Việt Nam - Ấn Độ: Từ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đến tầm cao quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường

PGS, TS Lê Văn Toan
Giám đốc sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
10:02, ngày 10-05-2026

TCCS - Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Ấn Độ từ ngày 5 đến 7-5-2026 gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp. Hai bên tuyên bố nâng cấp quan hệ từ “đối tác chiến lược toàn diện” lên “đối tác chiến lược toàn diện tăng cường”. Hai bên đánh giá cao những thành quả hơn 50 năm quan hệ song phương, 10 năm đối tác chiến lược toàn diện và khẳng định cùng dành ưu tiên cao cho phát triển quan hệ song phương trên tinh thần “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược và hợp tác thực chất”, đưa hợp tác hai nước đi vào chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực. Từ tầm cao của quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện tăng cường”, việc nhìn lại những kết quả đạt được của 10 năm quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” (2016 - 2026) minh chứng cho sự phát triển bền vững, thủy chung, tạo đà cho Việt Nam - Ấn Độ nâng cấp quan hệ trong bối cảnh mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru_Ảnh: hochiminh.vn

Cơ sở nền tảng của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong hơn 100 năm qua

Thứ nhất, nền tảng lịch sử - chính trị.

Kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố bài viết đầu tiên của Người về Ấn Độ: “Phong trào cách mạng Ấn Độ” đăng trên Tạp chí La Revue Communist, số 18, 19, tháng 8, 9 năm 1921(1), đến năm 1943, khi bị bắt giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác viết bài thơ “Gửi Nehru”(2), thì giới chính khách và nhân dân hai nước Việt Nam - Ấn Độ biết được sự quan tâm của Bác Hồ với Ấn Độ đã rất sâu đậm. Sau khi Việt Nam và Ấn Độ dành được độc lập, ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru đã thiết lập quan hệ giữa hai nước trên tinh thần đoàn kết Á - Phi và phong trào giải phóng dân tộc. Tại Hội nghị Geneva năm 1954, Ấn Độ ủng hộ quan điểm của Việt Nam và sau đó tham gia Ủy ban Giám sát và Kiểm soát quốc tế tại Đông Dương, góp phần giám sát việc thực thi Hiệp định này. Nội dung làm việc của các chuyến thăm của Thủ tướng Jawaharlal Nehru đến Việt Nam năm 1954 và chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Ấn Độ năm 1958 đã đặt nền móng vững chắc cho quan hệ song phương lâu dài giữa Việt Nam và Ấn Độ(3).

Thứ hai, Việt Nam và Ấn Độ đã chia sẻ nhiều điểm tương đồng về nguyên tắc chính trị và đối ngoại.

Nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền: Hai nước Việt Nam và Ấn Độ đều kiên định nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền, tôn trọng lập trường của nhau trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Điều này thể hiện rõ ở những điểm sau: Một là, Ấn Độ luôn ủng hộ lập trường của Việt Nam về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đặc biệt là vấn đề Biển Đông, trên các diễn đàn khu vực và quốc tế. Tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Hội nghị cấp cao Đông Nam Á (EAS), hay Đối thoại Shang-ri-la, Ấn Độ luôn ủng hộ lập trường nhất quán của Việt Nam bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do hàng hải, hàng không và việc tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Trong các tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ, hai bên đều “nhấn mạnh mối quan hệ giữa an ninh và thịnh vượng…, tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải, hàng không tại Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực”(4). Hai là, Ấn Độ luôn tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam thông qua hợp tác kinh tế - năng lượng. Ấn Độ ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và lập trường của Việt Nam trong các cơ chế khu vực. Trong chính sách Hành động phía Đông (Act East Policy), Ấn Độ coi ASEAN, trong đó có Việt Nam, là đối tác quan trọng, là trụ cột, đồng thời ủng hộ các sáng kiến do Việt Nam đề xuất và thúc đẩy khi Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch ASEAN qua các năm 1998, 2010 và 2020(5).

Bên cạnh sự ủng hộ của Ấn Độ đối với lập trường tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, Việt Nam cũng thể hiện rõ sự tôn trọng đối với độc lập, chủ quyền và quan điểm chiến lược của Ấn Độ trong nhiều vấn đề quốc tế. Một là, Việt Nam ủng hộ vai trò, vị thế của Ấn Độ trong các thể chế toàn cầu, đặc biệt là tại Liên hợp quốc như: “Việt Nam tiếp tục ủng hộ Ấn Độ trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khi cơ quan này được mở rộng”(6), trong đó có việc mở rộng vai trò của Ấn Độ với tư cách là ứng cử viên thường trực. “Việt Nam hoan nghênh Ấn Độ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch BRICS năm 2026”(7). Trong các tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ, Việt Nam luôn khẳng định ủng hộ vai trò ngày càng quan trọng của Ấn Độ trong các vấn đề toàn cầu và ghi nhận đóng góp của Ấn Độ đối với hòa bình và ổn định quốc tế. Hai là, Việt Nam tôn trọng và ủng hộ chính sách đối ngoại độc lập, chiến lược “tự chủ chiến lược” của Ấn Độ. Ấn Độ luôn theo đuổi đường lối không liên minh quân sự và duy trì cân bằng quan hệ giữa các nước lớn. Việt Nam ủng hộ cách tiếp cận “bao trùm và dựa trên luật pháp quốc tế” của Ấn Độ, phù hợp với lợi ích và quan điểm riêng của New Delhi(8). Ba là, Việt Nam tôn trọng lợi ích và hiện diện hợp pháp của Ấn Độ tại các khu vực chiến lược, đặc biệt là Biển Đông, trong đó có việc Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác năng lượng của Ấn Độ tại thềm lục địa Việt Nam như việc Tập đoàn ONGC Videsh tham gia thăm dò dầu khí. Điều này thể hiện sự công nhận của Việt Nam đối với vai trò và lợi ích chính đáng của Ấn Độ trong khu vực, đồng thời bảo đảm nguyên tắc chủ quyền và luật pháp quốc tế(9).

Nguyên tắc không liên minh quân sự: Hai nước Việt Nam và Ấn Độ đều theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tránh bị ràng buộc bởi các liên minh quân sự mang tính đối đầu. Với Ấn Độ, nguyên tắc này bắt nguồn từ vai trò sáng lập Phong trào Không liên kết do Jawaharlal Nehru đề xuất. Tư duy “không đứng về phe nào” giúp Ấn Độ duy trì sự cân bằng chiến lược giữa các nước lớn. Với Việt Nam, nguyên tắc này bắt nguồn từ tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Bác Hồ và chính sách quốc phòng “bốn không” được khẳng định trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực(10). Đường lối nêu trên của hai nước Việt Nam và Ấn Độ giúp hai nước có được nền tảng vững chắc bảo đảm chủ quyền chiến lược, tránh bị cuốn vào cạnh tranh địa - chính trị của các cường quốc.

Nguyên tắc ủng hộ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế trong quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Trong thực tiễn lịch sử, Việt Nam và Ấn Độ đều coi trọng nền tảng chuẩn tắc của luật pháp quốc tế, coi đây là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển các mối quan hệ song phương và đa phương. Cả hai nước đều nhất quán quan điểm cho rằng, trật tự quốc tế phải dựa trên vai trò trung tâm của Liên hợp quốc, các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việc tôn trọng và đề cao UNCLOS không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn mang ý nghĩa chiến lược. Điều đó tạo ra khuôn khổ để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, hạn chế hành vi đơn phương áp đặt sức mạnh, từ đó bảo vệ quyền lợi của các quốc gia vừa và nhỏ. Đây là cách tiếp cận “quyền lực dựa trên luật pháp” thay vì “quyền lực dựa trên sức mạnh”. Nhìn suốt chiều dài lịch sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, tất cả các tuyên bố chung giữa hai nước luôn nhấn mạnh: Hai nước tôn trọng tự do hàng hải, hàng không, không quân sự hóa các vùng biển, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với UNCLOS. Trong các tuyên bố chung nổi bật như việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược (năm 2007), đối tác chiến lược toàn diện (năm 2016) và các tuyên bố chung tăng cường hợp tác các năm 2020, 2024, thường xuyên nhấn mạnh “giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực”(11).

Những nguyên tắc và quan điểm trên giúp Việt Nam và Ấn Độ cùng bảo vệ lợi ích quốc gia mà không cần liên minh quân sự; tăng tính chính danh quốc tế cho các lập trường về Biển Đông và cân bằng ảnh hưởng của các cường quốc bằng công cụ pháp lý. Có thể coi đây là chiến lược “chuẩn tắc hóa cạnh tranh”, phản ánh sự gặp gỡ, đồng thuận giữa tư duy pháp quyền quốc tế và lợi ích chiến lược nói chung và chiến lược biển nói riêng.

Thành tựu trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ trong 10 năm qua (2016 - 2026)

Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ trong 10 năm qua (2016 - 2026) ghi nhận nhiều tiến triển tích cực trên năm trụ cột cơ bản.

Một là, hợp tác chính trị - ngoại giao.

Sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện (2016), Việt Nam và Ấn Độ đã đạt được những bước tiến ấn tượng trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao, thể hiện rõ nét trên các bình diện chính.

Thứ nhất, hai nước thường xuyên duy trì các chuyến thăm, trao đổi đoàn cấp cao. Một đặc điểm nổi bật là tần suất trao đổi đoàn cấp cao thường xuyên, bao gồm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam đã nhiều lần thăm Ấn Độ. Tiêu biểu là các chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước Trần Đại Quang tháng 3-2018, chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tháng 1-2018, chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tháng 12-2016, chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cuối tháng 7, đầu tháng 8-2024, chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tháng 5-2026. Các chuyến thăm trên nhằm củng cố niềm tin chính trị, tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy hợp tác kinh tế, an ninh, quốc phòng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và giao lưu văn hóa giữa hai nước.

Lãnh đạo cấp cao Ấn Độ cũng thường xuyên đến thăm Việt Nam. Tiêu biểu là chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tháng 9-2016 - chuyến thăm ghi dấu son trong quan hệ Việt Nam - Ấn Độ khi hai nước nâng cấp quan hệ từ đối tác chiến lược lên đối tác chiến lược toàn diện. Các chuyến thăm cấp cao Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind tháng 11-2018, chuyến thăm Việt Nam của Phó Tổng thống Ấn Độ tháng 5-2019, chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ tháng 4-2022 đã góp phần củng cố, hiện thực hóa việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.

Các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo Ấn Độ đến Việt Nam nhằm thúc đẩy, nâng cấp mối quan hệ giữa hai nước, củng cố tin cậy chính trị, khẳng định sự coi trọng của Ấn Độ đối với chính sách Hành động phía Đông mà Việt Nam là trụ cột trong chính sách này và thúc đẩy nhiều thỏa thuận, hợp tác quan trọng trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân.

Thứ hai, hai nước Việt Nam, Ấn Độ phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn đa phương.

Việt Nam và Ấn Độ luôn bày tỏ lập trường nhất quán trong các vấn đề quan trọng như ủng hộ vai trò của Liên hợp quốc trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, trong cải cách Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và trong phát triển bền vững. Tại diễn đàn đa phương, Việt Nam ủng hộ Ấn Độ trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mở rộng; Ấn Độ ủng hộ Việt Nam ứng cử và đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021; Ấn Độ ủng hộ các quan điểm của Việt Nam về vấn đề Biển Đông; cả hai nước Việt Nam và Ấn Độ cùng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Trong Diễn đàn ASEAN, Ấn Độ ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực, Việt Nam đóng vai trò cầu nối giữa Ấn Độ và ASEAN. Điểm nổi bật trong hợp tác chính trị, ngoại giao giữa Việt Nam và Ấn Độ là mức độ tin cậy chính trị cao, ít tồn tại bất đồng chiến lược, không có xung đột lợi ích trực tiếp, có sự tương đồng cao về nguyên tắc đối ngoại, tôn trọng chủ quyền, không can thiệp nội bộ, lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Có thể khẳng định, hợp tác chính trị, ngoại giao Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2016 - 2026 mang các đặc trưng nổi bật, đó là trao đổi đoàn cấp cao thường xuyên, liên tục, đồng thuận cao tại các diễn đàn đa phương, luôn ổn định và độ tin cậy chính trị cao. Đây chính là trụ cột nền tảng giúp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện luôn phát triển bền vững, tạo đà cho phát triển các lĩnh vực khác.

Hai là, hợp tác quốc phòng - an ninh.

Trong tổng thể quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, hợp tác quốc phòng - an ninh được coi là trụ cột quan trọng nhất do trực tiếp gắn với lợi ích chiến lược về an ninh biển, cân bằng quyền lực và ổn định khu vực. Sự hợp tác này thể hiện đậm nét trên các lĩnh vực sau:

Thứ nhất, Ấn Độ hỗ trợ đào tạo quân sự cho Việt Nam. Trong nhiều năm gần đây, Ấn Độ đã hỗ trợ đào tạo sĩ quan cho Việt Nam trên các lĩnh vực hải quân, không quân và công nghệ thông tin quân sự, tác chiến điện tử. Về hải quân, Ấn Độ đã đào tạo khoảng 550 sĩ quan và thủy thủ Việt Nam trong các hoạt động tác chiến tàu ngầm. Về không quân, Ấn Độ đồng ý huấn luyện phi công lái tiêm kích Su-30 cho Việt Nam(12). Các chương trình đào tạo được thực hiện tại các học viện quân sự của Ấn Độ. Về công nghệ thông tin quân sự và tác chiến điện tử, Ấn Độ đã hỗ trợ Việt Nam đào tạo nhiều cán bộ công nghệ thông tin quân sự. Hai nước đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, AI và bán dẫn, hướng tới đột phá chuỗi cung ứng trong những năm tới. Hai bên tập trung kết nối doanh nghiệp, phát triển thành phố thông minh và chuyển đổi số(13). Các hoạt động trên vừa giúp Việt Nam nâng cao năng lực phòng thủ hiện đại vừa góp phần chuyển giao tri thức và tác chiến điện tử.

Thứ hai, hợp tác hải quân và an ninh biển. Để bảo đảm lợi ích chung của hai nước tại Biển Đông, Việt Nam và Ấn Độ coi hợp tác hải quân. Ấn Độ thường xuyên cử tàu hải quân Ấn Độ đến thăm, tiến hành giao lưu văn hóa tại các cảng Việt Nam, đặc biệt là cảng Cam Ranh, Đà Nẵng, tổ chức giao lưu sĩ quan hải quân, trao đổi thông tin an ninh biển(14). Hải quân hai nước thường xuyên tham gia diễn tập chung, diễn tập hải quân đa phương Milan, diễn tập tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ(15). Những hoạt động trên giúp hai nước tăng cường năng lực phối hợp trên biển, góp phần bảo đảm an ninh hàng hải khu vực và xây dựng lòng tin chiến lược.

Thứ ba, hỗ trợ tín dụng quốc phòng. Trong những năm qua, Ấn Độ đóng vai trò là đối tác hỗ trợ tài chính quan trọng trong hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam. Ấn Độ đã hỗ trợ gói tín dụng quốc phòng 100 triệu USD (năm 2014) giúp Việt Nam đóng tàu tuần tra cao tốc, gói tín dụng quốc phòng 500 triệu USD (năm 2016) giúp tăng cường năng lực quốc phòng cho Việt Nam(16). Việc Ấn Độ hỗ trợ quốc phòng giúp Việt Nam tự chủ, nâng cao năng lực quốc phòng.

Thứ tư, đồng thuận nguyên tắc an ninh biển. Cả Việt Nam và Ấn Độ đều có sự thống nhất cao về các nguyên tắc chiến lược liên quan đến an ninh biển. Hai bên đều nhấn mạnh tự do hàng hải và hàng không tại Biển Đông, không cản trở các tuyến vận tải quốc tế. Điều này còn được thể hiện thống nhất trong các tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ. Hai nước đều thống nhất quan điểm giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế như UNCLOC 1982 và các nguyên tắc của Liên hợp quốc(17). Sự đồng thuận này tạo điều kiện pháp lý cho hợp tác quốc phòng - an ninh, tăng tính chính danh quốc tế cho các hoạt động của hai nước trên biển.

Xét một cách tổng thể, hợp tác quốc phòng - an ninh Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2016 - 2026 thể hiện rõ các đặc điểm: Thực chất và sâu rộng, dựa trên luật pháp quốc tế, tập trung vào năng lực phòng thủ. Điều này giúp hai nước tăng cường năng lực tự vệ, góp phần duy trì ổn định khu vực, giữ vững tự chủ chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị ngày càng gia tăng.

Ba là, hợp tác kinh tế - thương mại.

Hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam - Ấn Độ là trụ cột quan trọng. Hiện tại, Ấn Độ nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Đầu tư 2 chiều tiếp tục mở rộng với gần 500 dự án Ấn Độ đầu tư vào Việt Nam và 30 dự án Việt Nam đầu tư vào Ấn Độ. Hai nước còn nhiều dư địa để mở rộng, có xu hướng phát triển tốt nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Điều này thể hiện rõ trên những nét cơ bản sau:

Thứ nhất, kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng ổn định. Trong giai đoạn hai nước nâng cấp triển khai quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (2016 - 2026), thương mại hai chiều giữa Việt Nam - Ấn Độ duy trì đà tăng trưởng tương đối khá. Trước năm 2016, thương mại hai chiều đạt khoảng 5 - 6 tỷ USD, đến năm 2025 đạt khoảng 16,46 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2024. Trong quý I-2026, thương mại song phương tiếp tục tăng trưởng ấn tượng (tăng 28% so với cùng kỳ). Hợp tác hai nước tập trung vào dệt may, da giày, công nghệ và chuỗi cung ứng(18). Hai nước đặt mục tiêu nâng thương mại hai chiều lên 25 tỷ USD vào năm 2030(19).

Thứ hai, các lĩnh vực hợp tác trọng điểm về kinh tế. Hợp tác năng lượng, đặc biệt là thăm dò, khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam ở Biển Đông luôn được Ấn Độ quan tâm. Công ty ONGC Videsh luôn duy trì hoạt động thăm dò dầu khí một số lô ở Biển Đông. Ấn Độ còn hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lượng sạch. Hai nước thiết lập Ủy ban hỗn hợp thúc đẩy hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình(20). Hoạt động trên góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông theo luật pháp quốc tế.

Hợp tác dược phẩm Việt Nam - Ấn Độ đang chuyển mình mạnh mẽ từ nhập khẩu thương mại sang hợp tác chiến lược về công nghệ và sản xuất. Ấn Độ là nhà cung cấp dược phẩm lớn thứ tư của Việt Nam. Ấn Độ đề xuất hợp tác song phương trên ba trụ cột chính: (1) Chuyển đổi mô hình hợp tác từ mua bán truyền thống sang hợp tác công nghệ; (2) tự chủ nguồn nguyên liệu, tận dụng lợi thế của Ấn Độ trong chuỗi cung ứng toàn cầu; (3) phát triển sinh phẩm và vaccine, tập trung chuyển giao công nghệ, sản xuất thuốc đặc trị (như chống ung thư), xây dựng các trung tâm nghiên cứu tại Việt Nam, nghiên cứu dược phẩm, thiết bị y tế nhằm hiện thực hóa mục tiêu tự chủ ngành dược vào năm 2030(21).

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ trong 10 năm qua vẫn tồn tại một số hạn chế: (i) Quy mô thương mại hai chiều chưa tương xứng với tiềm năng, kim ngạch thương mại vẫn còn thấp so với quy mô nền kinh tế của hai nước, tiềm năng hợp tác trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là do thiếu các hiệp định thương mại sâu rộng riêng song phương và cũng do doanh nghiệp hai nước chưa khai thác hết thị trường của nhau. (ii) Kết nối logistics còn hạn chế. Hai bên chưa có nhiều tuyến vận tải biển và hàng không trực tiếp. Chi phí logicstics cao, thời gian vận chuyển dài do phần lớn hàng hóa phải trung chuyển qua nước thứ ba như Singapore hay Malaysia,…. Điều này làm giảm hiệu quả thương mại và hạn chế mở rộng chuỗi cung ứng song phương.

Từ thực trạng trên có thể khẳng định rằng, hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2016 - 2026 thể hiện rõ đặc điểm: (1) Tăng trưởng tích cực ổn định; (2) tập trung vào các lĩnh vực có tính bổ sung cao (năng lượng, dược phẩm); (3) tồn tại điểm nghẽn về quy mô và kết nối. Có thể thấy, quan hệ kinh tế - thương mại song phương đang ở giai đoạn “phát triển tiềm năng” hơn là “khai thác tối đa”, đòi hỏi hai nước cần đẩy mạnh kết nối hạ tầng, tăng cường liên kết doanh nghiệp và mở rộng hợp tác chuỗi giá trị để tương xứng với tầm vóc đối tác chiến lược toàn diện.

Bốn là, hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số.

Hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là lĩnh vực rất nhiều tiềm năng của hai nước. Thực tiễn 10 năm qua, hợp tác song phương trên lĩnh vực này đã có nhiều tiến triển tích cực. Việt Nam và Ấn Độ đã ký kết nhiều văn bản thỏa thuận hợp tác song phương về khoa học - công nghệ, chuyển đổi số.

Năm 2016, Việt Nam và Ấn Độ đã ký kết biên bản ghi nhớ về công nghệ thông tin. Hằng năm, Ủy ban hỗn hợp về khoa học - công nghệ của hai nước họp định kỳ để đánh giá tiến triển về hoạt động này. Dấu mốc đáng kể là chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ N. Modi (tháng 9-2016), hai bên đã ký kết 12 văn kiện hợp tác, trong đó có thỏa thuận về hợp tác thăm dò và sử dụng không gian vũ trụ vì mục đích hòa bình, hợp tác công nghệ thông tin, an ninh mạng, sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, thỏa thuận về xây dựng hạ tầng thông tin phục vụ đào tạo công nghệ thông tin chất lượng cao(22).

Tháng 3-2018, Cục Viễn thám quốc gia Việt Nam và Cơ quan nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ ký thỏa thuận hợp tác xây dựng dự án “Xây dựng Trạm dò tìm, tiếp nhận dữ liệu và Trung tâm xử lý dữ liệu ảnh vệ tinh”(23). Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam - Ấn Độ ký nhiều thỏa thuận hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác, Việt Nam - Ấn Độ đã triển khai thực hiện hiệu quả hợp tác trên các lĩnh vực: Trao đổi học tập và nghiên cứu khoa học - công nghệ, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ cao, hợp tác trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Hiện nay, Việt Nam - Ấn Độ cùng xác định khoa học - công nghệ là một trong những hướng đi chiến lược trong phát triển của hai nước. Trong chiến lược “Ấn Độ tự cường”, Ấn Độ đặt ưu tiên cho phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo(24). Việt Nam chủ trương đẩy mạnh, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội XIII, XIV của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” - bước mở chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển từ dựa vào lao động và vốn sang dựa vào trí tuệ và công nghệ.

Tổng thống Droupadi Murmu và Thủ tướng Narendra Modi đồng chủ trì Lễ đón trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp nhà nước tới Cộng hòa Ấn Độ, ngày 6-5-2026_Ảnh: TTXVN

Vì có chung mục đích phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững, nên hai nước có điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa nhiều thỏa thuận song phương trên lĩnh vực này. Chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 5 đến 7-5-2026 đã cùng lãnh đạo cao cấp Ấn Độ nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ đối tác chiến lược toàn diện lên đối tác chiến lược toàn diện tăng cường, nêu bật đột phá phát triển trong quan hệ song phương trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có các định hướng chiến lược thúc đẩy hợp tác, tạo ra đột phá trên các lĩnh vực tiềm năng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số(25). Ấn Độ là một trong bốn nước Việt Nam có tham tán, bí thư phụ trách khoa học - công nghệ (Pháp, Trung Quốc, Nga và Ấn Độ). Điều này cho thấy Việt Nam luôn chú trọng hợp tác khoa học - công nghệ với Ấn Độ. Những thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam - Ấn Độ về nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực khoa học - công nghệ trong chuyến thăm Ấn Độ của nguyên thủ quốc gia Việt Nam sẽ tạo nên khung khổ mới, đột phá mới về hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số giữa hai nước, giúp Việt Nam, Ấn Độ đứng vững trên trường quốc tế, tăng sức cạnh tranh về khoa học - công nghệ của Việt Nam và Ấn Độ trong khu vực và trên thế giới.

Năm là, hợp tác văn hóa - giáo dục.

Hợp tác văn hóa - giáo dục Việt Nam - Ấn Độ đóng vai trò như một “trụ cột mềm”, góp phần củng cố nền tảng xã hội và gia tăng sự bền vững của quan hệ song phương.

Thứ nhất, “cầu nối mềm” về văn hóa - tôn giáo. Trong 10 năm qua, giao lưu Phật giáo giữa Việt Nam và Ấn Độ rất phát triển. Các lãnh đạo cấp cao Việt Nam sang thăm Ấn Độ đã nhiều lần đến thăm đất Phật, các lãnh đạo Ấn Độ đến thăm Việt Nam luôn quan tâm đến Học viện Phật giáo Việt Nam, các trung tâm thờ tự, hoạt động Phật giáo ở Việt Nam, tham dự các đại lễ Vesak Liên hợp quốc tổ chức tại Việt Nam, các tổ chức Phật giáo hai nước luôn trao đổi, tìm các biện pháp, phương thức hoạt động tốt nhằm thúc đẩy hợp tác Phật giáo song phương.

Bên cạnh đó, dấu ấn của sự giao lưu, tiếp biến từ Ấn Độ giáo thể hiện trong những nét văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc của văn hóa Champa ở khu vực miền Trung và vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, điển hình là Thánh địa Mỹ Sơn và văn hóa Óc eo, làn điệu dân ca Nam Trung Bộ, chùa, nghi lễ, hoạt động văn hóa Chăm… Trên nền tảng cội nguồn giao lưu văn hóa Phật giáo và Ấn Độ giáo, hoạt động hợp tác, giao lưu văn hóa Việt Nam - Ấn Độ trong 10 năm qua được mở rộng trên các bình diện giao lưu nhân dân, cùng nhau tổ chức các sự kiện văn hóa, gia tăng chiều sâu bằng các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, truyền thông,…. Dấu ấn quan trọng là từ năm 2019, Trung tâm Văn hóa Ấn Độ Swami Vivekanda (SVCC) được thành lập tại Hà Nội, luôn tổ chức các sự kiện văn hóa mang đậm sắc thái Ấn Độ, tạo điều kiện cho hai nền văn hóa Việt Nam - Ấn Độ giao lưu, tiếp biến. Từ đó, củng cố niềm tin xã hội, hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế, an ninh, quốc phòng. Trong các tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ trong thập niên qua luôn nhấn mạnh hợp tác văn hóa - giáo dục, trong đó nhấn mạnh yếu tố giữ gìn, giao lưu, phát triển tôn giáo giữa hai nước. Điều này tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động giao lưu gắn kết văn hóa, tôn giáo giữa hai nước luôn phát triển.

Thứ hai, hợp tác giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học. Giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học là loại hình hoạt động hợp tác có chiều sâu, gắn với phát triển nguồn nhân lực. Trong 10 năm qua, Việt Nam - Ấn Độ đã thúc đẩy nhiều hợp tác, tập trung ở các hoạt động trao đổi sinh viên, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Các trung tâm giáo dục, các trường đại học của hai nước đã ký kết nhiều văn bản ghi nhớ, nhiều văn bản hợp tác, như: Bản ghi nhớ giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Đại học Nalanda trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Ấn Độ (tháng 5-2026). Trước đó, ngày 20-11-2018, nhân chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ R. N Kovind đến Việt Nam, bản ghi nhớ giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Đại học Jawaharlal Nehru được ký kết… Một số trường đại học Việt Nam và Ấn Độ ký nhiều văn bản hợp tác như: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với Đại học Nalanda Ấn Độ (tháng 6-2025), Đại học Quốc gia Hà Nội với các viện công nghệ hàng đầu Ấn Độ (tháng 9-2025) và nhiều văn bản hợp tác khác.

Hằng năm, Chính phủ Ấn Độ cung cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam theo các chương trình ITEC (Chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật), EEF (Chương trình trao đổi giáo dục), MGCSS’ (Kế hoạch hợp tác học thuật Mekong - sông Hằng). Các chương trình học bổng này được Việt Nam hưởng ứng thực hiện đạt nhiều kết quả khả quan. Giao lưu hợp tác tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế giữa Việt Nam - Ấn Độ cũng rất phát triển. Hàng trăm hội thảo khoa học về các chủ đề nghiên cứu về quan hệ song phương trên các bình diện: chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, quốc phòng - an ninh, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ đã được tổ chức tại Việt Nam và Ấn Độ. Hoạt động học thuật này đã thu hút nhiều chính khách, nhà nghiên cứu hai nước quan tâm trao đổi những nghiên cứu mới, đóng góp những luận cứ khoa học cho Chính phủ hai nước hoạch định chủ trương, chính sách phát triển.

Hợp tác nghiên cứu khoa học song phương trong lĩnh vực công nghệ, năng lượng nguyên tử bao gồm các lĩnh vực công nghệ thông tin, hóa chất, công nghệ y, sinh, sinh học, nông nghiệp, công nghệ vũ trụ,… được triển khai bài bản, từng bước tiến triển. Việc hợp tác về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được hai nước quan tâm thúc đẩy. Các hợp tác về công nghệ lõi, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng nguyên tử, đất hiếm, hóa dầu, năng lượng mới đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Thứ ba, giao lưu nhân dân ngày càng mở rộng. Trong 10 năm qua, Việt Nam và Ấn Độ đều coi giao lưu nhân dân là một bộ phận cấu thành của ngoại giao văn hóa. Hai nước thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu thanh niên, các đoàn nghiên cứu thực tế ở Việt Nam và Ấn Độ. Tổ chức “Tuần văn hóa Việt Nam tại Ấn Độ”, “Tuần văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam”. Tổ chức các hoạt động liên hoan hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ ở các bang của Ấn Độ và các tỉnh, thành phố của Việt Nam. Hội Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ cấp nhà nước và các chi hội các tỉnh, thành phố được mở rộng, thường xuyên tổ chức các hoat động giao lưu văn hóa, xúc tiến hoạt động du lịch. Những hoạt động trên tạo “cầu nối mềm” cho hợp tác chính trị, ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế - thương mại và khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phát triển.

Thượng tọa Thích Thanh Nhã, Trụ trì chùa Trấn Quốc giới thiệu với Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla về cây bồ đề trong chùa Trấn Quốc do Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad trao tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1959_Ảnh: TTXVN

Nâng tầm quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, biến động địa chính trị khu vực và thế giới nhiều căng thẳng, xung đột Nga - Ukraine, Mỹ, Israel - Iran phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung Quốc gia tăng, vai trò của Ấn Độ ngày càng nổi bật trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế giới đang trong tình trạng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, kinh tế số, AI, công nghệ cao trở thành động lực tăng trưởng mới; thách thức an ninh phi truyền thống phức tạp, an ninh năng lượng biến động lớn. Những yếu tố đó tạo cho kỷ nguyên mới đứng trước ba xu hướng lớn: (1) Cạnh tranh địa chính trị gia tăng giữa các cường quốc làm cho vai trò của Ấn Độ ngày càng nổi bật; (2) Kinh tế - công nghệ nhiều biến động, bùng nổ kinh tế số, chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển không ngừng; (3) An ninh phi truyền thống đa dạng, phức tạp hơn. Các xu hướng trên tạo ra cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ song cũng đặt ra những thách thức lớn đòi hỏi Việt Nam, Ấn Độ phải nâng cao năng lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia và linh hoạt thích ứng với mọi tình hình.

Chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 5 đến 7-5-2026 tạo dấu ấn để Việt Nam - Ấn Độ có bước đột phá trong quan hệ song phương.

Về chính trị - ngoại giao. Hai bên cần hiện thực hóa việc nâng tầm quan hệ song phương lên đối tác chiến lược toàn diện tăng cường trên tinh thần “chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất”, đưa hợp tác hai nước đi vào chiều sâu(26). Hai nước cần duy trì tiếp xúc cấp cao thường xuyên, xây dựng cơ chế đối thoại chiến lược sâu hơn, phối hợp tốt tại các diễn đàn đa phương, tăng cường tiếng nói chung, nâng cao vị thế hai nước.

Về quốc phòng - an ninh. Tăng cường hợp tác quốc phòng - an ninh bằng nhiều biện pháp, như mở rộng hợp tác hải quân, phát triển công nghiệp quốc phòng, tăng cường an ninh mạng,… Trên cơ sở đó bảo đảm tốt an ninh hàng hải; chuyển giao công nghệ quốc phòng, tăng cường tự chủ chiến lược và đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên số, bảo vệ chủ quyền không gian mạng.

Về kinh tế - thương mại. Cần đột phá trong hợp tác kinh tế bằng nhiều biện pháp, như thúc đẩy kết nối chuỗi cung ứng Việt Nam - Ấn Độ, mở rộng thương mại số, thương mại điện tử, đầu tư hai chiều vào các lĩnh vực then chốt. “Hợp tác sản phẩm được sâu rộng hơn; thúc đẩy trao đổi nông sản mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng của cả hai nước; cập nhật Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ tạo động lực mới cho thương mại và đầu tư giữa Ấn Độ với các quốc gia ASEAN; chú trọng ổn định chuỗi cung ứng và phát triển hạ tầng; những sáng kiến hợp tác mới trong lĩnh vực khoáng sản chiến lược, đất hiếm và năng lượng được kỳ vọng sẽ góp phần củng cố an ninh kinh tế cũng như nâng cao khả năng phục hồi chuỗi cung ứng của cả hai nước; ưu tiên tăng cường hợp tác giữa các tổ chức tài chính của cả hai bên”(27).

Về giáo dục, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo. Phát triển hợp tác giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, trọng tâm là hợp tác về AI, bán dẫn, chuyển đổi số, xây dựng trung tâm nghiên cứu chung ở các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp. Tăng cường hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trên các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, quản trị hiện đại.

Về giao lưu nhân dân. Đẩy mạnh giao lưu nhân dân, nhất là chú trọng du lịch hai chiều bằng việc mở thêm đường bay trực tiếp, đơn giản hóa thủ tục visa, khai thác hiệu quả các giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo (Phật giáo, Ấn Độ giáo); mở rộng, nâng cấp các hội hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ, Ấn Độ - Việt Nam; đổi mới các hoạt động giao lưu thanh niên, văn hóa - nghệ thuật. Trên cơ sở đó, tạo điều kiện tăng kết nối xã hội, tăng “sức mạnh mềm”, tạo thế hệ kết nối tương lai để phục vụ cho việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên tầm cao trong kỷ nguyên mới./.

-----------------------

(1) Xem: PGS, TS. Lê Văn Toan, GS.TS Jayachandra Reddy, TS. Nguyễn Thị Phương Thảo (đồng chủ biên): Hồ Chí Minh với Ấn Độ, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2019, tr. 33 - 38
(2) Nguyễn Huệ Chi: Suy nghĩ mới về “Nhật ký trong tù”, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1995, tr. 481
(3), (9) Ministry of External Affairs: India - Vietnam relations (tạm dịch: Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam), Government of India, 2016
(4) Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Ấn Độ về hòa bình, thịnh vượng và người dân, Báo điện tử Chính phủ, ngày 22-12-2020, https://baochinhphu.vn/tuyen-bo-tam-nhin-chung-viet-nam-an-do-ve-hoa-binh-thinh-vuong-va-nguoi-dan-102284732.htm
(5) Lê Dũng (tổng hợp): Việt Nam chính thức đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 4-11-2019, https://www.tapchicongsan.org.vn/gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-cua-dang/-/2018/815216/view_content
(6), (7) Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường, Báo Tuổi trẻ, ngày 7-5-2026, https://tuoitre.vn/tuyen-bo-chung-viet-nam-an-do-ve-quan-he-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-tang-cuong-2026050701250451.htm

(8) Pant H. V. (2019): India’s Indo - Pacific strategy: Regional dynamics and global implications (tạm dịch: Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Ấn Độ: Động lực khu vực và tác động toàn cầu), Observer Research Foundation (ORF)
(10) Nguyễn Hồng Quân: “Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam”, Báo Dân trí, ngày 23-3-2022, https://dantri.com.vn/tam-diem/chinh-sach-quoc-phong-bon-khong-cua-viet-nam-20220322234432331.htm
(11) Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Ấn Độ, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 2-8-2024, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/tuyen-bo-chung-ve-tang-cuong-quan-he-doi-tac-chien-luoc-giua-viet-nam-va-an-do-119240802063402399.htm
(12) Hồng Pha: “Hợp tác quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ không ngừng mở rộng”, Báo Tin tức TTXVN, ngày 23-4-2025, https://baotintuc.vn/thoi-su/hop-tac-quoc-phong-viet-nam-an-do-khong-ngung-mo-rong-20250423171743592.htm
(13) Trịnh Thị Hoa, Trần Thị Thảo: “Tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh Việt Nam - Ấn Độ xứng tầm “Đối tác chiến lược toàn diện””, Cổng thông tin Học viện Chính trị công an nhân dân, ngày 18-8-2025, https://hvctcand.bocongan.gov.vn/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-an-ninh-viet-nam-an-do-xung-tam-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-7805.8
(14) Thiếu tướng Vinod Anand: “Thành tựu hợp tác quốc phòng, an ninh giữa Ấn Độ và Việt Nam”, Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ, ngày 26-8-2022, https://cis.org.vn/thanh-tuu-hop-tac-quoc-phong-an-ninh-giua-an-do-va-viet-nam-phan-3-6862.html
(15) Thiếu tướng Vinod Anand: “Thành tựu hợp tác quốc phòng, an ninh giữa Ấn Độ và Việt Nam”, Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ, ngày 26-8-2022, https://cis.org.vn/thanh-tuu-hop-tac-quoc-phong-an-ninh-giua-an-do-va-viet-nam-phan-3-6862.html
(16) Mai Hà: “Việt Nam, Ấn Độ ký gói hỗ trợ tín dụng 500 triệu USD cho quốc phòng”, Báo Thanh niên, ngày 2-8-2024, https://thanhnien.vn/viet-nam-an-do-ky-goi-tin-dung-500-trieu-usd-cho-quoc-phong-185240802105210554.htm
(17) Ngọc Thúy, Quang Trung: “Việt - Ấn thúc đẩy hợp tác an ninh Biển Đông thông qua phát triển kinh tế biển xanh”, Báo điện tử VietnamPlus, ngày 12-3-2026, https://www.vietnamplus.vn/viet-an-thuc-day-hop-tac-an-ninh-bien-thong-qua-phat-trien-kinh-te-bien-xanh-post1098431.vnp
(18) Anh Thơ: “Đưa hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Ấn Độ sang giai đoạn mới”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 4-5-2026, https://baochinhphu.vn/dua-hop-tac-thuong-mai-dau-tu-viet-nam-an-do-sang-giai-doan-moi-102260504161753393.htm
(19) Quỳnh Vũ: “Báo chí quốc tế: Việt Nam - Ấn Độ nâng cấp quan hệ mở ra gian đoạn hợp tác mới”, Báo Đại biểu nhân dân, ngày 7-5-2026), https://daibieunhandan.vn/bao-chi-quoc-te-viet-nam-an-do-nang-cap-quan-he-mo-ra-giai-doan-hop-tac-moi-10416019.html
(20) Ngọc Châm: “Việt Nam - Ấn Độ tăng cường hợp tác năng lượng tái tạo và điện hạt nhân”, Tạp chí Công Thương, ngày 23-5-2025, https://tapchicongthuong.vn/viet-nam-an-do-tang-cuong-hop-tac-nang-luong-tai-tao-va-dien-hat-nhan-140764.htm
(21) “Ấn Độ quan tâm xúc tiến thành lập “Khu công nghiệp được phẩm tại Việt Nam”, Tạp chí Công Thương, ngày 1-8-2021, https://tapchicongthuong.vn/an-do-quan-tam-xuc-tien-thanh-lap--khu-cong-nghiep-duoc-pham--tai-viet-nam-82752.htm
(22) “Việt Nam, Ấn Độ ký kết Bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực CNTT”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày 5-9-2016, https://mst.gov.vn/viet-nam-an-do-ky-ket-ban-ghi-nho-ve-hop-tac-trong-linh-vuc-cntt-197132725.htm
(23) “Hai Thủ tướng Việt Nam và Ấn Độ hội đàm”, Thời báo Tài chính Việt Nam, ngày 25-1-2018, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hai-thu-tuong-viet-nam-va-an-do-hoi-dam-83036.html
(24) Xem: “Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Quá khứ, hiện tại và tương lai”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Việt Nam - Ấn Độ: 45 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm đối tác chiến lược”, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2017
(25) Duy Linh: “Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lên đường thăm cấp Nhà nước đến Ấn Độ”, Báo Tuổi trẻ, ngày 5-5-2026, https://tuoitre.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-len-duong-tham-cap-nha-nuoc-den-an-do-20260504220035591.htm
(26), (27) Hiền Hòa: “Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên tầm cao mới”, Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản, ngày 6-5-2026, https://dangcongsan.org.vn/tin-hoat-dong/nang-cap-quan-he-viet-nam-an-do-len-mot-tam-cao-moi.html