Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào thực tiễn cuộc sống
09:40, ngày 18-03-2026
TCCS - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng không chỉ là sự kiện chính trị có ý nghĩa tổng kết một nhiệm kỳ, mà còn đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức và định hướng chiến lược của Đảng đối với con đường phát triển đất nước. Tinh thần mới được xác lập tại Đại hội thể hiện rõ khát vọng vươn lên mạnh mẽ, tư duy đổi mới toàn diện và quyết tâm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; đồng thời, khơi dậy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Đây chính là nền tảng quan trọng để định hình mô hình phát triển mới, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và tạo động lực đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Tổng Bí thư làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng về kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng _Ảnh: TTXVN
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp, đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy lý luận và tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tổng kết sâu sắc thực tiễn phát triển của đất nước qua một chặng đường đầy nỗ lực và thành tựu, mà còn xác lập định hướng chiến lược mang tính lâu dài, tạo nền tảng tư tưởng và phương hướng hành động cho toàn Đảng, toàn dân, trong chặng đường phát triển tiếp theo của dân tộc.
Được xác định là Đại hội của đổi mới mạnh mẽ và toàn diện, Đại hội XIV thể hiện bước đột phá về tư duy phát triển, tầm nhìn chiến lược và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam; đồng thời, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và ý chí chính trị kiên định của Đảng trong việc hoạch định quyết sách chiến lược nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Các văn kiện trình Đại hội được chuẩn bị công phu, khoa học, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; vừa kế thừa nhất quán quan điểm, tư tưởng mang tính nguyên tắc đã được khẳng định qua các kỳ Đại hội trước, vừa thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận, phản ánh đúng yêu cầu khách quan của thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Điểm nổi bật của Văn kiện Đại hội XIV là sự nhấn mạnh mạnh mẽ tinh thần hành động, đề cao hiệu quả tổ chức thực hiện, gắn chặt giữa mục tiêu chiến lược với các giải pháp thực thi, lấy hiệu quả phát triển và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo quan trọng của năng lực lãnh đạo và hiệu quả quản trị. Trong Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định sâu sắc rằng: Báo cáo chính trị là sự kết tinh trí tuệ, sức mạnh của Nhân dân, là sự hòa quyện giữa ý Đảng với lòng dân, thực sự là “ngọn đuốc soi đường”, là “cẩm nang hành động” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta(1).
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, giá trị và sức sống của Văn kiện Đại hội XIV không chỉ nằm ở hệ thống quan điểm và định hướng được xác lập, mà trước hết được khẳng định trong quá trình tổ chức thực hiện. Văn kiện chỉ thực sự phát huy vai trò định hướng và dẫn dắt khi được thể chế hóa thành chủ trương, chính sách phù hợp và được triển khai đồng bộ, hiệu quả trong thực tiễn, tạo ra chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân.
Vì vậy, việc nhận thức đầy đủ, quán triệt sâu sắc nội dung cốt lõi và tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa là yêu cầu về nhận thức, vừa là yêu cầu về hành động, nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa tư duy và thực tiễn, giữa chủ trương và tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đất nước vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Thứ nhất, tinh thần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ và hiệu quả
Đổi mới tiếp tục được xác định là mệnh lệnh của phát triển, là yêu cầu có tính quy luật trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch cấu trúc kinh tế toàn cầu và cách mạng công nghiệp mới diễn ra sâu rộng. Phát biểu tại Đại hội, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Tinh thần “đổi mới” là yêu cầu mang tính thời đại. Không đổi mới, cải cách thì không thể bứt phá, không thể cạnh tranh, không thể phát triển. Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện, để đường lối đúng trở thành kết quả cụ thể trong cuộc sống”(2).
Điểm phát triển mới của Đại hội XIV là đặt vấn đề đổi mới ở tầm sâu hơn, đổi mới căn bản tư duy phát triển và phương thức vận hành của toàn hệ thống chính trị. Đó là sự chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính, nặng về mệnh lệnh và can thiệp trực tiếp, sang tư duy quản trị, kiến tạo phát triển, coi Nhà nước giữ vai trò định hướng, tạo lập môi trường, khơi thông và phân bổ, quản trị hiệu quả nguồn lực và quá trình vận hành của nền hành chính, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trọng tâm của tinh thần đổi mới là lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả đầu tư, sức cạnh tranh và mức độ hài lòng của Nhân dân làm tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện.
Văn kiện Đại hội XIV thể hiện rõ bước tiến trong tư duy phát triển của Đảng khi xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới; coi hoàn thiện thể chế hiện đại và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng quyết định; nhấn mạnh yêu cầu phát triển xanh, bền vững, kinh tế tuần hoàn, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu như tiêu chuẩn bắt buộc của mô hình phát triển mới. Đồng thời, hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng suất lao động được xác lập là thước đo chủ yếu phản ánh chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo tinh thần Đại hội XIV, đổi mới không dừng lại ở việc bổ sung quan điểm hay điều chỉnh chính sách đơn lẻ, mà phải được triển khai đồng bộ từ nhận thức đến hành động, từ Trung ương đến địa phương, từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực hiện. Chỉ khi tinh thần đổi mới thực sự đi vào chiều sâu, gắn trách nhiệm cá nhân và tập thể với kết quả cụ thể, đề cao kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả thực chất, thì quyết sách chiến lược của Đại hội XIV mới có thể phát huy đầy đủ giá trị, tạo ra chuyển biến rõ nét trong thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ hai, tinh thần lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất
Đại hội XIV khẳng định rõ ràng và nhất quán nguyên tắc lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu tối thượng, là điểm quy chiếu cao nhất trong toàn bộ quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối phát triển đất nước. Điều này thể hiện bước phát triển mới về nhận thức lý luận của Đảng ta, phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Theo đó, mọi chủ trương, chính sách không chỉ được đánh giá trên phương diện tốc độ tăng trưởng hay hiệu quả kinh tế đơn thuần, mà trước hết, trên hết phải hướng tới mục tiêu nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm công bằng, tiến bộ và tạo cơ hội phát triển cho mọi tầng lớp nhân dân trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong tiến trình phát triển.
Tinh thần này thể hiện sự chuyển dịch quan trọng từ tư duy phát triển thiên về tăng trưởng kinh tế sang tư duy phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững; trong đó, con người là trung tâm, chủ thể và là động lực của phát triển. Lợi ích quốc gia - dân tộc được đặt trong mối quan hệ biện chứng với lợi ích của Nhân dân, phản ánh bản chất của chế độ ta là mọi thành quả phát triển đều phải hướng tới phục vụ Nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm điều kiện phát triển toàn diện con người.
Đồng thời, Đại hội XIV nhấn mạnh sự thống nhất hữu cơ giữa mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, coi đây là điều kiện tiên quyết để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và tạo lập môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển lâu dài. Điều này phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Trên cơ sở đó, tinh thần lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất trở thành tinh thần xuyên suốt, định hướng toàn bộ quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện, bảo đảm cho sự phát triển của đất nước vừa đúng hướng, vừa bền vững, phù hợp với bản chất và mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Thứ ba, tinh thần tự lực, tự cường, tự tin và tự hào dân tộc - nền tảng sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh mới
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định và nâng tầm tinh thần tự lực, tự cường, tự tin và tự hào dân tộc như một giá trị cốt lõi, một nguồn lực nội sinh có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường. Đây không chỉ là một giá trị truyền thống mang tính lịch sử, mà còn là một nguyên lý phát triển có ý nghĩa chiến lược, phản ánh quy luật tồn tại và trưởng thành của dân tộc Việt Nam trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước. Trong mọi giai đoạn lịch sử, tuy không có lợi thế vượt trội về quy mô lãnh thổ hay tiềm lực vật chất, song dân tộc Việt Nam luôn sở hữu một sức mạnh nội sinh đặc biệt, được hình thành từ ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh kiên cường và niềm tin sâu sắc vào năng lực tự chủ, sáng tạo của chính mình.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, chính tinh thần tự lực, tự cường đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam vượt qua các thử thách khắc nghiệt nhất, từ các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đến quá trình xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Đó là quá trình một dân tộc không ngừng tự khẳng định mình, không khuất phục trước áp lực từ bên ngoài, đồng thời, biết phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực một cách hợp lý để tạo dựng và củng cố vị thế của mình. Tinh thần tự tin vào trí tuệ, bản lĩnh và con đường phát triển đã lựa chọn, cùng với niềm tự hào sâu sắc về truyền thống lịch sử, văn hóa và những thành tựu đạt được, đã trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy dân tộc tiến lên.
Trong bối cảnh mới, khi cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, yếu tố bất định gia tăng và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đặt ra ngày càng cao, Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng. Tự lực, tự cường không đồng nghĩa với khép kín hay biệt lập, mà là xây dựng năng lực nội sinh đủ mạnh để chủ động thích ứng, nâng cao khả năng chống chịu trước cú sốc từ bên ngoài, đồng thời tận dụng hiệu quả cơ hội của hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. Tinh thần tự tin và tự hào dân tộc, trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vị thế, tiềm năng và triển vọng phát triển của đất nước, là điều kiện quan trọng để củng cố bản lĩnh chính trị, giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạch định và thực thi đường lối phát triển.
Như vậy, tinh thần tự lực, tự cường, tự tin và tự hào dân tộc được Đại hội XIV nâng lên thành một định hướng chiến lược có ý nghĩa nền tảng, nhằm khơi dậy và phát huy cao nhất sức mạnh nội sinh của dân tộc, tạo động lực tinh thần to lớn để toàn Đảng, toàn dân ta vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
Thứ tư, tinh thần “tự chủ chiến lược” - bước phát triển mới trong tư duy lý luận và tầm nhìn kiến tạo quốc gia của Đảng
Đại hội XIV lần đầu tiên xác lập phạm trù “tự chủ chiến lược” như một định hướng có tính nguyên tắc, xuyên suốt quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ là: Tự chủ chiến lược, nắm chắc thời cơ, chung sức đồng lòng, vượt qua mọi thách thức, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển(3). Việc chính thức đưa “tự chủ chiến lược” vào Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là sự bổ sung về mặt thuật ngữ, mà còn phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về độc lập, tự chủ và con đường phát triển bền vững của đất nước trong điều kiện mới.
“Tự chủ chiến lược” thể hiện sự nâng tầm nhận thức từ độc lập, tự chủ trên từng lĩnh vực cụ thể sang độc lập, tự chủ ở tầm chiến lược tổng thể, bao quát toàn bộ quá trình phát triển quốc gia. Trước hết, đó là tự chủ về tư duy và đường lối phát triển - điều kiện tiên quyết bảo đảm Việt Nam kiên định con đường đã lựa chọn trong bối cảnh cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có. Đồng thời, tự chủ chiến lược về kinh tế được xác định là nền tảng vật chất của độc lập dân tộc, đòi hỏi xây dựng nền kinh tế có khả năng tự cường, thích ứng cao và có sức cạnh tranh quốc tế. Tự chủ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành yếu tố then chốt nâng cao năng lực phát triển độc lập, bền vững. Cùng với đó, tự chủ về văn hóa là nền tảng tinh thần bảo đảm sự phát triển đúng hướng, giữ vững bản sắc và sức mạnh nội sinh của dân tộc. Đặc biệt, tự chủ về quốc phòng, an ninh, đối ngoại là trụ cột bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.
Quan điểm về tự chủ chiến lược là sự kế thừa và phát triển nhất quán tư tưởng độc lập dân tộc, tự lực, tự cường của Đảng, được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược gia tăng, tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với biệt lập, mà là chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Đây là biểu hiện tập trung của bản lĩnh chính trị, năng lực hoạch định chiến lược và tầm nhìn kiến tạo quốc gia của Đảng, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam chủ động định hình con đường phát triển, nâng cao vị thế và thích ứng hiệu quả với biến động của thời đại.
Văn kiện Đại hội XIV thể hiện rõ bước tiến trong tư duy phát triển của Đảng khi xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới (Trong ảnh: Dây chuyền sản xuất của Công ty Honda Việt Nam, Khu công nghiệp Đồng Văn II) _Ảnh: TTXVN
Thứ năm, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm - yêu cầu hàng đầu trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên
Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, tinh thần chủ động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây không chỉ là yêu cầu về phẩm chất cá nhân, mà còn là điều kiện có tính quyết định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh mới. Trọng tâm của tinh thần này là khơi dậy và phát huy cao độ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến và tinh thần hành động vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân, trước hết là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là người đứng đầu.
Điểm mới quan trọng được Đại hội XIV xác lập là chuyển mạnh từ tư duy quản lý thụ động, nặng về tuân thủ hình thức, sang tư duy hành động chủ động, sáng tạo và chịu trách nhiệm về kết quả. Cán bộ, đảng viên không chỉ thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, mà còn phải chủ động đổi mới tư duy, tìm kiếm giải pháp hiệu quả, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân về quyết định của mình. Đồng thời, Đại hội cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết khắc phục triệt để tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm - các biểu hiện làm giảm hiệu lực thực thi chính sách, cản trở quá trình phát triển và làm giảm niềm tin của Nhân dân.
Đại hội XIV khẳng định rõ rằng giá trị và sức sống của nghị quyết không nằm ở câu chữ hay khẩu hiệu, mà được kiểm nghiệm bằng kết quả cụ thể trong thực tiễn, bằng chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế - xã hội và sự hài lòng ngày càng cao của Nhân dân. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là chủ thể của hành động, là lực lượng tiên phong trong tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, biến chủ trương thành hiện thực sinh động.
Tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm không chỉ là yêu cầu về phương pháp công tác, mà còn là biểu hiện tập trung của bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đây chính là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và tạo động lực mới thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Thứ sáu, tinh thần hành động quyết liệt, nói ít, làm nhiều, làm ngay, làm đến cùng - nhân tố bảo đảm đưa Nghị quyết Đại hội nhanh vào cuộc sống và hiệu quả
Đại hội XIV đặt ra yêu cầu đặc biệt nhấn mạnh tinh thần hành động quyết liệt, coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng và thành công của sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ một trong những hạn chế lớn là nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn, nhưng tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu(4). Điểm yếu lớn nhất của chúng ta là nhiều chủ trương đúng, nhưng tổ chức thực hiện chưa hiệu quả. Điều này cho thấy, khoảng cách giữa chủ trương và kết quả thực hiện vẫn là vấn đề cần được khắc phục một cách căn bản, đòi hỏi chuyển mạnh từ tư duy định hướng sang tư duy hành động, từ nhấn mạnh ban hành nghị quyết sang đề cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Tinh thần hành động mà Đại hội XIV xác lập là tinh thần hành động thực chất, quyết liệt và đến cùng, với phương châm “nói ít, làm nhiều”, “nói đi đôi với làm”, lấy kết quả cụ thể làm thước đo năng lực lãnh đạo, quản lý và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Theo đó, trách nhiệm tổ chức thực hiện không chỉ dừng lại ở việc quán triệt về mặt nhận thức, mà phải được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, cơ chế, chính sách và giải pháp khả thi, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị. Đại hội yêu cầu khắc phục triệt để tình trạng hình thức, bệnh thành tích, tư duy nhiệm kỳ, cũng như các biểu hiện “nói nhiều, làm ít”, “nói hay, làm dở” hoặc thiếu quyết tâm trong tổ chức thực hiện.
Đồng thời, Đại hội XIV nhấn mạnh trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống thông qua việc khẩn trương thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả. Việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa ý chí chính trị và năng lực tổ chức thực hiện là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội đề ra.
Ngoài nét tiêu biểu nêu trên về tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng còn hàm chứa nhiều nội dung có ý nghĩa chiến lược trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nổi bật trong đó là sự khẳng định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc như một giá trị cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ đường lối phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Khát vọng ấy không dừng lại ở mục tiêu định tính, mà được đặt trong hệ quy chiếu của phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng sống và phát triển toàn diện con người. Đồng thời, Đại hội XIV đặt ra yêu cầu mới, cao hơn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, coi đây là nhân tố quyết định thành công của mọi chủ trương, chính sách. Đó là yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền; củng cố bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng và toàn hệ thống chính trị.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã mở ra một chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh thời cơ lớn đan xen không ít khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh đó, việc đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV vào thực tiễn cuộc sống không chỉ là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, mà còn là mệnh lệnh phát triển, là động lực thôi thúc toàn Đảng, toàn dân tổ chức thực hiện kịp thời, linh hoạt, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, tạo chuyển biến mạnh, bằng những thành tựu phát triển cụ thể, bền vững của đất nước trên các lĩnh vực. Vì vậy, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV với tinh thần chủ động, sáng tạo, bám sát phương châm Đại hội XIV “Phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá, bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng” là yêu cầu cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân. Chỉ trên cơ sở thống nhất cao về nhận thức, quyết tâm cao trong hành động, phát huy trí tuệ tập thể và trách nhiệm cá nhân, chúng ta mới có thể biến tinh thần của Đại hội thành động lực hiện thực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, vững bước trong kỷ nguyên mới./.
---------------
(1) Xem: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam”, Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 11-2-2026, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu- ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv/ bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-dang-cong- san-viet-nam.html?categoryId=3000412
(2) GS. TS. Tô Lâm: “Diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV”, Tạp chí Cộng sản, số 1078, tháng 1-2026, tr. 74 – 75
(3) Xem: GS. TS. Tô Lâm: “Diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV”, Tlđd, tr. 74
(4) Xem: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam”, Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 11-2-2026, Tlđd