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được đề cập tại Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941, là thành quả tư duy độc lập, sáng tạo của Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê-nin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trải qua hơn 80 năm Nhà nước Việt Nam ra đời và phát triển, từ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - nhận thức của Đảng ta về chính thể nhà nước luôn nhất quán, đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Từ tư tưởng xây dựng Nhà nước dân chủ cộng hòa được đề cập tại Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941, việc xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân luôn được Đảng ta quan tâm lãnh đạo xây dựng theo hướng ngày càng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Bước sang kỷ nguyên mới của dân tộc, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ trung tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(13)./.

-------------------

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.2, tr.2
(2), (3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.6, tr.408, 539
(4), (5), (6), (7), (8), (9) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.113-114, 114, 127, 150, 150, 371
(10) Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua ngày 9-11-1946), https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1946-Viet-Nam-Dan-Chu-Cong-Hoa-36134.aspx
(11) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t,47, tr.451-452
(12) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/7/52-vbhn-vpqh.pdf
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.126